Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, December 3, 2018

NGƯỜI PHI CHÚNG TÔI CHỈ DÙNG THỨC UỐNG NHẸ - Truyện ngắn của Alejandro Roces - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

Alejandro Roces (1924 – 2011)



Người Phi Chúng Tôi Chỉ Dùng Thức Uống Nhẹ
Truyện ngắn của Alejandro Roces (Philipppines)
Nguyễn Khắc Phước dịch

Người Phi chúng tôi chỉ dùng thức uống nhẹ. Chúng tôi uống chỉ vì ba lý do chính đáng:  Uống khi rất hạnh phúc, uống khi rất buồn và uống vì bất kỳ lý do nào khác.

Khi người Mỹ chiếm lại Philippin (1), họ xây một căn cứ không quân cách khu dân nghèo của chúng tôi một vài dặm. Lính Mỹ xuất hiện ở đây là chuyện thường ngày. Tôi đã gặp rất nhiều người và kết bạn với họ. Tôi không thể phát âm tên của họ. Tôi cũng không thể phân biệt họ khác nhau chỗ nào. Tất cả người Mỹ đều trông giống nhau. Tất cả đều da trắng.

Một chiều, tôi đang cày ruộng với con trâu tên Đatu của tôi. Tôi đi chân trần và để mình trần, quần xăn đến đầu gối. Vải quần bằng sợi abaca (2) và dệt trên khung dệt tự chế.  Tôi mang con dao bolo (3) ở bên hông.

Một người lính Mỹ đang đi trên đường. Khi thấy tôi, anh ấy tiến về phía tôi. Tôi ngừng cày và đợi anh ta. Tôi thấy anh mang theo nửa chai rượu whisky. Chai rượu whisky dường như là một phần của bộ đồng phục quân đội Mỹ.

“Xin chào chú em da nâu,” anh nói, vỗ nhẹ vào đầu tôi.

“Chào Joe,” tôi trả lời.

Tất cả người Mỹ được gọi là Joe ở Philippin.

“À này. Chú biết chỗ nào bán whisky không?”

“Thật đáng tiếc, Jose,”  tôi trả lời. “Không có quán bar nào trong khu này.”

“Có cái này đây, nhấp một chút đi. Nãy giờ chú mày làm việc mệt rồi đó,” anh nói, đưa cho tôi nửa chai rượu.

“Không, cảm ơn, Joe,” tôi nói. “Người Phi chúng tôi chỉ dùng thức uống nhẹ.”

“Chà, chú mày không uống gì sao?”

"Có uống chứ, nhưng không phải whiskey."

“Thế chú mày uống cái quái gì?”

"Tôi uống lambanog."

"Nước ép cây rừng à?"

"Có lẽ lính Mỹ các anh thường gọi món uống đó như vậy.”

"Tôi có thể mua thứ đó ở đâu?"

"Tôi biết mấy chỗ bán, nhưng tôi e rằng anh sẽ không thích nó."

“Tôi thích tất tần tật. Khỏi lo. Tôi đã uống đủ thứ — rượu whisky, rượu rum, rượu mạnh, rượu tequila, rượu gin, rượu sâm banh, rượu sake, rượu vodka. . . Anh ấy kể nhiều thứ nữa mà tôi không thể viết ra được.

“Tôi không chỉ uống nhiều, mà thứ gì tôi cũng uống. Tôi đã uống nước hoa Chanel Số 5 khi ở Pháp. Ở New Guinea, tôi đã say vì nước cạo râu. Khi nằm bệnh viện, tôi đã xỉn vì cồn y tế. Trên đường đến đây, tôi đã ngất ngư với thứ nhiên liệu để chạy ngư lôi. Chú mày không ngoa khi nói tôi uống nhiều. Vậy thì, chúng ta hãy uống nước ép cây rừng, được không? ”

“Được thôi,” tôi nói. "Đợi tôi một lát để dẫn con trâu này vào hố bùn, sau đó chúng ta có thể về nhà tôi và uống."

"Chú mày yêu con vật đó lắm, phải không?"

"Vâng, tôi yêu nó lắm," tôi trả lời. "Nó làm một nửa công việc của tôi."

"Tại sao chú mày không dùng hai con?"

Tôi không trả lời.

Tôi gỡ Đatu khỏi cái cày và dẫn nó đến hố bùn. Joe theo tôi. Đatu nằm trong bùn và khoái chí kêu ọ ọ.

Đatu lắc đầu và  dùng cặp sừng rộng của nó để vẩy bùn trên lưng. Nó lăn qua lăn lại và cả thân mình nó được bao phủ bởi lớp bùn nhầy nhụa. Vẻ hài lòng hiện trong mắt nó. Sau đó, nó vung đuôi khiến Joe và tôi phải chạy khỏi hố bùn để tránh bị bùn văng trúng. Tôi để Đatu trong hố bùn. Sau đó quay sang Joe, tôi nói.

"Nào, đi thôi."

Và chúng tôi tiến về nhà tôi. Jose thận trọng nhìn quanh.

“Ở đây nhiều dừa quá,” anh nói.

“Ở Mỹ không có dừa à?” tôi hỏi.

“Không,” anh trả lời. “Quê tôi có nhiều thông.”

"Cây thông trông giống thế nào?"

“Ồ, nó cao và đường bệ lắm. Nó đâm thẳng lên trời giống như một tòa nhà chọc trời. Nó tượng trưng cho nước Mỹ.”

"Vâng," tôi nói, "còn cây dừa tượng trưng cho Philippin. Nó vươn lên trời, nhưng lá nó vòng xuống đất, như thể ghi nhớ nơi đã sinh ra nó. Nó không quên đất đã cho nó sự sống.”

Trong chốc lát, chúng tôi đến căn lều lợp bằng lá dừa nước của tôi. Tôi lấy cái thang tre và tựa nó lên một cái cây. Sau đó, tôi leo lên chiếc thang và hái mấy trái calamansi.

“Cái gì thế?” Joe hỏi.

“Chanh Philippin,” tôi trả lời. "Chúng ta cần trái này để làm đồ uống."

"Ồ, thuốc giải rượu."

“Đúng vậy, Joe. Lính tráng thường gọi vậy đó.”

Tôi bỏ chanh đầy túi rồi leo xuống. Tôi ra giếng trong vườn và rửa chân cho sạch bùn. Rồi chúng tôi leo lên túp lều bằng thang tre. Trời đã tối nên tôi đổ đầy dầu vào vỏ dừa, nhúng một đầu bấc vào dầu và thắp sáng. Cây đèn dầu tỏa ánh sáng nhấp nháy. Tôi cỡi con dao bolo và treo nó lên tường.

“Mời bạn ngồi, Joe,” tôi nói.

“Ở đâu?” Anh ấy nhìn quanh, hỏi.

“Ngay đó,” tôi nói, chỉ xuống sàn nhà.

Joe ngồi xuống sàn. Tôi thái hai trái chanh thành lát, lấy một ít muối thô và đặt bên cạnh chân bàn. Tôi đi vào bếp và lấy cái ống tre, nơi tôi để chai rượu lambanog.

Lambanog là một thức uống được chiết xuất từ cây dừa với vỏ cây đước được nghiền thành bột để ngăn chặn sự bùng cháy tự phát. Nó có nhiều công dụng. Chúng tôi sử dụng nó để chữa rắn cắn, chống sốt rét, làm thuốc trừ sâu và để thuộc da trâu.

Tôi đổ một ít lambanog vào hai vỏ dừa được đánh bóng và đưa một vỏ cho Joe. Tôi pha loãng đồ uống của tôi với một ít rượu whisky của Joe. Nó biến thành màu trắng đục như sữa. Cả hai chúng tôi đều ngồi trên sàn nhà. Tôi đổ một ít đồ uống đó lên sàn tre; nó chảy qua các khe hở xuống mặt đất bên dưới.

“Này, cậu đang làm gì vậy,” Joe nói, “đổ rượu ngon đi à?”

“Không,” tôi nói. "Ở đây có tập quán luôn luôn trả lại cho đất một chút những gì chúng tôi đã lấy từ đất."

“Này,” anh nói, nâng cái vỏ dừa lên. "Mừng chiến tranh kết thúc!"

"Mừng chiến tranh kết thúc!" tôi nói, cũng nâng vỏ của tôi lên. Tôi nhấp một chút. Liền sau đó là một lát chanh nhúng trong muối thô. Joe uống nhưng phản ứng rất kỳ cục.

Đôi mắt anh lồi ra như mắt ếch và tay nắm lấy cổ họng, trông như thể anh ta đã nuốt một con rết.

"Nhanh lên, thuốc giải rượu!"  anh nói.

Tôi đưa anh ta một lát chanh nhúng vào muối chưa tinh chế. Anh nặn chanh vào miệng. Nhưng đã quá trễ rồi. Không gì có thể giải được. Chanh không ích gì. Tôi nghĩ kể cả một quả dừa cũng không thể cứu anh ta.

“Chuyện gì thế, Joe?” Tôi hỏi.

“Không có gì,” anh nói. "Lần uống đầu tiên tôi thường bị thế này."

Anh thở phì phò và nước mắt lăn dài trên má.

"Vâng, lần uống đầu tiên luôn luôn tác dụng như một máy rà mìn," tôi nói, "nhưng lần thứ hai sẽ êm hơn."

Tôi rót vào vỏ dừa của anh lần thứ hai. Một lần nữa, tôi pha loãng đồ uống của tôi với rượu whisky của Joe. Tôi rót vào vỏ dừa của mình. Tôi thấy cổ anh ta đẫm mồ hôi. Anh cởi khuy áo cổ và nới lỏng cà vạt. Joe cầm lấy vỏ dừa của anh nhưng anh ta có vẻ không lo lắng lắm. Tôi nâng vỏ dừa lên và nói: "Chúc mừng nước Mỹ!"

Tôi cố gắng cho ra dáng một chủ nhà tốt bụng.

“Chúc mừng nước Mỹ!” Joe nói.

Cả hai chúng tôi đều uống cạn. Joe lại phản ứng một cách buồn cười. Cổ anh ta vươn dài như cổ rùa. Và bây giờ anh ta thở hổn hển như một con trâu điên. Một tay anh nắm chặt cà vạt.

Rồi anh nhìn xuống cà vạt của mình, ném nó sang một bên, và nói: "Ôi, Chúa ơi, nảy giờ tôi nghĩ đó là lưỡi của tôi."

Sau đó anh bắt đầu nghiến răng.

“Chuyện gì vậy, Joe?” Tôi hỏi, vẫn đang cố trở thành một chủ nhà hoàn hão.

"Nhiều quá rồi, đồ uống chết tiệt này đã làm cái răng giả của tôi long ra."

Khi Joe thở ra, một con mối bay quanh ngọn lửa nhấp nháy bị rơi xuống chết. Anh nhìn chằm chằm vào con mối và nói: “Rồi chúng sẽ đồn rằng người ta đang xịt DDT.”

“Uống một chút nữa nhé?” Tôi hỏi. "Chúng ta ở đây để uống mà!"

“Không, cảm ơn,” anh nói. "Tôi xong rồi."

"Thôi được. Chỉ một lần nữa thôi.”

Tôi đổ lambanog vào vỏ dừa và một lần nữa pha loãng đồ uống của tôi với rượu whiskey. Tôi đưa cho Joe đồ uống của anh ấy.

“Chúc mừng Philippin,”anh nói.

“Chúc mừng Philippin,” tôi nói.

Joe uống một chút. Tôi không thể nhìn thấy rõ ràng trong ánh sáng nhấp nháy, nhưng có thể thề rằng tôi thấy khói bốc ra từ tai anh ta.

"Thứ này ắt hẵn có phóng xạ," anh ấy nói.

Joe hắt phần rượu còn lại lên bức tường dừa nước và hét lên: "Lửa, đồ chết tiệt, lửa!"

Ngay khi tôi đang còn muốn uống thì Joe đã ngất đi. Anh nằm ngay đơ trên sàn như một khúc gổ. Chẳng giống ai.

Tôi biết rằng những người lính phải về doanh trại vào một thời điểm nhất định. Vì vậy, tôi quyết định đưa Joe trở lại. Tôi cố nhấc anh ta lên. Anh ta nặng như trâu. Tôi phải gọi bốn người hàng xóm để giúp tôi mang Joe. Chúng tôi đặt anh lên lưng trâu. Tôi lấy con dao bolo và buộc vào hông. Sau đó, tôi đưa anh ta trở lại trại lính. Người dân làng không hiểu chuyện gì đã xảy ra với người Mỹ này.

Sau hai giờ, tôi đến sân bay. Tôi tìm doanh trại của anh và  đưa anh ta đến đó. Bạn bè anh giúp tôi đưa anh lên giường. Họ rất vui khi gặp lại anh. Mọi người đều cảm ơn tôi đã đưa anh ấy về nhà. Khi tôi rời trại lính, một người bạn của anh ấy gọi tôi và nói:

"Này bạn! Làm một lon bia trước khi đi nhé?”

“Không, cảm ơn,” tôi nói. “Người Phi chúng tôi chỉ dùng thức uống nhẹ.”

***

Chú thích của người dịch:

(1) Chiến dịch Philippines 1944-1945 của quân Đồng Minh tiến hành trong Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm đánh bại lực lượng Nhật Bản chiếm đóng Philippines. Chiến dịch bắt đầu vào ngày 20 tháng 10 năm 1944 và kéo dài cho đến khi chiến tranh kết thúc. (Theo Wikipedia.)

(2) Abaca: thứ cây trông tựa như cây chuối.

(3) Dao bolo là cái dao lớn, gần giống cái rựa hoặc lưỡi lê, cán hơi cong. Người Phi dùng để phát cây rừng, chặt dừa, đốn mía và đặc biệt còn dùng làm vũ khí. Dao bolo thường thấy trên nhiều tượng đài chiến thắng ở Philippin.



SƠ LƯỢC VỀ TIỂU SỬ CỦA TÁC GIẢ

Alejandro Roces (1924 – 2011) là một nhà văn, nhà viết tiểu thuyết và được đánh giá là người viết truyện ngắn hay nhất Philippin. Ngoài truyện ngắn, ông còn viết vô số bài báo tập trung vào việc bảo tồn những di sản văn hóa Philippin bị bỏ quên. Tác phẩm của ông  đã được xuất bản trên nhiều tạp chí trên thế giới và đã nhận được nhiều giải thưởng quốc gia và quốc tế.

Trong năm thứ nhất tại Đại học Arizona, truyện “We Filipinos are Mild Drinkers”  của ông đã giành giải Truyện ngắn hay nhất.

Một truyện khác của ông: “My Brother’s Peculiar Chicken” được xem là truyện hay nhất trong Tạp chí Truyện ngắn (Story Magazine) do nhà văn Mỹ Martha Foley cùng chồng làm chủ bút từ 1948 – 1951.

Trong hơn 30 chức vụ từng đảm đương, ông là Bộ trưởng Bộ Giáo dục Philippin từ 1961 đến 1965.

Chính ông là người dẫn đầu cuộc vận động thay đổi Ngày quốc khánh của Philippin từ ngày 4 tháng 7 đến ngày 12 tháng 6, thay đổi ngôn ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Phi trong tem, tiền tệ và hộ chiếu của người Phi.

Trang Amazon.com đang bán một số sách của ông, trong đó có:

-Of Cocks and Kites, 1959, tập truyện ngắn.

READ MORE - NGƯỜI PHI CHÚNG TÔI CHỈ DÙNG THỨC UỐNG NHẸ - Truyện ngắn của Alejandro Roces - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

DUYÊN QUÊ - Thơ Lê Kim Thượng




Thơ Tình Lục Bát 2018                                                                                                    
                                                       Lê Kim Thượng 

     
DUYÊN QUÊ

  
“Chiều chiều lại nhớ chiều chiều…

Người dưng khác họ…” thương nhiều nhớ lâu

Ngày ngày, tưới nước cho trầu

Trầu mau tốt lá… cưới dâu mẹ nhờ…

Nhớ em… thôn nữ ngây thơ

Xuân thì vừa tới, mộng mơ còn nhiều

Tóc dài che mắt đăm chiêu

Chợt nghe rơi rụng tiếng yêu trong lòng

Tóc em hương bưởi thơm nồng

Xôn xao bóng nắng cho hồng môi ai

Gió đùa cong sợi tóc mai

Mắt em lóng lánh liêu trai… sững người

Tôi gieo mầm hạt tình tươi

Tìm trong đất cát... nụ cười em rơi

Đêm mơ, ngày mộng em ơi

Ước gì ta mãi trong đời có nhau

Đêm nghe “… bí gọi thương bầu…”

Nghe câu lục bát “… Qua cầu…” rưng rưng

“Bụng sao bụng nhớ người dưng…

Lấy nhau chưa đặng…” lòng ưng nhau rồi…

Bờ tôi lở… bến em bồi…

Sông sâu ngăn cách, chia đôi bến bờ

“Đêm nằm tơ tưởng tưởng tơ…”

Tôi – Em… là chút tình cờ đắng cay

Thương con Tu Hú lạc bầy

Ngu ngơ gọi bạn lất lây, bồi hồi

Nên duyên ai… lỡ tình tôi…

Trách người bội nghĩa… đãi bôi thề nguyền

Lòng buồn đau xót cho duyên

“Bến thì một dạ…” mà thuyền về đâu ?

Thôi đành hẹn lại kiếp sau

“Về nhà mẹ hỏi… qua cầu gió bay…”  


                        Nha Trang, tháng 12. 2018

                           LÊ KIM THƯỢNG

READ MORE - DUYÊN QUÊ - Thơ Lê Kim Thượng

AI MUA KÍNH KHÔNG! - Thơ vui của Châu Thanh Thủy



                  Tác giả Châu Thanh Thủy


AI MUA KÍNH KHÔNG!

Ai mua mình bán kính đây
Đeo vào sẽ thấy từ ngày thành đêm
Từ "chị" sẽ biến thành "em"
Từ "em" sẽ biến thành tiên giáng trần
Ông già cũng hóa nam thần
Thị Nở cũng hóa Thúy Vân Thúy Kiều,
Chí Phèo cũng chợt phiêu diêu
Tưởng mình Kim Trọng áo điều áo xanh
Đeo vào ai cũng rất xinh
Mua ngay kẻo hết, hãy nhanh chân nào!

                               Châu Thanh Thủy

READ MORE - AI MUA KÍNH KHÔNG! - Thơ vui của Châu Thanh Thủy

NHỚ..., CHÚT TÌNH, BÂY GIỜ - Thơ Tịnh Đàm



                  Nhà thơ Tịnh Đàm


NHỚ...

Biết lòng
Sẽ nhớ nhiều hơn
Khi đêm dở mộng
Chập chờn...
Mơ em.

Giật mình trong tối,
Dậy xem
Vườn khuya
Đom đóm thắp đèn
Chơi trăng.


CHÚT TÌNH

Trang thơ đọng chút tình
Chưa phai mùi hương ủ
Bao năm nào thấy cũ
Niềm yêu giữ bên mình.


BÂY GIỜ

Bây giờ,
Tôi lại nhìn tôi
Thấy thanh xuân
Sớm
Đến hồi hoa râm !

Thấy đời,
Trong mắt trầm ngâm !
Cõi xa nào ?
Đợi...
Bước thầm về...
Quên !

TỊNH ĐÀM
(Hóc Môn, TP. HCM)

READ MORE - NHỚ..., CHÚT TÌNH, BÂY GIỜ - Thơ Tịnh Đàm

Sunday, December 2, 2018

CHUYỆN THƯỜNG, ĐOẠN TRƯỜNG - Thơ Chu Vương Miện




CHUYỆN THƯỜNG

ngày trước lạc hậu y tế chưa phát triển
con người thọ đến "thất thập cổ lai hy"
là rất hiếm rất quí
ngày nay văn minh tiến bộ
y tế đầy đủ
nào Đông y, Tây y, Nam y, Bắc y
nào noni nhầu, sữa ong chúa, lô hội
nấm linh chi, đông trùng hạ thảo
bạch liên trà, sữa tắm dê, trà dưỡng sinh
hà thủ ô, yến sào, tế bào gốc
sống trên bảy bó là chuyện bình thường
ngày trước hai mươi - ba mươi lập gia đình
nay sáu mươi - bảy mươi - tám mươi
còn mò về Việt Nam
lập gia đình lấy vợ nhí
cũng đẻ con sinh cái
chuyện bình thường
y như cinema hát bộ mần tuồng
y như chèo cổ Bắc Việt
sướng y tiên ?
thủ tục đầu tiên
tiền ?
-
trước năm 1945
dân số nước mình là 25 triệu
chết đói 2 triệu
đất đai chừngđó
núi rừng chừng đó
con người sống tương đối khỏe
thơ văn quá rạt rào
sau năm 1954
dân số tăng 35 triệu
hai miền chưa uýnh nhau
đời sống cũng tàm tạm
thơ còn vần còn điệu
sau 1963 thì đánh nhau
đánh từ đít tới đầu
từ Bến Hải Cà Mau
từ Địa Đầu đến địa phủ
30.4.75 thì kết thúc chiến tranh
dở cười dở khóc
thơ lúc đó không ai đọc
bây giờ năm 2018
dân số gần cả 100 triệu
đa số là i tờ rít
thơ chết ngắc


ĐOẠN TRƯỜNG

ai cũng qua cầu
cầu ván đóng đinh
cầu tre khấp khểnh gập ghềnh khó qua
nhà tù rồi lại nhà pha
nhà mướn nhà trọ nhà ga, nhà hòm
buồn trông theo cánh chuồn chuồn
buồn vui bay đậu chả nguồn chả cơn
muốn bay cất cánh vù liền
muốn đậu thì cứ đừng yên trên cành
mùa này lá vẫn còn xanh
vườn lê với lại vườn cam trái vàng
cầu ơi cầu nối bao miền
chốn nào địa ngục thiên đàng cầu ghuôi

                          CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHUYỆN THƯỜNG, ĐOẠN TRƯỜNG - Thơ Chu Vương Miện

MỘT MÌNH - Thơ Trương Thị Thanh Tâm



        Nhà thơ Trương Thị Thanh Tâm


MỘT MÌNH

Bây giờ trời đã chớm đông
Hơi sương lành lạnh buồn lòng giấc đêm
Trăng còn treo nhánh dừa nghiêng
Treo tình tôi nhớ về miền xa xôi

Sầu đâu rớt lá đơn côi
Liễu xanh còn thả tóc trôi bềnh bồng
Người đâu, có nhớ hay không?
Mỹ Tho hiu hắt nắng hong tóc chiều

Tôi giờ quạnh quẽ cô liêu
Buồn trong nỗi nhớ, liêu xiêu cả hồn
Phố buồn nắng nhạt chiều hôm
Gởi tình theo gió về miền xa xôi

Biển xanh mùa cũ đâu rồi?
Để thuyền trôi giạt sóng đời ngã nghiêng
Bao ngày tôi đứng lặng yên
Mong ai hạnh phúc nỗi niềm riêng tôi

Đôi lần hờn giận bờ môi
Lời yêu cất giấu cho tôi đợi chờ

           Trương Thị Thanh Tâm
                      (Mytho)

READ MORE - MỘT MÌNH - Thơ Trương Thị Thanh Tâm

PHẠM NGỌC THÁI VỚI THIÊN TÌNH CA TRÁC TUYỆT - Tuyết Nga

 PHẠM NGỌC THÁI VỚI THIÊN TÌNH CA TRÁC TUYỆT

                                                                    TUYẾT NGA

phamngocthai

     NGƯỜI THÔN NỮ MIỀN SÔNG NƯỚC

Nén hương lòng anh tưởng niệm mối tình em
Bóng trúc vắng, làng quê xanh viễn vọng
Giọt lệ đắng em hòa cùng anh uống
Chốn xa vời người lữ khách đứng dừng chân.

Xin để lại cho đời vài khúc ca ngân
Nghìn năm sau - Thế nhân ơi, hãy nhớ !
Tấm hình ta cùng nàng một thưở
Và cuộc tình nước mắt lẫn yêu thương.

Anh không thể mang em theo trọn kiếp thi nhân
Giúp em vượt qua đời bể dâu khốn khổ
Mai có đến gặp lại anh bên nấm mồ
                                  nơi chân trời, xứ sở
Xõa tóc mà than khóc cõi dương gian...

Anh vẫn chờ em ở dưới suối vàng
Ta hãy quên đi thế giới đầy bạo loạn
Để cùng em kết trăm năm tình bạn
Của tình yêu tự trái tim anh !

Anh vẫn thương em dù duyên phận bẽ bàng
Chẳng phải vì em, chẳng phải anh không muốn
Nhưng em ạ ! KIỀU đã nói rồi,
                                        đó là bể sống...
Tình giữa trần ai, nước mắt trộn cơm chan.

Dẫu phải biệt xa...
                           anh có hạnh phúc đâu em ?
Vẫn biết đời em cũng hòa dòng lệ đắng
Ừ, thì trang nam anh khinh thường kiếp nạn
Chỉ thương em là phận nữ nhi.

Hãy vững bước lên em vào thế giới của ca thi
Sẽ giúp em quên mọi điều sầu muộn
Anh chỉ tiếc không thể dìu em tới bến...
Mong đất trời có Thượng đế đỡ em đi !?

                           *

Thơ viết đã dài mà chẳng thỏa nỗi tình si
Ta lại cất tiếng gọi tên em:
-  Người thôn nữ miền sông nước...
Mai dân tộc có đặt ta nằm ở nơi nào
                                 dưới gầm trời tổ quốc
Hãy đưa mộ nàng về
                               chôn cạnh nấm mồ ta.

Để con cháu đời đời cất cao bản tình ca
" Không có chiến tranh,
                           chỉ có tình yêu bất diệt ! "
Anh sẽ nâng hình em bay trên đất trời nước Việt
Vượt qua mọi chủ nghĩa tới muôn năm.

Hãy đi cùng anh, mình không chết đâu em
Kinh thánh đã dậy rồi: nay chỉ là "cõi tạm"
Khi biết vượt qua đủ buồn đau, khổ nạn
Mới vào được ngôi đền...
                          - Tòa Thánh của tình yêu !

Ôi ! Người thôn nữ anh thương
Cuộc tình mình dù đắng đót bao nhiêu
Nhưng hãy nghe lời anh:
              - Ta được nhiều hơn mất...
Đã giúp em nhìn ra nghĩa sống
                          trong bể đời khốn kiếp
Vượt lên bão táp, phong ba.

Em hãy hòa nước mắt vào
                         viết những bản tình ca
Nó vĩ đại hơn các luận ngôn đảng phái
Ta sẽ là ánh sao băng trên thiên hà sông núi
Anh đợi đón em về
                               trong thế giới bên kia.
PHẠM NGỌC THÁI
        8/11/2018
Sáng mùa đông năm Mậu Tuất


                              Ảnh Tuyết Nga

Lời bình:  Đây là thiên tình ca từ biệt của một mối tình, một cuộc chia tay đầy nước mắt, song... xem ra hai người vẫn đang còn yêu nhau rất tha thiết ! Vậy, vì một lý do nào đó ta không biết ? Như lời chàng đã than:
                    Anh vẫn thương em dù duyên phận bẽ bàng
                   Chẳng phải vì em, chẳng phải anh không muốn
                   Nhưng em ạ ! KIỀU đã nói rồi,
                                                     đó là bể sống...
                   Tình giữa trần ai, nước mắt trộn cơm chan.
                                                       (câu 17 - 20)
     Nhà thơ đưa câu chuyện của nàng Kiều ra đây để vấn an cho cuộc tình, cũng chỉ có tính chất phỏng dụ đó thôi ! Chàng nói với người thôn nữ rằng: Thôi em ạ, trần ai là bể khổ, em cũng đừng đau lòng quá vì anh vẫn rất thương em. Không biết "Người thôn nữ miền sông nước" nào mà được anh Phạm Ngọc Thái thương yêu đến thế ?
     Giờ ta hãy đi vào khổ thơ mở đầu: 
                   Nén hương lòng anh tưởng niệm mối tình em
                   Bóng trúc vắng, làng quê xanh viễn vọng
                   Giọt lệ đắng em hòa cùng anh uống
                   Chốn xa vời người lữ khách đứng dừng chân.
     Đọc bốn câu thơ này, tôi bỗng liên tưởng tới bài "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử, đã viết gửi cho người con gái ở phương trời xa:
                    Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?
                    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
                    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
                    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
     Thi nhân nhớ đến những hình ảnh về thôn hương, nơi nàng Hoàng Cúc đã ở: những hàng cau trong nắng sớm mai với vườn cây xanh mướt. Cái màu xanh trong trí tưởng, nên "xanh như ngọc" vậy - Còn trong bài thơ "Người thôn nữ miền sông nước", Phạm Ngọc Thái cũng nhớ về quê em: 
                    Bóng trúc vắng, làng quê xanh viễn vọng
     "xanh viễn vọng" là màu xanh của sự cách biệt nghìn trùng, xa vời vợi... Hình ảnh " trúc" trong câu thơ của Hàn Mặc Tử: Lá trúc che ngang mặt chữ điền /- là biểu tượng về làng quê. Còn "mặt chữ điền" tượng trưng cho khuôn mặt người đàn ông theo nghĩa cổ phương đông - Câu thơ ý nói đến sự cách ngăn giữa thi nhân với nàng Hoàng Cúc, cả về không gian và trong tình đời.
     Bài thơ của Phạm Ngọc Thái cũng nói tới biểu tượng "bóng trúc vắng" - Ta chưa biết hình ảnh bóng trúc ở đây, có mối liên hệ thân thiết như thế nào với người thôn nữ miền sông nước kia ? Ý nhà thơ muốn nói rằng: "bóng trúc" ấy với anh giờ đây mãi mãi thành xa cách - Hai cái mảng màu giữa "bóng trúc vắng" và "làng quê xanh viễn vọng" kết hợp với nhau... để diễn tả về sự chia ly giữa anh và nàng, cả về không gian và tình yêu - Tạo nên một sự cách ngăn thăm thẳm.  
     Còn giọt lệ đắng đót mà cả hai cùng hòa vào uống chung đó: Giọt lệ đắng em hòa cùng anh uống /- Nghĩa là, một cuộc chia ly mà trái tim họ cùng đau. Nhà thơ như một người viễn khách bồn chồn nhìn về phía xa xăm, nơi người yêu ở:
                    Chốn xa vời người lữ khách đứng dừng chân
     Một khổ thơ có bốn câu, hình tượng thơ lóng lánh mà sâu xa, câu nào cũng mang đầy ý để khái quát cả khung cảnh và nghĩa tình của cuộc chia biệt thắm thiết này.
     Tôi bình sang khổ thứ hai - với giọng thơ trầm bổng, lâm ly... nhà thơ tiếp tục gẩy cây đàn tình ngân vang, tạo thành một khúc ca bi tráng: 
                    Xin để lại cho đời vài khúc ca ngân
                    Nghìn năm sau - Thế nhân ơi, hãy nhớ !
                    Tấm hình ta cùng nàng một thưở
                    Và cuộc tình nước mắt lẫn yêu thương.
     Bài thơ có 12 khổ 48 câu: Hai khổ thơ ba và bốn, nói về sự ân hận trong lòng nhà thơ: Anh đã không thể giúp cho người yêu thoát ra khỏi nỗi khổ đường đời:
                    Anh không thể mang em theo trọn kiếp thi nhân
                    Giúp em vượt qua đời bể dâu khốn khổ
     Chỉ đành hẹn với em sẽ chung tình ở kiếp sau:
                     Anh vẫn chờ em ở dưới suối vàng
                     Ta hãy quên đi thế giới đầy bạo loạn
                     Để cùng em kết trăm năm tình bạn
                     Của tình yêu tự trái tim anh !
     Những dòng thơ ấy thể hiện tình yêu tha thiết trong trái tim chàng, một tình thương trọn vẹn trước sau không thay lòng đổi dạ, dù xã hội thăng trầm và cuộc sống có rối ren. Đọc những dòng thi trào ra từ tâm linh nhà thơ, tôi chạnh nhớ tới những lời thơ trăng trối của các thi sĩ xưa nay, để lại cho người yêu. Hữu Anh từng viết:
                      Nếu tôi chết dương trần em ở lại
                      Lúc xây mồ hãy đắp đất cho tôi
                      Chút luyến lưu phàm thế của người đời
                      Tôi cảm nhận chút hương tình còn xót. 
                                               (Nếu tôi chết)
     Còn trong bài "Người thôn nữ miền sông nước" này, thi nhân Phạm Ngọc Thái nhắn nhủ với em:
                    Mai có đến gặp lại anh bên nấm mồ
                                                    nơi chân trời, xứ sở
                    Xõa tóc mà than khóc cõi dương gian...
     Chà, khúc tình ca mới thật dào dạt làm sao ! Ý tưởng của bài thơ nói về cõi trần ai... nhuốm mầu kinh Phật. Dẫu phải chia xa, lòng chàng vẫn xót thương cho cuộc đời người thôn nữ vô vàn. Anh an ủi nàng:
                     Dẫu phải biệt xa...
                                            anh có hạnh phúc đâu em ?
                    Vẫn biết đời em cũng hòa dòng lệ đắng
                    Ừ, thì trang nam anh khinh thường kiếp nạn
                    Chỉ thương em là phận nữ nhi.
        Từ trong sâu thẳm cuộc tình ấy, họ đã hòa chung để đến với nhau bằng một nỗi cảm thông sâu sắc về cuộc đời. Hẳn em yêu của nhà thơ Phạm Ngọc Thái cũng là một nữ thi sĩ. Tôi bỗng nhớ về mối tình của thi nhân Hàn Mặc Tử với nữ sĩ Mai Đình ? Bởi vậy, anh mới khuyên nhủ người tình:
                    Hãy vững bước lên em vào thế giới của ca thi
                    Sẽ giúp em quên mọi điều sầu muộn
                     Anh chỉ tiếc không thể dìu em tới bến...
                     Mong đất trời có Thượng đế đỡ em đi !?
     Như đã nói, tính tôn giáo trong bài thơ mang mầu sắc của kinh thánh: Nhà thơ cầu nguyện với đất trời, thượng đế phù hộ cho em yêu... cất cao thế giới của thi ca, để vượt qua mọi nỗi sầu bi cuộc đời. Suốt khúc tình ca, tràn ngập lòng nhân ái trào ra từ trong trái tim chàng. 
     Bài thơ được chia làm hai phần, cách nhau bởi một "hoa thị" (*) - Giờ tôi xin phân tích phần hai:
                    Thơ viết đã dài mà chẳng thỏa nỗi tình si
                    Ta lại cất tiếng gọi tên em:
                    -  Người thôn nữ miền sông nước...
                    Mai dân tộc có đặt ta nằm ở nơi nào
                                                     dưới gầm trời tổ quốc
                    Hãy đưa mộ nàng về
                                                chôn cạnh nấm mồ ta.
     Lòng thi nhân da diết bên hình bóng người yêu đến mức độ, mai nếu chết đi vẫn mong được đời chôn chung bên mộ nàng. Chàng hẹn kiếp sau, sẽ cùng nàng kết duyên trăm năm chồng vợ. Ở đây ta còn thấy, bài thơ mang ý nghĩa lên án chiến tranh, ca ngợi tình yêu trong cuộc sống con người:
                    Để con cháu đời đời cất cao bản tình ca
                    " Không có chiến tranh,
                                             chỉ có tình yêu bất diệt ! "
                     Anh sẽ nâng hình em bay trên đất trời nước Việt
                     Vượt qua mọi chủ nghĩa tới muôn năm.
     Đức nhân ái của con người đứng trên mọi tuyên ngôn đảng phái. Các chủ nghĩa có thể thay nhau, nhưng tình yêu muôn đời bất diệt ! Cùng với thi ca... anh sẽ mang tình em đi khắp bầu trời tổ quốc, qua mọi thời đại tới mai sau. Cuối cùng nhà thơ đã kết:
                     Em hãy hòa nước mắt vào
                                          viết những bản tình ca
                     Nó vĩ đại hơn các luận ngôn đảng phái
                     Ta sẽ là ánh sao băng trên thiên hà sông núi
                     Anh đợi đón em về
                                                  trong thế giới bên kia.
     "Người thôn nữ miền sông nước" không chỉ là một áng thơ tình sâu lắng, nó còn thấm đẫm tính triết luận cõi nhân sinh... mang dáng dấp của một bản hùng ca về "tình yêu và cuộc sống" ! Bài thơ không dừng lại ở tình thương yêu, chia sẻ nỗi xa xót, an ủi em:
                     Ôi ! Người thôn nữ anh thương
                     Cuộc tình mình dù đắng đót bao nhiêu
                     Nhưng hãy nghe lời anh:
                                         - Ta được nhiều hơn mất...
                     Đã giúp em nhìn ra nghĩa sống
                                             trong bể đời khốn kiếp
                     Vượt lên bão táp, phong ba.
     Tình thi đã vượt lên mang tính nhân văn xã hội sâu sắc. Nhà thơ Phạm Ngọc Thái đã để lại cho văn đàn Việt... một thiên tình ca trác tuyệt ! Có khả năng tồn tại trong nền văn học nước nhà và sống với nhân gian.

                Hà Nội, mùa đông 2018
                      TUYẾT NGA
     GV Trường ĐH Khoa học Xã hội Nhân văn
READ MORE - PHẠM NGỌC THÁI VỚI THIÊN TÌNH CA TRÁC TUYỆT - Tuyết Nga