Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, April 17, 2025

Chùm ảnh HOA ĐÀO NĂM ẤY - Chu Vương Miện

 






READ MORE - Chùm ảnh HOA ĐÀO NĂM ẤY - Chu Vương Miện

NHƯ TÌNH EM ĐÃ SANG THU - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

Tranh Đặng Can


HUỲNH LIỄU NGẠN 

NHƯ TÌNH EM ĐÃ SANG THU

 

tay anh em cầm có chặt

để níu bóng đời về đâu

sợ lạc trên đồi hoang vắng

lạc đôi mắt màu cánh nâu

 

thuở nào lòng sông cạn dấu

một hạt bụi vừa đứt bâu

bảo rằng đừng nghiêng tóc rối

sẽ rơi đi phút ban đầu

 

rồi em bỏ về đường cũ

xa thêm con phố rộng dài

hai vai sầu chưa mở ngõ

nên lòng đóng cửa chờ ai

 

dẫu biết mùa thu đổi lá

như tình em đổi sang thu

đời dài nhưng mà qua vội

sao chờ chi cõi thâm u

 

lâu rồi anh chưa gặp lại

dễ chừng đã mấy mươi năm

biết tìm em đâu mà hỏi

từ hôm trăng đã hết rằm.

 

14.3.2025 

HUỲNH LIỄU NGẠN

READ MORE - NHƯ TÌNH EM ĐÃ SANG THU - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

ĐÊM NGHÊ THƯỜNG – thơ Lê Minh Hiền

 




Lê Minh Hiền 


ĐÊM NGHÊ THƯỜNG 


Đêm nay mưa về

vườn xưa trăng hồng 

hồn nhẹ như không

Quỳnh Hương thơm hương 

ngực trinh vai ngần 

ngồn ngộn thiên nhiên 

nõn nà trinh nguyên 

mây mưa một lần 

hai đầu cách ngăn 

biển xanh nối liền

cuối mùa hồn hoang 

hồn như mưa buồn

ngàn năm tiếc thương 

đêm nao nghê thường 

trăm năm cuối đường 

tơ lòng còn vương 

.

Đêm nay mưa về 

người ơi nghìn xa  

mây mưa mây mưa 

một lần... mù sa  

nhớ thương khôn cùng 

bao giờ phôi pha

mùa yêu ngày xưa


(10:10 sáng )

Stanton Litte Saigon California 2016 - Apr. 16th, 2025


Lê Minh Hiền 

lenguyenthu94@gmail.com


READ MORE - ĐÊM NGHÊ THƯỜNG – thơ Lê Minh Hiền

Wednesday, April 16, 2025

BÊN TÁCH TRÀ KHUYA - Thơ Mặc Phương Tử

 


BÊN TÁCH TRÀ KHUYA

                              tặng TT Tín, M Điền.


Một tách trà thơm những sớm chiều

Quanh vườn chim hót quyện hương yêu.

Gió lay bóng ngả bờ nhân ảnh,

Thanh thoát hồi chuông nhịp mõ đều.


Đêm ngắm vầng trăng chênh chếch bóng

Giữa miền áo luỵ mộng hoang tiêu.

Đâu hay nhịp gõ thời gian lặng,

Chợt ngắm về ta được ít nhiều.


Tâm sự cùng nhau bên quán trọ

Thời gian chầm chậm bể dâu tan.

Ngược xuôi giữa bến đời vô tận,

Còn mất hay đâu mộng võ vàng.


Ta rót mời ta câu đối ẩm

Trải lòng năm tháng bể hoang sầu.

Để nghe hiểu đời thêm nữa,

Năng lượng tình yêu thêm nhiệm mầu.


Khuya nay bên tách trà hương cũ

Giữa mảnh vườn con, một mảnh đời.

Tiếng chim xa vọng nghe thanh thoát,

Chạnh lòng viễn xứ nhớ xa xôi!


MẶC PHƯƠNG TỬ

tamminh2025@yahoo.com

READ MORE - BÊN TÁCH TRÀ KHUYA - Thơ Mặc Phương Tử

CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Hoa còn thơm mãi… / Tím màu luyến thương

 


Hoa còn thơm mãi…


Hoa cúc vàng trước ngõ

gió thu sang ngập ngừng

từng cánh hoa tươi xinh

lung linh trong nắng mới

 

Hoa cúc vàng phơi phới

hương tỏa khắp nơi nơi

mời chào bao cánh bướm

bay lượn vờn cành hoa

 

Hoa cúc vàng bên nhà

nết na ngày thu tới

đón đợi bao người qua

điệu đà khoe sắc thắm

 

Hoa cúc vàng đằm thắm

dịu dàng mà sâu thẳm

năm tháng dẫu đi qua

hoa em, còn thơm mãi…

 

             Đông Hà, 2021

                   

  


 

Tím màu luyến thương


Mười giờ tím biếc ban trưa

cành hoa mỏng mảnh, gió đưa khẽ khàng

hồn nhiên dưới nắng hanh vàng

hương hoa thơm ngát, nhẹ nhàng bay bay

 

Mười giờ tím biếc ban ngày

tím màu nhung nhớ, nồng say đất trời

đêm về rũ cánh lả lơi

nhưng hương còn mãi, nói lời thủy chung

 

Mười giờ tím biếc vô cùng

màu hoa quyến rũ, thùy dung dịu dàng

ban mai ngày mới vừa sang

hoa khoe hương sắc nắng vàng trời xanh

 

Mười giờ tím biếc tựa tranh

đẹp hơn tranh vẽ long lanh sắc màu

thương nhau chớ đợi ngày sau

lời hoa thủ thỉ, tím màu luyến thương…

 

                              Đông Hà, 2020

                              Nguyễn Văn Trình

                              nguyenvantrinh58@gmail.com

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Hoa còn thơm mãi… / Tím màu luyến thương

Tuesday, April 15, 2025

SÔNG KHÔNG ĐỢI BẾN - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

 



HUỲNH LIỄU NGẠN
SÔNG KHÔNG ĐỢI BẾN

miên man nắng dọi qua đèo
đường sông mấy nhánh hoa leo vào lòng
nhủ thầm đừng có mùa đông
kẻo lưng em đậy kín bưng tóc dài

ước nhìn thấy đôi bông tai
của miền trăng lạnh kề vai trễ tràng
để còn theo gió mơ màng
một vùng băng tuyết ngỡ ngàng dưới chân

nhịp khuya mấy ngọn rau tần
lên tay em mộng mị gần với xa
đường trần anh phải băng qua
dù sông dù suối cũng là nhà thôi

trăm năm hẹn lại kiếp người
mới mong gặp được đôi môi thuở nào
anh đi mở ngõ hé rào
tìm hương màu áo hồng đào ngày xưa

rồi về xin lỗi trời mưa
để nghe lại tiếng dạ thưa rất gần
tình đời anh bỏ sau lưng
để cho nhẹ bớt hồng trần cưu mang

chợt thèm níu lại đò ngang
cho em kịp nối tay choàng vào anh
chòng chành lên mấy đồi tranh
mắt em dính một màu xanh xa mờ

đời anh như có giấc mơ
thuở em mười sáu còn ngơ ngác nhìn
hương cau ai gởi làm tin
mà phai màu lá trầu vin trên cành

từ khi anh bỏ kinh thành
xuôi ra biển nên phải đành xa nhau
nước trôi về phía trời sâu
đã tan hết thuở ban đầu còn đâu

thôi em ở lại ngàn dâu
hai bờ cách một nhịp cầu vấn vương
anh đi rải gió bên đường
sông không đợi bến ai thương mà chờ.

12.4.2025
HUỲNH LIỄU NGẠN

READ MORE - SÔNG KHÔNG ĐỢI BẾN - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

Monday, April 14, 2025

NHÌN VỀ NGÀY PHẬT ĐẢN 2025 - PL 2569 - Mặc Phương Tử

 



NHÌN VỀ NGÀY PHẬT ĐẢN

2025 - PL 2569




    Đức Phật xuất hiện trên thế gian, đến với thế gian, cùng có mặt trong thế gian...  không gì khác hơn Ngài chỉ là bậc Đạo Sư hướng dẫn con người bằng một Thông Điệp đi trên đường hạnh phúc an vui, chấm dứt những đau khổ ngay trong kiếp sống hiện tại.


    Vườn Lâm Tì Ni là nguồn cội của Bình Đẵng - Từ Bi - Trí Tuệ. Và rằng:

    “Không có vai cấp trong dòng máu cùng đỏ, trong dòng nước mắt cùng mặn”, trong bối cảnh xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, và cũng như hiện nay.


    Điểm đặc thù qua lời dạy của Đức Phật là:  Sự tận diệt của mọi tội lỗi từ người đã "THẤY & BIẾT", chớ không phải từ người Không Thấy và Không Biết, bởi;

                              “Dễ làm các điều ác

                                Dễ làm các điều hại.

                                Còn các điều lành, điều tốt,

                                Thật tối thượng khó làm.”


    Ngoài ra, Đức Phật còn giúp con người luôn tư duy hướng về sự thật (chơn  lý), qua tinh thần lời dạy của Ngài đến với người dân Kalama... “Đừng tin tưởng khi nghe nói lại, những phong tục tập quán truyền thống, những lời đồn kinh sách truyền tụng.v.v... Nếu xét thấy không hợp lý tính giáo dục, đạo đức nhân tính...”


    Đức Phật còn quan tâm đến những mối quan hệ trong mọi hình thức xã hội như: Cha mẹ, Thầy trò, Chồng vợ, Anh em, Bạn bè, Chủ tớ, đến Tu sĩ và thế tục.



    Đức Phật cũng dạy về việc xây dựng cuộc sống khi có được tài sản trong gia đình như: “...Do công sức được tạo ra đúng pháp, thụ hưởng đúng pháp, phụng dưỡng cha mẹ, gia đình đúng pháp, biết giứp đỡ việc làm công ích xã hội (phước thiện), không bị mắc nợ điều gì... Không ác về LỜI, về THÂN và về TÂM Ý. Cốt để duy trì sự sồng an lạc, hạnh phúc, ích lợi lâu dài...”


    Đồng thời, Ngài còn trọng tâm giúp cho các hàng đệ tử muốn cần cầu pháp Vô thượng an ổn các triền ách, để chứng các Thánh quả ngay trong hiện tại. Như vậy, hầu hết và trước hết, Đức Phật giúp con người nhận thức sự nguy hại của những tội lỗi để không còn đau khổ, đuọc an vui, hạnh phúc lâu dài cho chúng sanh, chư thiên và loài người.


    Hướng về ngày Đức Phật thị hiện vào đời, là hướng đến các thiện pháp, các tịnh pháp, để tịnh hoá tâm hồn trong mỗi con người. Và cũng là nghĩa cử kính niệm đến BI ĐỨC, TỊNH ĐỨC và TUỆ ĐỨC của Đức Phật và chư Thánh đệ tử đã và đang hiện hoá vào đời.


    Vì rằng;

“...Nơi bất công,

Phật hiện thân Bình Đẵng,

Cõi tử sinh,

Diệu lý Phật vô sinh.

Trong Bi-Trí,

Phật xoá lòng cừu hận,

Trong đau thương,

Phật siêu hoa một Tình Thương.

Phật đâu toạ toà sen vàng ngất nghễu,

Trong lòng đời, lòng Phật vẫn mênh mông.”


Califonia, Westminster, 

Mùa Phật Đản 2569, 2025.

MẶC PHƯƠNG TỬ

tamminh2025@yahoo.com



                    


READ MORE - NHÌN VỀ NGÀY PHẬT ĐẢN 2025 - PL 2569 - Mặc Phương Tử

THẬP TỰ MỌC NHÁNH KHÔ - Thơ Jos Nhật Quang

  

 

Nhà thơ Jos Nhật Quang

 

THẬP TỰ MỌC NHÁNH KHÔ

  

Thập tự cằn cỗi trên đồi hoang

từng cơn gió hú lạnh lùng qua vết nứt thời gian

chẳng còn ai nữa quỳ gối dưới chân Ngài

những rễ khô  vươn lên ôm thân gỗ mục

 

Đêm hoang vu buông ánh trăng gầy

Thập tự đứng lăng im

chỉ còn lời gió hát

bài Thánh ca đau thương trên thân gỗ đã bạc màu

  

Tiếng chuông nhà thờ đã chìm sâu vào giấc ngủ

để lại những khoảng trống

đầy vết bụi thời gian

những giọt nước mắt hòa chung dòng máu Thánh nơi đây

giờ chỉ còn rêu xanh phủ kín

mọc từ vết thương xưa

  

Thập tự còn đứng đó

dẫu đã mọc nhánh khô

vẫn lặng lẽ ôm nhân gian vào lòng

ngày tháng qua như cơn mưa hồng phúc

đọng lại nơi chân đồi một niềm tin. 

 

                                Jos Nhật Quang

                                 nhatquang18@gmail.com

READ MORE - THẬP TỰ MỌC NHÁNH KHÔ - Thơ Jos Nhật Quang

ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch




VÀI LỜI PHI LỘ:

Đại lão hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, người mà bất ký tôn giáo nào cũng kính phục. Ngài viên tịch, để lại vô vàn nỗi niềm thương tiếc cho những ai biết đạo lý làm người. Chúng tôi không phải là nhà phê bình thơ, không phải là người có học, không phải là người Phật tử, chỉ là người yêu thơ. Bởi kính trọng nhân cách làm Người của ngài và nhân cách thơ của ngài, chúng tôi rung động đặc biệt với 7 bài thơ của ngài, nên viết cảm nhận về 7 bài thơ ấy. Đó là những bài thơ:
- Khung Trời Cũ -Mưa Cao Nguyên -Hận Thu Cao -Ác Mộng -Bài Thơ Cuối Cùng - Loạn Thị -Tống Biệt Hành.
Hôm nay mời quý vị đọc cảm nhận bài thơ “Loạn Thị”. Mong góp cho đời chút hương vị thi ca. Trân trọng!
                      Châu Thạch
 
LOẠN THỊ
 
Cắt gân máu chiêm bao quỉ hiện
Ai làm gì bên chiếc ghế mây
Vách tường trắng bàn tay năm ngón
Một bông hồng năm cánh đang xoay
Chồng gối cao không thấy mặt trời
Trên khung cửa con chim thắt cổ
Đàn kiến bò hạt cát đang rơi
Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa
                                         Tuệ Sỹ
 
ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ 
                                                               Châu Thạch
 
Loạn thị là gì? Loạn thị (Astigmatism) là tật khúc xạ ở mắt do giác mạc ghi nhận những hình dạng khác thường so với hình thực tế… Những tia sáng khi đi vào mắt thay vì hội tụ lại một điểm lại bị khuếch tán trên võng mạc, khiến hình ảnh thu được có hình dạng méo mó và nhoè. Bài thơ trên đây tuy lấy tựa đề là “Loạn Thị” nhưng ta không thấy gì là loạn thị như định nghĩa ở trên mà có vẻ như là tác giả đang bị rối loại tâm thần nên cái nhìn thấy toàn ảo giác
 
Rối loạn tâm thần là bệnh gây ra những nhận thức cùng suy nghĩ lệch lạc, đặc trưng bởi triệu chứng ảo giác và ảo tưởng. Trong đó, ảo giác là người bệnh thấy những hình ảnh hoặc nghe được âm thanh không có thật. Có rất nhiều dạng rối loạn tâm thần gây ra nhiều triệu chứng khác nhau, cũng không có biện pháp chắc chắn nào để ngăn ngừa các căn bệnh này một cách hoàn toàn.
 
Nhà thơ Tuệ Sỹ là một thiền sư đức cao trọng vọng, ngài có tinh thần thép được minh chứng qua những năm tù tội nhưng vẫn tỉnh táo, được người Phật tử tôn vinh là đại trí đại bi, như thế việc nói ngài bị rối loạn tâm thần thì không thể có.
Vậy bài thơ “Loạn Thị” chắc chắc là một bài thơ có ý nghĩa sâu xa siêu việt.
 
Chưa thấy một nhà phê bình văn học hay một học giả nào đề cập đến bài thơ nầy. Châu Thạch tôi mạo muội viết những cảm nhận về bài thơ nầy chỉ theo cảm quan hẹp hòi và thiển cận của mình. Kính mong qúy vị, đọc và xem như câu chuyện mạn đàm để tưởng nhớ một vị thầy đáng kính của nhân gian, vì khó ai hiểu được bài thơ nầy cho tường tận, nhưng trong đáy lòng, ai cũng biết bài thơ nầy là “Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu”.
 
Đọc câu thơ đầu tiên : “Cắt gân máu chiêm bao quỷ hiện”:

Sách vở đề cập đến nhà thơ Tuệ Sỹ tuyệt thực nhiều ngày nhưng không có ai nói đến ngài cắt gân máu mình mà tự tử.
Trong Phật giáo người tự sát phạm vào 3 tội nặng:
1 - bất hiếu với song thân.
2 – phụ bạc phúc báu có được thân người.
3- ngu si, vô tri, làm cho thần thức chìm trong thống khổ triền miên.
Vậy Tuệ Sỹ là một vị thượng tọa, ai cũng biết ngài có gan đội đá vá trời, bị kết án tử hình, nhà nước biểu viết đơn xin tha mới trả tự do nhưng ngài không viết, thì ngài không cắt gân máu mình để chết vô ích bao giờ. Như thế ta có thể hiểu câu thơ “Cắt gân máu chiêm bao quỷ hiện” chỉ nằm trong một giấc chiêm bao nào đó của ngài Tuệ Sỹ mà thôi.
 
Câu thơ thứ 2 “Ai làm gì bên chiếc ghế mây”:

Nhà thơ thấy một người loay hoay đang làm gì bên chiếc ghế mây. Trong cơn mơ mình thấy mình rất hay xảy ra với mọi người. Đọc câu thơ nầy ta có thể hiểu ngài Tuệ Sỹ thấy chính phách của ngài trong một trạng thái chăm chỉ vào một công việc nào đó. Ta có thể tưởng tuợng nhà thơ mơ thấy mình đang đan một chiến ghế mây, là đang tạo hình một đồ vật, đồ vật đó bằng mây, mây mang hình ảnh có sức chịu đựng dẻo dai bền bỉ. Với Tuệ Sỹ có thể hiểu là ngài đang chiêm bao thấy hình ảnh của ngài kham nhẩn tu tập và đấu tranh cho công bằng xã hội, cho đất nước quê hương.
 
Câu thơ thứ 3 và thứ 4 “Vách tường trắng bàn tay năm ngón/ Một bông hồng năm cánh đang xoay”:

Hai câu thơ nầy có thể hiểu nhà thơ Tuê Sỹ chiêm bao thấy có một bàn tay như đóa hoa hồng 5 cánh đang xoay trên vách tường. Bàn tay mang nhiều biểu tượng cảm xúc tùy theo hình ảnh của nó. Bàn tay mở ra, bàn tay đưa cao, bàn tay úp lại đều có ý nghĩa khác nhau. Bàn tay đang xoay tượng trưng cho sự vận hành của một công việc hay một lý tưởng. Bàn tay đang xoay lại là một bàn tay giống đóa hoa hồng 5 cánh thì ta có thể hiểu nó tượng trưng cho một tình yêu đang vận hành. Tuệ Sỹ là một nhà sư, còn là một nhà ái quốc, vậy ngài mơ thấy bàn tay như đóa hoa hồng đang xoay là mơ thấy lý tưởng của chính ngài đang thực hiện, đang ấp ủ trong lòng mình.
 
Qua hai câu thơ thứ 5 và thứ 6 “Chồng gối cao không thấy mặt trời/Trên khung cửa con chim thắt cổ”:

Hai câu thơ nầy đối chọi nhau. Nhà thơ thấy một hiện tượng rất to lớn xảy ra. Đó là hiện tượng những chiếc gối chồng lên nhau che cả mặt trời, và hiện tượng một con chim nhỏ bị thắt cổ nằm trên khung cửa. Chồng gối che khuất mặt trời là hình ảnh của những khó khăn, nghịch cảnh, bất công làm che đi mặt trời công lý. Con chim bị thắt cổ là thân phận bé nhỏ của chính ngài, bị bóp chết tình thương yêu tha nhân và ái quốc của mình, như con chim kia không được bay vào không gian mà đem thắt cổ nó trên khung cửa, khung cửa là nơi chỉ nhìn thấy bầu trời tự do mà mơ ước.
 
Hai câu thơ cuối cùng, nhà thơ mang niềm hy vọng cho lý tưởng và cho dự phóng tương lại: “Đàn kiến bò hạt cát đang rơi /Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa”:

Đàn kiến đang bò tượng trưng cho hệ sinh thái môi trường không tốt, vừa tượng trưng cho sự đoàn kết, kiên trì, đấu tranh cho cuộc sống. Hạt cát tượng trưng sự nhỏ bé nhưng cứng cỏi và bền bỉ giữa sự vô thường của chuyển dịch trong đời mà cát phải gánh chịu. Nhà thơ Tuệ Sỹ cuối cùng không còn loạn thị nữa, ngài đã hiểu ý nghĩa giấc chiêm bao của mình, và ngài nhắm mắt trầm ngâm trong ánh lửa, để thấy ánh sáng cuối chân trời là sự thành công của đàn kiến về tổ, nhờ nó kiên trì và cứng cỏi như hạt cát kia, hay đúng ra, nhà thơ hy vọng một tương lai tốt đẹp cho dự phóng của mình:
 
Đàn kiến bò hạt cát đang rơi
Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa
 
“Loạn Thị” là một bài thơ được sáng tạo thuần túy tâm linh, đọc nó ta cảm nhận được hình ảnh chói lòa của giấc mơ, nó làm ta rợn người như thấy ma quái, nhưng nó có thể đưa ta qua nhiều tâm trạng lo sợ, buồn đau, uất ức, suy tư và hy vọng xa vời. Đây là một bài thơ chất chứa nỗi lòng của một bậc hiền sĩ mang chí lớn, đang vùng vẩy trong thân phận bị quản thúc, tù đày, buồn tê tái. Đọc bài thơ dễ làm cho con tim ta quặn thắt, đồng cảm với giấc chiêm bao như cắt gân máu thấy quỷ hiện ra của ngài Tuệ Sỹ.
                                                                                                               Châu Thạch
READ MORE - ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch

Saturday, April 12, 2025

Thursday, April 10, 2025

CHỚM XUÂN NƠI MIỀN ĐẤT LẠNH - Thơ Trần Đức Phổ

 

Nhà thơ Trần Đức Phổ


Chớm Xuân Nơi Miền Đất Lạnh

 

Tháng Tư mùa xuân trở lại

Nắng vàng trải lụa trước sân

Cỏ non xanh màu lá mạ

Thay cho màu tuyết trắng ngần

 

Dòng sông nước đầy ăm ắp

Cuồn cuộn ráng chiều phù sa

Đôi bờ vạt hoa xuyên tuyết

Vượt lên đón gió đong đưa

 

Cành phong ngập ngừng mấy búp,

Xoe tròn chim sẻ mắt nâu

Dường như chúng đang ngây ngất

Sắc hoa rực rỡ anh đào

 

Tầng không vòm trời xanh biếc

Trong veo chẳng gợn hơi sương

Từng đàn ngỗng trời háo hức,

Gọi nhau trở về cố hương

 

Bên hiên một người xa xứ

Đăm đăm ngó cánh chim bay,

Cúi đầu lặng im không nói

Bụi rơi vào mắt cay cay.

 

April 3, 2025

tranducpho

READ MORE - CHỚM XUÂN NƠI MIỀN ĐẤT LẠNH - Thơ Trần Đức Phổ

ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ HAI CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà



ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ HAI CỦA HOÀNG UYỂN VĂN


Hoàng Uyển Văn tên thật là Nguyễn Văn Hòa, ông sinh năm 1956 tại Phú Nhơn (xưa) Thành Nội Huế, trưởng thành tại Phú Yên, hiện sinh sống làm việc tại Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh. Tác phẩm đã xuất bản: Qua mùa khói chênh vênh (Nxb Thuận Hóa tháng 8/2024). Cuối năm 2024, ông gửi cho tôi bản thảo chuẩn bị in tác phẩm mới có tựa đề: Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em, dự kiến xuất bản vào tháng 3/2025.

Ông làm thơ cách đây mấy chục năm rồi (theo ngày tháng ghi sau một số bài thơ) Tuy nhiên mãi đến năm 2024, ông mới nhờ nhà thơ Võ Thị Như Mai tập hợp biên tập, viết lời tựa và in ấn tập thơ đầu tiên Qua mùa khói chênh vênh dày hơn 200 trang. Ấn phẩm xinh xắn, nội dung phong phú với nhiều bài thơ chất lượng. Và bây giờ tập thơ thứ hai, tác giả lấy tên một bài thơ tâm đắc để đặt tựa cho tập thơ Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em. Tập thơ này cũng dày hơn 200 trang với nhiều bài thơ hay. 

Tôi gặp ông vào dịp ra mắt sách “Giá để ngày ấy em chờ” của Nhịp Điệu Việt. Gương mặt hiền, tuy tuổi đã lớn nhưng vẫn nhanh nhẹn, từng trải, dấu vết của thời gian và những thăng trầm của cuộc sống cũng đọng lại trên khuôn mặt, mái tóc điểm sương và những vần thơ đầy xúc cảm. 

Tập thơ Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em chiếm đa số là những bài thơ tình. Đặc biệt thơ tình buồn của mất mát chia ly nhưng lời thơ vẫn thiết tha, say đắm. Giọng thơ nhẹ nhàng đằm thắm mà không kém phầm ngọt ngào và lãng mạn.

“Ta về gom lại chiêm bao/ Nghe dư âm cũ mời chào ngày trôi/ Mùa yêu đã cũ bên trời/ Còn ta lãng đãng bóng người qua hiên” (Còn đây ta với dư âm cùng người). 

Tình đã qua, mùa yêu đã cũ, ta vẫn còn đứng lại với chiêm bao, với “bóng người qua hiên” với dư âm ngày cũ. 

Thi nhân luôn sống khiêm tốn, ẩn mình một cách lặng lẽ, yêu âm thầm, dẫu biết rằng quy luật khó tránh khỏi: hợp rồi tan: “Ta giấu mình đêm trong vỏ ốc/ Nghe khuya đồng vọng tiếng muôn trùng/ Chờ mỏi đàn chim di viễn mộng/ Đem về cho một nhánh mây tan...”

Yêu và chia tay trong lặng lẽ, thơ cũng nhẹ nhàng dẫu tình ly tan cũng day dứt lắm nhưng giọng thơ hiền như chính cho người thi nhân, không vồ vập, cuồng nộ, không gào thét, cũng không quay quắt tiếc nuối.

Cho dẫu viết thơ tình thời hiện đại, viết về tình yêu đôi lứa thi nhân không cần phải đặt nặng về nhục cảm, cồn cào da thịt hay bão liệt đường yêu. Giây phút bên nhau cũng chỉ là mùi hương tóc bên gối, nụ tình ngày xuân. “Anh sẽ về, nghe hương tóc em/ Để tìm trong suối tóc hương đêm / Để nghe thương nhớ vùi thương nhớ/ Một thuở tình xanh xưa ngỡ quên”(Anh sẽ về). “Trăng tà nguyệt tận mù sương/Ta về đắm giữa hoang đường môi em" (Nguyệt tận) 

Nhẹ nhàng vậy thôi nhưng thấm, cái thấm của hương gây mùi nhớ. Mùi hương tóc của người thương, đeo đẳng trong suốt cả một đời thi nhân. Khi có nhau, tình xuân là bất biến, là mãi mãi lưu giữ trong tim. Những giây phút bên nhau là những giây phút sẽ đi vào vĩnh cữu: “Bao mùa cũ xa trôi/ Chỉ mùa yêu dừng lại/ Khi ta có nhau rồi/Tình xuân là mãi mãi” (Tình xuân)

Khi buộc phải chia biệt thì cũng thi nhân cũng biết chấp nhận cái sự lỡ làng của duyên phận. Tình tan dẫu thoáng nhẹ hều trên câu chữ nhưng dư âm thì vẫn lắng vào thơ có khi đeo đẳng cả một đời, không thể phôi phai. “Vòng tay em khép mùa thu lại/ Bờ bãi hồn tôi ngập lá vàng /Rồi từng thu đến, từng thu chết/ Lá vàng tôi khóc gió thu sang” (Dấu thu). 

Người làm thơ chuyên nghiệp nói chung và Hoàng Uyển Văn nói riêng có một hồn thơ tình da diết lãng mạn nhưng buồn và cô đơn. Một mình đối diện với chính mình và có lẽ trong tận cùng cô đơn người ta mới có thể viết nên những vần thơ hay, mới chạm tới con tim của giới mộ điệu thơ tình: 

“Hồn ta sỏi đá nghìn năm tuổi/Thơ ấu bao giờ dưới gót em/ Xin bước em về mưa phố núi/ Xanh lại rong rêu mấy bậc thềm” (Xin bước em về) 

Hoàng Uyển Văn làm thơ cho mẹ, cho người thân tuy không nhiều như số lượng thơ tình nhưng những vần thơ dành cho mẹ là những vần thơ hàm súc, giàu ý nghĩa của đứa con hiếu thảo với một niềm hiếu kính thiêng liêng. Thơ nói lên nỗi vất vả gian truân của mẹ qua hình tượng “thân cò”, “đôi vai”, cô động mà đủ ý: “Mẹ dồn cả tuổi thanh xuân/ Thân cò trĩu nặng những gian truân đời/ Đôi vai Mẹ gánh cả trời/ Gánh cả một đời, nuôi lớn khôn con...” (Đôi vai)

Đời người là hữu hạn, thoáng đó, mất đó nhất là trong chiến tranh. Khi đứng trước nghĩa trang chiều hiu quạnh người thơ động lòng trắc ẩn, rung lên những tiếng nấc buồn trong thơ: khóc cho người vắn số, khóc cho kiếp người hữu hạn và khóc cho chiến cuộc điêu linh: “Anh nằm xuống, mộ phần đau ngọn cỏ/ chiều nghĩa trang buồn nghiêng đổ xuống thiên thu/ giờ tìm đâu pho tượng tạc thân anh/ để khóc nhớ bơ vơ từng phần mộ lạc” (Khóc những hoang mồ không một nén hương).
     Tôi chỉ gặp ông có một, hai lần trong dịp ra mắt sự kiện sách của Nhịp Điệu Việt và họp mặt nhóm nhỏ của bạn bè Như Mai. Qua thơ cho thấy ông là một người thích đọc thơ, mê thơ. Ông kể từ hồi lớp 11 đã đọc và hâm mộ các nhà thơ tiền bối vì lẽ đó trong thơ đã có sự kế thừa và ảnh hưởng hơi thơ của các nhà thơ tên tuổi trên thi đàn như Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê… và có ảnh hưởng cả chất ca dao. Tuy nhiên Hoàng Uyển Văn vẫn tạo ra giọng thơ cho mình qua cảm quan nghệ thuật trước cảnh vật, tâm trạng đầy sáng tạo. Thơ phản ảnh cuộc sống ở thời đại mình đang sống và gửi gắm nỗi niềm của mình với bạn đọc theo cách riêng của nhà thơ.

Ảnh hưởng của cố thi sĩ Hàn Mặc Tử và thi ca cổ điển khi ông có cảm hứng nghệ thuật về trăng. Dĩ nhiên trăng không có muôn mặt như trăng Hàn thi sĩ hoặc nhìn vẻ đẹp của trăng để ngâm hoa vịnh nguyệt như thơ cổ điển. Vầng trăng của ông đơn giản đôi khi là bạn hay đóng vai một tình nhân. Thi nhân cũng có cuộc tình với trăng và khi tỉnh dậy thì trăng đã vuột mất, có tiếc nuối, nhưng niềm tiếc nuối nhẹ nhàng không dằn vặt đớn đau. “Đêm qua ôm trăng ngủ/ Tỉnh mộng, trăng đi rồi/ Biết nơi nào trăng náu/ Mà gọi trăng về chơi” (Vầng trăng qua đời) 

Đọc thơ của Hoàng Uyển Văn chúng ta thấy một người thơ phong trần, lãng tử với hồn thơ lãng mạn và yêu thơ đến kiệt cùng. Trong thơ hiện ra một thi nhân với cõi lòng luôn cô đơn, trống vắng, cuộc sống thanh đạm với bút pháp thơ trữ tình. Phần lớn là thơ tình buồn. Có thể ngoài đời ở nơi xa vẫn có một mái ấm gia đình. Ông cũng đã chăm lo cho con cái học hành trưởng thành. Khi bước vào tuổi bên kia triền dốc của cuộc đời, ông với dáng người hơi gầy, vẫn nhanh nhẹn, vẫn đi làm xa nhà hàng trăm cây số, có khi cả năm mới về thăm nhà một lần. Ông bảo: “Làm để nuôi thơ”. Thi nhân nuôi thơ chứ thơ chưa nuôi ông. Đi làm để thấy mình còn khỏe mạnh, mình còn có ích cho đời. Các cụm từ phản ánh cuộc sống phong trần gió bụi, tâm trạng buồn và chất ngất nhớ nhung: Hồn cô lữ, trắng đôi tay, giang hồ sông nước, biệt ly, giọt sầu, “Sân ga tôi cũng làm phiêu bạt/ Mượn lá thu vàng gói nhớ nhung”. Có lẽ nhờ vậy thi nhân mới vắt ra những vần thơ hay từ cuộc sống của mình. 

“Thôi nhé! Từ nay...Thôi từ nay/ Giang hồ sông nước đã bao ngày/ Vẫn nghe giá buốt hồn cô lữ/ Khói thuốc hoài hương gió thoảng bay” (Chút gió ngậm ngùi) 

Về hình thức trình bày: Tác giả Hoàng Uyển Văn diễn đạt nỗi niềm qua các thể thơ: Thơ lục bát, thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ tự do với những câu thơ dài ngắn khác nhau, có khi chỉ là câu hai hoặc ba, bốn từ, thơ có vần và thơ không vần,…Thơ hay là thơ xuất phát từ cảm xúc chân thành dĩ nhiên thông qua kỹ thuật và ngôn từ nhưng yếu tố nội dung vẫn là quan trọng nhất. Có lẽ đối với phần lớn độc giả, những bài thơ cố gắng gò theo một trật tự nào đó có tính cầu kỳ và khiên cưỡng của hình thức không thuyết phục tôi và nhiều bạn đọc khác bằng cách viết tự nhiên bằng chính cảm xúc của mình, dĩ nhiên muốn có thơ hay còn phải tùy thuộc vào tài năng của người làm thơ. Thơ Hoàng Uyển Văn phong phú về hình thức diễn đạt bằng nhiều thể loại. Nhưng ấn tượng với tôi hơn cả là những vần thơ bảy chữ, thơ năm chữ và thơ lục bát. Ở ba thể loại này ông có những bài thơ hay, những câu thơ hay: “Hồn ta sỏi đá nghìn năm tuổi/ Thơ ấu bao giờ dưới gót em/ Xin bước em về mưa phố núi/ Xanh lại rong rêu mấy bậc thềm” (Xin bước em về)          

“Dấu chân ta vẫn dã tràng/ Biển và em vẫn mênh mang vô thường/ Trăng tà nguyệt tận mù sương/ Ta về đắm giữa hoang đường môi em” (Nguyệt tận) 

“Thế rồi người đi mãi

Tôi cũng vào lênh đênh

Thuyền xưa không bến đỗ

Dòng sông buồn chênh vênh”.

(Hạ ơi) 

Thơ Hoàng Uyển Văn cũng phảng phất hơi hướng Nguyễn Bính. Khi ông nói về cô liêu, nỗi buồn, sự cô đơn của thân lang bạt rày đây mai đó, có cảnh thanh bần của thi sĩ và có cả những cuộc tình không trọn vẹn. “Lòng ta hôm ấy đi đâu vắng”. Thơ ông cũng có nhiều ẩn dụ, tác giả nói với trăng, hay nói với bạn đọc, lời dặn dò cho mai sau bởi biết đời người là hữu hạn, vầng trăng (nhân vật trữ tình dùng để đối thoại, bày tỏ nỗi niềm). Vầng trăng, vũ trụ thì vô biên, bạn đọc thế hệ này có thể tiếp nối thế hệ khác còn thi nhân thì đến một lúc nào đó cũng phải “về” thôi. Về là đi vào viên miễn. Lời dặn, cũng là lời chào với trăng với bạn đọc và hậu thế.  Những câu thơ sau gieo vào lòng người đọc một chút chơi vơi, ưu tư, chiêm nghiệm, một chút bùi ngùi và rất nhiều xúc cảm. 

“Đã trót quen chân lữ khách rồi/ Một đời ở trọ với mây trôi/ Dăm cuộc chia tay hình bóng cũ/ Rồi nhớ, rồi quên...Những kiếp người/ Cứ thế tôi đi giữa cuộc đời/Dại khờ như một nhánh rong trôi/ Bàn tay vẫn trắng câu thành bại” (Vầng trăng ở lại).

Có thể nói ở tập thơ này Hoàng Uyển Văn đã gửi gắm những cảm xúc chân thành. Bao nỗi vui buồn về tình yêu hạnh phúc hay cách xa chia biệt đầy suy ngẫm, chiêm nghiệm qua lăng kính nhà thơ. Cảm xúc dạt dào của nhà thơ gửi vào câu chữ ở tập thơ trước đã để lại ấn tượng khó quên với không ít bạn yêu thơ. Tập thơ thứ hai Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em, lần nữa chứng tỏ Hoàng Uyển Văn là một nhà thơ tràn đầy nguồn cảm xúc. Ông sử dụng thành thục các thể thơ từ lục bát truyền thống cho đến các thể thơ mới, thơ tự do. Thơ giàu nhạc tính, diễn tả tâm trạng, cảm xúc đậm đà, tinh tế và giàu hình ảnh. Ngôn từ bình dị có giá trị biểu đạt và dễ hiểu. Từ ngữ được chọn lọc thích hợp để gieo vần, tạo nên những vần thơ mượt mà trau chuốt, cô đọng, tinh tế. Thơ về tình yêu, tình đời với những sắc thái tình cảm và cách diễn đạt phong phú dễ đi vào lòng người! 

Hi vọng tác phẩm của nhà thơ Hoàng Uyển Văn đóng góp thêm một giọng thơ giàu âm hưởng trữ tình. Bạn đọc chờ được khám phá vẻ đẹp của tập thơ mới trong thời gian sớm nhất của quý 1/ 2025 với những bài thơ giàu cảm xúc và ý nghĩa.


     Sài Gòn, ngày 4/02/2025.

Hoàng Thị Bích Hà   

        habich1963@gmail.com




READ MORE - ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ HAI CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà