Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, April 18, 2025

XÓM CỔNG QUÊ NGOẠI CÒN ĐÓ MÀ ĐÃ MÙ SA! - Tản văn Lê Minh Hiền

 



XÓM CỔNG QUÊ NGOẠI CÒN ĐÓ MÀ ĐÃ MÙ SA!

Tản văn Lê Minh Hiền

                                         

    Chiều chiều ra đứng ngõ sau                                                   

    Trông về quê Ngoại ruột đau chín chiều... (Ca dao)


    Tôi có rất nhiều kỉ niệm đẹp về quê Ngoại. Tôi sinh ra, sống những ngày tháng khởi sự đầu đời ở Xóm Cổng, Quê Ngoại. Quê Ngoại tôi thanh bình lắm! Và những kỷ niệm một thuở thơ ngây ở Quê Ngoại... cơ  hồ đâu đây vừa mơ hồ vừa hiển hiện trong tôi những hình ảnh thương yêu càng ngày càng lắc càng đầy trên con đường dài lần của một đời người... Hơn ba mươi năm xa xứ với hai lần trở về Việt Nam, vỏn vẹn trước sau vài chục ngày, và có ghé về Quê Ngoại đôi lần. Những tháng năm dài sinh sống ở xứ người vừa khác tiếng nói, khác màu da, khác sinh hoạt văn hóa khởi đi từ lúc còn lạ nước lạ cái đến hôm nay với một khoảng thời gian dài như vậy quá đủ lâu để nên cố quận. Nhưng những ký ức cái thuở ngày xưa còn bé thơ ấy ở Quê Ngoại ngày càng vừa vời vợi mù sa vừa rõ ràng hơn bao giờ trong tâm hồn tôi. Và cái cảnh thanh bình ấy mỗi khi nhớ về, tôi lắng nghe tiếng lòng mình rung lên những xao động dễ thương lạ thường. 

.

    Quê Ngoại tôi mang một cái tên thật mộc mạc là Xóm Cổng. Đi ngược hướng biển thành phố Qui Nhơn ra ngoại ô khoảng vài dặm, vừa qua khỏi chân Cầu Đôi, ngay bên phải là một con đê ngoằn ngoèo dẫn về ngang qua Xóm Cổng. Xóm Cổng nhỏ bé vài chục nóc nhà nằm bên phải con đê như một cái cù lao nhỏ. Nhà Ngoại ở đầu xóm ngay sát bên chân con đê. Xóm Cổng quanh năm nằm nghe lũ gió từ ngoài sông chạy vào xóm nhỏ, ghé vào sân nhà Ngoại vừa ồn ào trong yên bình như chơi trò trốn tìm cả ngày lẫn đêm trên những tàu lá dừa lao xao. Những cây dừa có những buồng dừa nặng trái có màu vàng đỏ như màu trái dừa xiêm nhưng to như dừa thường. Có lẽ đây là giống dừa thường lai xiêm chăng! Vì vậy mà nước dừa nhà Ngoại tôi vừa nhiều nước vừa có mùi thơm mát, có vị ngọt thanh tôi chưa từng gặp lại ở bất kỳ ở nơi nào khác! Ký ức về lũ gió trên những tàu dừa trong sân nhà Ngoại tôi ngày nào tôi mang theo cả đời mình! Hồi mới qua định cư ở Mỹ, ngày cuối tuần Ba tôi, người bảo lãnh cả nhà qua Mỹ, hay lấy xe hơi chở cả nhà xuống biển Huntington Beach chơi. Đi trên bãi cát trắng biển xanh ngay giữa nắng vàng đầu hè nghe gió biển lạnh buốt lại càng gợi tôi nhớ tới những cơn gió nồm miền sông nước Quê Ngoại lạ thường! Những thoáng nhớ ấy tôi mơ hồ nghe hồn mình sao lạc lõng khôn cùng nơi quê người cách xa Quê Ngoại nửa vòng trái đất bên kia đầu bờ biển Thái Bình Dương!

.

    Nhớ rõ làm sao như hôm qua trong tôi, những ngày xưa tôi còn bé xíu ở nhà Ngọai. Yêu làm sao những xế chiều về, Dì Út Tám tôi trải chiếu trước hè cho tôi nằm chơi. Còn Dì thì ngồi cạnh đan lưới đánh cá. Hạ vàng ươm mật, và gió ngoài sông thổi vào mát rượi. Và cứ vậy những cơn gió nồm yên ả thầm thì ru tôi vào giấc ngủ lúc nào không hay. Đến khi tôi thức giấc thì đêm đã khuya rồi. Ngoài sân ánh trăng trong vắt thủy tinh nhuộm vàng cả không gian. Lũ gió nồm vẫn không thôi từ ngoài sông thay nhau ghé về bên tôi, nghe như chúng đang thì thầm bên tai tôi một điều vĩnh hằng vừa sâu lắng vừa đơn giản về ý nghĩa hạnh phúc đời người an nhiên ở một miền quê thanh bình. Những lúc đó, bao giờ tôi cũng thấy Ông Bà Ngoại tôi đang ngồi uống trà nói chuyện trong nhà giữa. Dì Tám chắc đã bỏ đi đâu đó, còn cậu Bảy Ời đi chơi vẫn chưa về. Ông Bà Ngoại tôi có tất cả 4 người con từ Má tôi là chị lớn nhất thứ 4 trở xuống là Ơi, rồi tới Dì 5 Quơi, Cậu 7 Ời, Dì Út 8 Hử. Tôi không nghe nói gì về người con cả thứ 2, thứ 3 và thứ 6, có lẽ họ mất từ hồi còn rất bé chăng? Ông Ngoại tôi chắc cũng như bao người dân quê muôn đời hay có cái quan niệm đặt tên cho con cái sao nghe bình dân, thậm chí xấu xí để đứa bé không bị cõi trên quở làm ốm yếu, để chúng nhanh ăn chóng lớn. Nên Má tôi, các Dì và Cậu tôi mới có những cái tên lạ lùng vậy! 

.

    Với Ông Ngoại tôi có một kỷ niệm rất ấn tượng dù chỉ nghe từ Má tôi hay kể lại. Hồi ấy, vài ngày sau khi tôi sinh ra ở bệnh viện Đa khoa Qui Nhơn chính Ông Ngoại tôi đã chèo xỏng nhỏ rước Má và tôi từ Cầu Đôi về. Hồi đó con đường đê từ đường cái quan chạy ngang nhà Ngoại rất hẹp và ngoằn ngoèo uốn lượn quanh co làm cho việc đi đứng không dễ dàng gì. Đã vậy, tôi ra đời vào giữa mùa mưa. Về mùa mưa thứ đất thịt đắp nên con đê thường sau một cơn mưa lớn nhanh chóng biến dạng thành nhão nhoẹt rất khó đi nên Ông Ngoại tôi phải đưa về bằng đường sông. Và tôi không thể không kể lai lịch tấm hình minh họa hồi ức này vì đâu tôi có. Tấm hình ghi nhận cả một vùng sông nước, dãy núi xa xa và khởi đầu cận cảnh là Cầu Đôi. Có cái tên Cầu Đôi là vì một bên là cây cầu đường cái quan, song song là cây cầu đường tàu lửa* bên kia. Gần đấy là Tháp Đôi bên trái con đường về hướng thành phố Qui Nhơn không lạ gì, nhưng chưa bao giờ tôi có duyên đến tận nơi, cũng vì nó quen thuộc quá trong tầm nhìn nên đã không có nhu cầu tìm đến chăng. Tấm hình do ai đó đã chụp, có một trùng hợp là cũng ngay mùa mưa năm 1957 có ghi rõ bên dưới tấm hình, là năm tôi khởi sự có mặt trên cõi người ta này, có cả con đê nhỏ và còn lạ lùng biết bao trên sông còn có một chiếc ghe nhỏ do một người nào đó đang khua chèo như thể Ông Ngoại tôi đang khua mái chèo nhỏ năm xưa đưa Má và tôi về nhà Ngoại vậy. Tấm hình này post trên một fb một người quen biết ở Khu 6 Qui Nhơn, nơi tôi đã trải qua một thời thơ ấu mãi cho đến vài năm sau 1975, mà tôi tình cờ trông thấy. Tấm hình như một kỷ vật quý báu nhất đời tôi! Tôi phóng to ra và treo trang trọng ở phòng khách như mang theo bên mình một trời Quê Ngoại tôi nơi xứ người!

.

    Tôi còn nhớ mỗi lần về thăm Ngoại, đi trên con đê nhỏ nghe gió lớn thổi ù ù hai bên tai đến nổi chúng tôi phải nói to mới nghe nhau được. Đường về nhà Ngoại qua nhiều cái cống nhỏ. Mà tôi thích lắm mỗi khi dừng chân đứng xem nước chảy ào ào qua mấy cái cống nhỏ làm bằng cây này. Nước chảy qua những cái cống nầy mạnh trông thật dữ dội. Cái kí ức hình ảnh này từ một thời tuổi thơ ấn tượng đến nỗi mặc dầu sau này lớn lên giang hồ phiêu lưu sông hồ khắp nơi, rồi sang Mỹ,  từng có dịp đứng trước biển bao la nghe sóng đánh ì ầm, lòng tôi pha trộn nhiều cung bậc cảm giác khác nhau, song vẫn không tìm gặp lại cảm giác ấn tượng như khi bước qua mấy cái cống nhỏ quê Ngoại nghe trong lòng vừa sợ vừa thích thú lạ lùng của một thuở vào đời ngày xưa còn bé. Quê Ngoại tôi có cái tên là Xóm Cổng phải chăng có nguồn gốc liên quan đến mấy cái cống này chăng!
.
    Bây giờ, Ông Bà Ngoại đều đã qua đời, cả Cậu Bảy Ời tôi mất lúc còn tuổi trung niên không phải trong mùa chinh chiến điêu linh trước 1975 mà vì căn bệnh trầm cảm vài năm sau đó bắt nguồn vì phận nước đổi thay, Cậu tôi phải sống những ngày nghèo khổ và bất đắc chí. Đâu đây trong tôi vẫn còn hình ảnh Cậu Bảy Ời và ngón đờn vọng cổ thật mùi, thật tha thiết, một con người có tâm hồn nghệ sĩ như con ve sầu chỉ thích ca hát suốt mùa hè! Còn Dì Tám lấy chồng là lính Xây Dựng Nông Thôn. Sau 1975 Dì theo về sinh sống ở quê chồng tận ngoài Tình Giang, thuộc Huyện Tuy Phước cách Qui Nhơn vài giờ đi xe máy. Dượng Hạt chồng dì mất mười mấy năm trước vì đột quỵ lần thứ hai. Con cái Dì khôn lớn đứa nào cũng trưởng thành và có sự nghiệp vững vàng. Tôi hay gọi video fb call về Vn thăm dì. Lần rồi mới hay Dì vừa qua cơn đột quỵ, may mà cứu chữa kịp thời, nhưng di chứng là miệng Dì hơi méo một tí. Mấy chị em tôi cùng góp tiền gửi về cho Dì. Dì nói sẽ dùng mua thuốc uống hàng tháng cũng tốn kém khá nhiều.  Và buồn hơn là Xóm Cổng không còn như những gì tôi thích mơ màng hồi tưởng. Vô thường biến đổi, từ cảnh đến người. Đã có một con đường lớn 2 chiều thay con đường đê nhỏ chạy mãi ra tận các huyện lỵ về hướng bắc. Nhiều phần sông đã được bồi lên thành những khu dân cư. Đến nỗi nghe em tôi về Việt Nam thăm chơi, tìm về Quê Ngoại, nó kể lại nếu không có tụi em con Cậu Bảy Ời dẫn đường chắc nó lạc lối thôi. 

.

    Hai đứa con gái tôi sinh ra ở một phố nhỏ cách không xa Little Saigon, một khu thương mại cộng đồng người Việt ở Quận Cam, South California. Tuổi thơ của chúng không sống trong thiên nhiên thanh bình như tôi ngày xưa còn bé ở Xóm Cổng mà hiện đại, vật chất dư thừa. Dẫu vậy, bù lại tôi biết dành cho chúng một tình yêu bao dung nhất, một vốn kiến thức quê hương nhiều nhất có thể của một người Bố có nhiều kỷ niệm tình tự quê hương! Trước khi đến tuổi vào trường nhập học tôi đã bắt đầu dạy chúng học tiếng Việt. Ngoại cảnh có khác: Quê Ngoại và ở Mỹ nhưng tình người thì muôn thuở vẫn như nhau. Ngoại cảnh chỉ là phương tiện chuyên chở tình người đến những bến bờ hạnh phúc. Nhìn con lòng tôi bồi hồi nhớ lại mới ngày nào Bà Ngoại tôi hay nói vừa như đùa như thật, “Chừng nào con lấy vợ hử con, Hiền...” mỗi khi Bà mang cá đi xuống chợ Lớn ở Qui nhơn bán, tiện chân ghé thăm các cháu. Tôi giờ đã hơn nửa đời người, tuy muộn màng, nhưng cũng có được một mái ấm gia đình. Bé lớn Jenny sắp lấy bằng Master Psychology vào mùa hè này, còn bé ba Jane đang theo học năm thứ 3 ngành văn học nghệ thuật. Còn nhớ  lúc lên hai, bé Jenny đã biết hát nhiều bài lắm, nhạc Việt có, nhạc Mỹ có, song tôi thích nhất bài Đi chùa Hương, tôi hay nói đó là bản ruột của nó. Con bé còn đọc được một đoạn ngắn trong bài Tôi đi học của Thanh Tịnh: ''Mỗi năm cứ độ cuối thu, lá ngoài đường rơi nhiều và trên không trung có những đám mây bàng bạc, Bố Mẹ tôi dắt tay tôi đi học, đi chơi...Yeah!'' Không biết vì sao mỗi lần kết thúc đoạn văn con bé dơ hai tay lên và hô yeah. Con bé Jane còn thuộc cả  một bài học thuộc lòng tôi đã học hồi còn ở bậc tiểu học. Bài học thuộc lòng có vần điệu nhịp nhàng và đầy hình ảnh làm tôi mãi mãi không quên:  

    ''Kỳ nghỉ hè
    Ta về quê
    Nhà ta ở
    Mé bờ đê
    Ở nhà có
    Bố mẹ ta
    Ông và bà
    Quí ta quá
    Khi thư thả
    Ta ra đê
    Đi thả bê
    Nghĩ là thú.''
.
    Năm 1997 tôi về VN lập gia đình. Trong suốt thời gian về Việt Nam, tôi ở nhà từ đường của tôi sau giao cho Chú Sáu tôi trước khi cả nhà sang Mỹ. Nhà Nội Ngoại cạnh nhau, cùng một xã Nhơn Bình, nhưng khác thôn đều thuộc Thành phố Qui Nhơn. Tôi hay về nhà Ngoại, lúc này còn Mợ Bảy Ời sống cùng gia đình thằng Phúc, con trưởng nam. Tôi nhớ hoài buổi chiều hôm ấy, sau đám cưới vài ngày, ... một chiều mùa đông trời âm u và mưa râm râm bao phủ Xóm Cổng, nghe lành lạnh! Một cảnh thân thương quen thuộc nơi sông nước quê Ngoại nơi tôi đã từng sống qua một thời thơ ấu mà tôi thường nhớ lại da diết qua những năm tháng ở Mỹ... Mợ Bảy tôi dẫn tôi và vợ tôi ra thăm mộ Bà Ngoại. Đường ra mộ Bà tôi hồi ấy với giờ đây khác nhau nhiều lắm, nếu không có Mợ dẫn đường tôi khó mà tìm được đến nơi. Mưa vẫn lâm râm rắc muôn ngàn hạt nước xuống làm mặt sông rỗ chằng chịt. Giữa sông có một chiếc xỏng nhỏ, một người đàn ông khoác một tấm áo che mưa kết bằng rơm vẫn bình thản buông lưới. Trời âm u hơn, mưa nặng hạt hơn, nghe lạnh hơn và gió sông mang theo nước mưa tạt vào làm chúng tôi thật khó khăn lắm mới thắp được mấy nén nhang. Vợ tôi bên cạnh, tôi cầm nhang khấn vái thầm nhắc lại với Ngoại chuyện xưa ngày nào. Nước mắt tôi rưng rưng nhưng nhanh chóng bị những hạt nước mưa hòa tan đi. Ở mộ Bà về thì mưa đã tạnh, trời sáng hẳn ra. Tôi khoan khoái hít thở lại cái thứ mùi mằn mặn, nồng nồng quen thuộc nước lợ quê Ngoại, mùi thơm thơm nhè nhẹ của một thứ rau câu mà ai đó vừa vớt lên bên bờ sông và lại được dịp nhìn thấy thật nhiều con còng nho nhỏ nhiều màu đỏ, vàng với những cái càng mập ú đang ùa nhau lủi xuống những cái lỗ hang nhỏ khi thấy dáng chúng tôi từ xa... Tôi nhớ hoài như in khắc sâu trong lòng mình hình ảnh bà Ngoại nhỏ bé, già nua của tôi đứng trước cổng nhà vẫy tôi theo Bà dẫn đi ăn bánh xèo ở cái quán nhỏ cuối xóm. Tôi vào đời thể chất không được khỏe mạnh mấy. Má tôi kể, lúc lọt lòng, tôi cân nặng chỉ 2 kí rưỡi, bệnh quanh năm làm khổ Má không ít. Hồi ấy bên Ngoại tôi mới có 2 đứa cháu là chị hai tôi và tôi, các dì và cả Cậu Bảy Ời còn chưa lập gia đình. Nên Bà Ngoại cưng chiều tôi lắm. Cũng vì vậy mà các dì cậu tôi hay bị Bà la oan hoài mỗi khi tôi khóc nhè không cần hỏi vì sao. Cuộc đời bà Ngoại tôi thật tội! Suốt một đời tảo tần lo cho con, còn riêng bà có mấy ngày vui! Ngày ngày từ mờ sáng bà tôi đã quẩy đôi quang gánh đầy cá mang xuống bán ở Chợ Lớn Qui Nhơn. Bà qua đời sớm ở tuổi 50 chỉ vì một chuyện không đâu... , mỗi lần đến ngày giỗ Bà tôi, nhìn ảnh thờ của Bà tôi hay tự hỏi sao trông bà già móm mém đến thế ở cái tuổi như vậy! 

.
    Đông qua Xuân lại, Hạ vàng Thu rơi dòng thời gian vô cùng trôi đi mang theo ba phần tư đời tôi đến nay ở một đất nước xa lạ đủ lâu đã nên cố quận mà nghe sao hồn mình vẫn không gì thay đổi. Dạo này, chợt phát hiện mình hay dễ xúc động bất kỳ lúc nào những bởi chỉ vì một chuyện buồn tha nhân không liên can gì đến mình. Tôi còn hay lẩn thẩn tự nghĩ dù phận đời người có vô thường, nhưng ở nơi ấy dù có tôi hay không nước dưới chân Cầu Đôi vẫn cứ trôi xuôi về ngang qua Xóm Cổng ngày xưa đã từng có Bà Ngoại, Ông Ngoại, các Dì, và cậu Bảy Ời và có cả tôi ngày xưa còn bé xíu trước khi chảy ra cửa biển Thị Nại, đổ ra biển cả Thái Bình Dương, và biết đâu không chảy chảy ngang qua cả nước Mỹ này? Nhưng có một điều chẳng lạ lùng gì: Tôi mãi mãi vẫn không nói lưu loát được thứ tiếng phương xa này, khác với thứ tiếng mẹ đẻ mà ngày xưa còn bé tôi đã bắt đầu bập bẹ tiếng nói ba... ba... chào đời trong ngôi nhà Ngoại tôi. Quê Ngoại thân thương của tôi với những cơn gió nồm trưa hè hay đêm trăng mật vàng đã từng một thời mù xa như trong cổ tích đã từng vuốt ve tâm hồn tôi. Nhưng bồi hồi tiếc nuối biết bao Quê Ngoại tôi còn đó mà đã mù sa rồi... thật mù sa... Xóm Cổng Quê Ngoại của những ngày xưa thuở tôi còn bé!


(3:11 quá khuya)
Stanton, Little Saigon California Mar. 2003 – May 11th, 2025

*Người dân quê tôi hay gọi là tàu lửa hay xe lửa, thay vì tàu hỏa như miền khác

Lê Minh Hiền    

hienlehuong@gmail.com


READ MORE - XÓM CỔNG QUÊ NGOẠI CÒN ĐÓ MÀ ĐÃ MÙ SA! - Tản văn Lê Minh Hiền

Thursday, April 17, 2025

Chùm ảnh HOA ĐÀO NĂM ẤY - Chu Vương Miện

 






READ MORE - Chùm ảnh HOA ĐÀO NĂM ẤY - Chu Vương Miện

NHƯ TÌNH EM ĐÃ SANG THU - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

Tranh Đặng Can


HUỲNH LIỄU NGẠN 

NHƯ TÌNH EM ĐÃ SANG THU

 

tay anh em cầm có chặt

để níu bóng đời về đâu

sợ lạc trên đồi hoang vắng

lạc đôi mắt màu cánh nâu

 

thuở nào lòng sông cạn dấu

một hạt bụi vừa đứt bâu

bảo rằng đừng nghiêng tóc rối

sẽ rơi đi phút ban đầu

 

rồi em bỏ về đường cũ

xa thêm con phố rộng dài

hai vai sầu chưa mở ngõ

nên lòng đóng cửa chờ ai

 

dẫu biết mùa thu đổi lá

như tình em đổi sang thu

đời dài nhưng mà qua vội

sao chờ chi cõi thâm u

 

lâu rồi anh chưa gặp lại

dễ chừng đã mấy mươi năm

biết tìm em đâu mà hỏi

từ hôm trăng đã hết rằm.

 

14.3.2025 

HUỲNH LIỄU NGẠN

READ MORE - NHƯ TÌNH EM ĐÃ SANG THU - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

ĐÊM NGHÊ THƯỜNG – thơ Lê Minh Hiền

 




Lê Minh Hiền 


ĐÊM NGHÊ THƯỜNG 


Đêm nay mưa về

vườn xưa trăng hồng 

hồn nhẹ như không

Quỳnh Hương thơm hương 

ngực trinh vai ngần 

ngồn ngộn thiên nhiên 

nõn nà trinh nguyên 

mây mưa một lần 

hai đầu cách ngăn 

biển xanh nối liền

cuối mùa hồn hoang 

hồn như mưa buồn

ngàn năm tiếc thương 

đêm nao nghê thường 

trăm năm cuối đường 

tơ lòng còn vương 

.

Đêm nay mưa về 

người ơi nghìn xa  

mây mưa mây mưa 

một lần... mù sa  

nhớ thương khôn cùng 

bao giờ phôi pha

mùa yêu ngày xưa


(10:10 sáng )

Stanton Litte Saigon California 2016 - Apr. 16th, 2025


Lê Minh Hiền 

lenguyenthu94@gmail.com


READ MORE - ĐÊM NGHÊ THƯỜNG – thơ Lê Minh Hiền

Wednesday, April 16, 2025

BÊN TÁCH TRÀ KHUYA - Thơ Mặc Phương Tử

 


BÊN TÁCH TRÀ KHUYA

                              tặng TT Tín, M Điền.


Một tách trà thơm những sớm chiều

Quanh vườn chim hót quyện hương yêu.

Gió lay bóng ngả bờ nhân ảnh,

Thanh thoát hồi chuông nhịp mõ đều.


Đêm ngắm vầng trăng chênh chếch bóng

Giữa miền áo luỵ mộng hoang tiêu.

Đâu hay nhịp gõ thời gian lặng,

Chợt ngắm về ta được ít nhiều.


Tâm sự cùng nhau bên quán trọ

Thời gian chầm chậm bể dâu tan.

Ngược xuôi giữa bến đời vô tận,

Còn mất hay đâu mộng võ vàng.


Ta rót mời ta câu đối ẩm

Trải lòng năm tháng bể hoang sầu.

Để nghe hiểu đời thêm nữa,

Năng lượng tình yêu thêm nhiệm mầu.


Khuya nay bên tách trà hương cũ

Giữa mảnh vườn con, một mảnh đời.

Tiếng chim xa vọng nghe thanh thoát,

Chạnh lòng viễn xứ nhớ xa xôi!


MẶC PHƯƠNG TỬ

tamminh2025@yahoo.com

READ MORE - BÊN TÁCH TRÀ KHUYA - Thơ Mặc Phương Tử

CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Hoa còn thơm mãi… / Tím màu luyến thương

 


Hoa còn thơm mãi…


Hoa cúc vàng trước ngõ

gió thu sang ngập ngừng

từng cánh hoa tươi xinh

lung linh trong nắng mới

 

Hoa cúc vàng phơi phới

hương tỏa khắp nơi nơi

mời chào bao cánh bướm

bay lượn vờn cành hoa

 

Hoa cúc vàng bên nhà

nết na ngày thu tới

đón đợi bao người qua

điệu đà khoe sắc thắm

 

Hoa cúc vàng đằm thắm

dịu dàng mà sâu thẳm

năm tháng dẫu đi qua

hoa em, còn thơm mãi…

 

             Đông Hà, 2021

                   

  


 

Tím màu luyến thương


Mười giờ tím biếc ban trưa

cành hoa mỏng mảnh, gió đưa khẽ khàng

hồn nhiên dưới nắng hanh vàng

hương hoa thơm ngát, nhẹ nhàng bay bay

 

Mười giờ tím biếc ban ngày

tím màu nhung nhớ, nồng say đất trời

đêm về rũ cánh lả lơi

nhưng hương còn mãi, nói lời thủy chung

 

Mười giờ tím biếc vô cùng

màu hoa quyến rũ, thùy dung dịu dàng

ban mai ngày mới vừa sang

hoa khoe hương sắc nắng vàng trời xanh

 

Mười giờ tím biếc tựa tranh

đẹp hơn tranh vẽ long lanh sắc màu

thương nhau chớ đợi ngày sau

lời hoa thủ thỉ, tím màu luyến thương…

 

                              Đông Hà, 2020

                              Nguyễn Văn Trình

                              nguyenvantrinh58@gmail.com

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH - Hoa còn thơm mãi… / Tím màu luyến thương

Tuesday, April 15, 2025

SÔNG KHÔNG ĐỢI BẾN - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

 



HUỲNH LIỄU NGẠN
SÔNG KHÔNG ĐỢI BẾN

miên man nắng dọi qua đèo
đường sông mấy nhánh hoa leo vào lòng
nhủ thầm đừng có mùa đông
kẻo lưng em đậy kín bưng tóc dài

ước nhìn thấy đôi bông tai
của miền trăng lạnh kề vai trễ tràng
để còn theo gió mơ màng
một vùng băng tuyết ngỡ ngàng dưới chân

nhịp khuya mấy ngọn rau tần
lên tay em mộng mị gần với xa
đường trần anh phải băng qua
dù sông dù suối cũng là nhà thôi

trăm năm hẹn lại kiếp người
mới mong gặp được đôi môi thuở nào
anh đi mở ngõ hé rào
tìm hương màu áo hồng đào ngày xưa

rồi về xin lỗi trời mưa
để nghe lại tiếng dạ thưa rất gần
tình đời anh bỏ sau lưng
để cho nhẹ bớt hồng trần cưu mang

chợt thèm níu lại đò ngang
cho em kịp nối tay choàng vào anh
chòng chành lên mấy đồi tranh
mắt em dính một màu xanh xa mờ

đời anh như có giấc mơ
thuở em mười sáu còn ngơ ngác nhìn
hương cau ai gởi làm tin
mà phai màu lá trầu vin trên cành

từ khi anh bỏ kinh thành
xuôi ra biển nên phải đành xa nhau
nước trôi về phía trời sâu
đã tan hết thuở ban đầu còn đâu

thôi em ở lại ngàn dâu
hai bờ cách một nhịp cầu vấn vương
anh đi rải gió bên đường
sông không đợi bến ai thương mà chờ.

12.4.2025
HUỲNH LIỄU NGẠN

READ MORE - SÔNG KHÔNG ĐỢI BẾN - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

Monday, April 14, 2025

NHÌN VỀ NGÀY PHẬT ĐẢN 2025 - PL 2569 - Mặc Phương Tử

 



NHÌN VỀ NGÀY PHẬT ĐẢN

2025 - PL 2569




    Đức Phật xuất hiện trên thế gian, đến với thế gian, cùng có mặt trong thế gian...  không gì khác hơn Ngài chỉ là bậc Đạo Sư hướng dẫn con người bằng một Thông Điệp đi trên đường hạnh phúc an vui, chấm dứt những đau khổ ngay trong kiếp sống hiện tại.


    Vườn Lâm Tì Ni là nguồn cội của Bình Đẵng - Từ Bi - Trí Tuệ. Và rằng:

    “Không có vai cấp trong dòng máu cùng đỏ, trong dòng nước mắt cùng mặn”, trong bối cảnh xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, và cũng như hiện nay.


    Điểm đặc thù qua lời dạy của Đức Phật là:  Sự tận diệt của mọi tội lỗi từ người đã "THẤY & BIẾT", chớ không phải từ người Không Thấy và Không Biết, bởi;

                              “Dễ làm các điều ác

                                Dễ làm các điều hại.

                                Còn các điều lành, điều tốt,

                                Thật tối thượng khó làm.”


    Ngoài ra, Đức Phật còn giúp con người luôn tư duy hướng về sự thật (chơn  lý), qua tinh thần lời dạy của Ngài đến với người dân Kalama... “Đừng tin tưởng khi nghe nói lại, những phong tục tập quán truyền thống, những lời đồn kinh sách truyền tụng.v.v... Nếu xét thấy không hợp lý tính giáo dục, đạo đức nhân tính...”


    Đức Phật còn quan tâm đến những mối quan hệ trong mọi hình thức xã hội như: Cha mẹ, Thầy trò, Chồng vợ, Anh em, Bạn bè, Chủ tớ, đến Tu sĩ và thế tục.



    Đức Phật cũng dạy về việc xây dựng cuộc sống khi có được tài sản trong gia đình như: “...Do công sức được tạo ra đúng pháp, thụ hưởng đúng pháp, phụng dưỡng cha mẹ, gia đình đúng pháp, biết giứp đỡ việc làm công ích xã hội (phước thiện), không bị mắc nợ điều gì... Không ác về LỜI, về THÂN và về TÂM Ý. Cốt để duy trì sự sồng an lạc, hạnh phúc, ích lợi lâu dài...”


    Đồng thời, Ngài còn trọng tâm giúp cho các hàng đệ tử muốn cần cầu pháp Vô thượng an ổn các triền ách, để chứng các Thánh quả ngay trong hiện tại. Như vậy, hầu hết và trước hết, Đức Phật giúp con người nhận thức sự nguy hại của những tội lỗi để không còn đau khổ, đuọc an vui, hạnh phúc lâu dài cho chúng sanh, chư thiên và loài người.


    Hướng về ngày Đức Phật thị hiện vào đời, là hướng đến các thiện pháp, các tịnh pháp, để tịnh hoá tâm hồn trong mỗi con người. Và cũng là nghĩa cử kính niệm đến BI ĐỨC, TỊNH ĐỨC và TUỆ ĐỨC của Đức Phật và chư Thánh đệ tử đã và đang hiện hoá vào đời.


    Vì rằng;

“...Nơi bất công,

Phật hiện thân Bình Đẵng,

Cõi tử sinh,

Diệu lý Phật vô sinh.

Trong Bi-Trí,

Phật xoá lòng cừu hận,

Trong đau thương,

Phật siêu hoa một Tình Thương.

Phật đâu toạ toà sen vàng ngất nghễu,

Trong lòng đời, lòng Phật vẫn mênh mông.”


Califonia, Westminster, 

Mùa Phật Đản 2569, 2025.

MẶC PHƯƠNG TỬ

tamminh2025@yahoo.com



                    


READ MORE - NHÌN VỀ NGÀY PHẬT ĐẢN 2025 - PL 2569 - Mặc Phương Tử

THẬP TỰ MỌC NHÁNH KHÔ - Thơ Jos Nhật Quang

  

 

Nhà thơ Jos Nhật Quang

 

THẬP TỰ MỌC NHÁNH KHÔ

  

Thập tự cằn cỗi trên đồi hoang

từng cơn gió hú lạnh lùng qua vết nứt thời gian

chẳng còn ai nữa quỳ gối dưới chân Ngài

những rễ khô  vươn lên ôm thân gỗ mục

 

Đêm hoang vu buông ánh trăng gầy

Thập tự đứng lăng im

chỉ còn lời gió hát

bài Thánh ca đau thương trên thân gỗ đã bạc màu

  

Tiếng chuông nhà thờ đã chìm sâu vào giấc ngủ

để lại những khoảng trống

đầy vết bụi thời gian

những giọt nước mắt hòa chung dòng máu Thánh nơi đây

giờ chỉ còn rêu xanh phủ kín

mọc từ vết thương xưa

  

Thập tự còn đứng đó

dẫu đã mọc nhánh khô

vẫn lặng lẽ ôm nhân gian vào lòng

ngày tháng qua như cơn mưa hồng phúc

đọng lại nơi chân đồi một niềm tin. 

 

                                Jos Nhật Quang

                                 nhatquang18@gmail.com

READ MORE - THẬP TỰ MỌC NHÁNH KHÔ - Thơ Jos Nhật Quang

ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch




VÀI LỜI PHI LỘ:

Đại lão hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, người mà bất ký tôn giáo nào cũng kính phục. Ngài viên tịch, để lại vô vàn nỗi niềm thương tiếc cho những ai biết đạo lý làm người. Chúng tôi không phải là nhà phê bình thơ, không phải là người có học, không phải là người Phật tử, chỉ là người yêu thơ. Bởi kính trọng nhân cách làm Người của ngài và nhân cách thơ của ngài, chúng tôi rung động đặc biệt với 7 bài thơ của ngài, nên viết cảm nhận về 7 bài thơ ấy. Đó là những bài thơ:
- Khung Trời Cũ -Mưa Cao Nguyên -Hận Thu Cao -Ác Mộng -Bài Thơ Cuối Cùng - Loạn Thị -Tống Biệt Hành.
Hôm nay mời quý vị đọc cảm nhận bài thơ “Loạn Thị”. Mong góp cho đời chút hương vị thi ca. Trân trọng!
                      Châu Thạch
 
LOẠN THỊ
 
Cắt gân máu chiêm bao quỉ hiện
Ai làm gì bên chiếc ghế mây
Vách tường trắng bàn tay năm ngón
Một bông hồng năm cánh đang xoay
Chồng gối cao không thấy mặt trời
Trên khung cửa con chim thắt cổ
Đàn kiến bò hạt cát đang rơi
Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa
                                         Tuệ Sỹ
 
ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ 
                                                               Châu Thạch
 
Loạn thị là gì? Loạn thị (Astigmatism) là tật khúc xạ ở mắt do giác mạc ghi nhận những hình dạng khác thường so với hình thực tế… Những tia sáng khi đi vào mắt thay vì hội tụ lại một điểm lại bị khuếch tán trên võng mạc, khiến hình ảnh thu được có hình dạng méo mó và nhoè. Bài thơ trên đây tuy lấy tựa đề là “Loạn Thị” nhưng ta không thấy gì là loạn thị như định nghĩa ở trên mà có vẻ như là tác giả đang bị rối loại tâm thần nên cái nhìn thấy toàn ảo giác
 
Rối loạn tâm thần là bệnh gây ra những nhận thức cùng suy nghĩ lệch lạc, đặc trưng bởi triệu chứng ảo giác và ảo tưởng. Trong đó, ảo giác là người bệnh thấy những hình ảnh hoặc nghe được âm thanh không có thật. Có rất nhiều dạng rối loạn tâm thần gây ra nhiều triệu chứng khác nhau, cũng không có biện pháp chắc chắn nào để ngăn ngừa các căn bệnh này một cách hoàn toàn.
 
Nhà thơ Tuệ Sỹ là một thiền sư đức cao trọng vọng, ngài có tinh thần thép được minh chứng qua những năm tù tội nhưng vẫn tỉnh táo, được người Phật tử tôn vinh là đại trí đại bi, như thế việc nói ngài bị rối loạn tâm thần thì không thể có.
Vậy bài thơ “Loạn Thị” chắc chắc là một bài thơ có ý nghĩa sâu xa siêu việt.
 
Chưa thấy một nhà phê bình văn học hay một học giả nào đề cập đến bài thơ nầy. Châu Thạch tôi mạo muội viết những cảm nhận về bài thơ nầy chỉ theo cảm quan hẹp hòi và thiển cận của mình. Kính mong qúy vị, đọc và xem như câu chuyện mạn đàm để tưởng nhớ một vị thầy đáng kính của nhân gian, vì khó ai hiểu được bài thơ nầy cho tường tận, nhưng trong đáy lòng, ai cũng biết bài thơ nầy là “Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu”.
 
Đọc câu thơ đầu tiên : “Cắt gân máu chiêm bao quỷ hiện”:

Sách vở đề cập đến nhà thơ Tuệ Sỹ tuyệt thực nhiều ngày nhưng không có ai nói đến ngài cắt gân máu mình mà tự tử.
Trong Phật giáo người tự sát phạm vào 3 tội nặng:
1 - bất hiếu với song thân.
2 – phụ bạc phúc báu có được thân người.
3- ngu si, vô tri, làm cho thần thức chìm trong thống khổ triền miên.
Vậy Tuệ Sỹ là một vị thượng tọa, ai cũng biết ngài có gan đội đá vá trời, bị kết án tử hình, nhà nước biểu viết đơn xin tha mới trả tự do nhưng ngài không viết, thì ngài không cắt gân máu mình để chết vô ích bao giờ. Như thế ta có thể hiểu câu thơ “Cắt gân máu chiêm bao quỷ hiện” chỉ nằm trong một giấc chiêm bao nào đó của ngài Tuệ Sỹ mà thôi.
 
Câu thơ thứ 2 “Ai làm gì bên chiếc ghế mây”:

Nhà thơ thấy một người loay hoay đang làm gì bên chiếc ghế mây. Trong cơn mơ mình thấy mình rất hay xảy ra với mọi người. Đọc câu thơ nầy ta có thể hiểu ngài Tuệ Sỹ thấy chính phách của ngài trong một trạng thái chăm chỉ vào một công việc nào đó. Ta có thể tưởng tuợng nhà thơ mơ thấy mình đang đan một chiến ghế mây, là đang tạo hình một đồ vật, đồ vật đó bằng mây, mây mang hình ảnh có sức chịu đựng dẻo dai bền bỉ. Với Tuệ Sỹ có thể hiểu là ngài đang chiêm bao thấy hình ảnh của ngài kham nhẩn tu tập và đấu tranh cho công bằng xã hội, cho đất nước quê hương.
 
Câu thơ thứ 3 và thứ 4 “Vách tường trắng bàn tay năm ngón/ Một bông hồng năm cánh đang xoay”:

Hai câu thơ nầy có thể hiểu nhà thơ Tuê Sỹ chiêm bao thấy có một bàn tay như đóa hoa hồng 5 cánh đang xoay trên vách tường. Bàn tay mang nhiều biểu tượng cảm xúc tùy theo hình ảnh của nó. Bàn tay mở ra, bàn tay đưa cao, bàn tay úp lại đều có ý nghĩa khác nhau. Bàn tay đang xoay tượng trưng cho sự vận hành của một công việc hay một lý tưởng. Bàn tay đang xoay lại là một bàn tay giống đóa hoa hồng 5 cánh thì ta có thể hiểu nó tượng trưng cho một tình yêu đang vận hành. Tuệ Sỹ là một nhà sư, còn là một nhà ái quốc, vậy ngài mơ thấy bàn tay như đóa hoa hồng đang xoay là mơ thấy lý tưởng của chính ngài đang thực hiện, đang ấp ủ trong lòng mình.
 
Qua hai câu thơ thứ 5 và thứ 6 “Chồng gối cao không thấy mặt trời/Trên khung cửa con chim thắt cổ”:

Hai câu thơ nầy đối chọi nhau. Nhà thơ thấy một hiện tượng rất to lớn xảy ra. Đó là hiện tượng những chiếc gối chồng lên nhau che cả mặt trời, và hiện tượng một con chim nhỏ bị thắt cổ nằm trên khung cửa. Chồng gối che khuất mặt trời là hình ảnh của những khó khăn, nghịch cảnh, bất công làm che đi mặt trời công lý. Con chim bị thắt cổ là thân phận bé nhỏ của chính ngài, bị bóp chết tình thương yêu tha nhân và ái quốc của mình, như con chim kia không được bay vào không gian mà đem thắt cổ nó trên khung cửa, khung cửa là nơi chỉ nhìn thấy bầu trời tự do mà mơ ước.
 
Hai câu thơ cuối cùng, nhà thơ mang niềm hy vọng cho lý tưởng và cho dự phóng tương lại: “Đàn kiến bò hạt cát đang rơi /Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa”:

Đàn kiến đang bò tượng trưng cho hệ sinh thái môi trường không tốt, vừa tượng trưng cho sự đoàn kết, kiên trì, đấu tranh cho cuộc sống. Hạt cát tượng trưng sự nhỏ bé nhưng cứng cỏi và bền bỉ giữa sự vô thường của chuyển dịch trong đời mà cát phải gánh chịu. Nhà thơ Tuệ Sỹ cuối cùng không còn loạn thị nữa, ngài đã hiểu ý nghĩa giấc chiêm bao của mình, và ngài nhắm mắt trầm ngâm trong ánh lửa, để thấy ánh sáng cuối chân trời là sự thành công của đàn kiến về tổ, nhờ nó kiên trì và cứng cỏi như hạt cát kia, hay đúng ra, nhà thơ hy vọng một tương lai tốt đẹp cho dự phóng của mình:
 
Đàn kiến bò hạt cát đang rơi
Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa
 
“Loạn Thị” là một bài thơ được sáng tạo thuần túy tâm linh, đọc nó ta cảm nhận được hình ảnh chói lòa của giấc mơ, nó làm ta rợn người như thấy ma quái, nhưng nó có thể đưa ta qua nhiều tâm trạng lo sợ, buồn đau, uất ức, suy tư và hy vọng xa vời. Đây là một bài thơ chất chứa nỗi lòng của một bậc hiền sĩ mang chí lớn, đang vùng vẩy trong thân phận bị quản thúc, tù đày, buồn tê tái. Đọc bài thơ dễ làm cho con tim ta quặn thắt, đồng cảm với giấc chiêm bao như cắt gân máu thấy quỷ hiện ra của ngài Tuệ Sỹ.
                                                                                                               Châu Thạch
READ MORE - ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch