Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, October 20, 2020

CHÁY LỬA ĐAM MÊ - Cảm nhận thơ Tống Thu Ngân - MacDung

 




CHÁY LỬA ĐAM MÊ

Cảm nhận thơ Tống Thu Ngân

MacDung

 

Tôi nhớ một câu nói của triết gia Pascal cho rằng: Hãy chắp cho ý tưởng một đôi cánh để nó bay lên khỏi mặt đất và hãy cho một chút chì để giữ những ý tưởng không bay mất...

Đây có thể là nhận định mang tính triết lý nhân sinh, trải nghiệm theo từng giai đoạn đời người. Giai đoạn cho những ý tưởng chín chắn thông qua trải nghiệm với thời gian như có chút chì từ cuộc sống giúp ý tưởng lơ lửng trước mắt người thưởng thức...

Mimosa Tím – Tống Thu Ngân đã chắp cánh cho đam mê, thêm chì cho ý tưởng, và giữ được ngọn lửa đam mê cháy suốt một chặng đường với 1500 bài thơ chưa hề biến mất theo ngọn gió...

Tiếp cận hiện thực, dòng tình thi được thêm chất xúc tác từ thể loại thơ tự do, cho thấy Mimosa Tím vẫn duy trì sức sáng tạo bằng những thử thách phá vỡ lối mòn trong sự nghiệp đến với thi ca.

Đâu đó tôi vẫn bắt gặp một Tống Thu Ngân hừng hực sức sống với nội hàm mở rộng biên độ, khiến sự liên tưởng người thưởng thức bước vào chân trời khám phá mới từ thế giới con chữ. Chất thơ Mimosa Tím không mang tính thách đố khiến người đọc dễ rơi vào võ đoán hơn là một sự “trực chỉ nhân tâm” trong từng thi tác được thẩm thấu gần gũi hơn với bạn đọc. Vì vậy dòng thơ Tống Thu Ngân mang dáng dấp tư tưởng triết học “có Thành tất sẽ Cảm” nhiều hơn sự đánh đố bằng ngôn ngữ ẩn dụ quá nhiều nghĩa, khiến độc giả phải “nát óc” trằn trọc trong đêm.

Con nhà ai nấy đẹp! Điều này giống như 12 cách chỉ trích người không làm phật ý, trong Đắc Nhân Tâm (bản dịch Nguyễn Hiến Lê) tôi từng chiêm nghiệm từ khi ngồi ghế lớp 9 trường làng. Tôi không bao giờ đánh giá một dòng thơ, khi xét tư cách mình không đủ trình độ thẩm định thi tác hay cả một tác phẩm in, nhưng tôi được quyền cảm nhận theo cách riêng và bỏ qua tính “ba phải” vốn xuất hiện rất nhiều trên văn hóa mạng ngày nay. Khi bạn nhìn với góc độ khách quan hơn sẽ thấy rằng: Lúc mới vào nghề hầu như những bài thơ viết ra đều “bỏ đi”, cho đến một ngày tác giả thốt lên “vầy mới là thơ”! Vậy, bạn không nên đánh giá một tác giả mới vào nghề đem so bì với các tác giả thành danh đã mấy năm hoặc mấy chục năm thể hiện đầy kinh nghiệm. Phải có cách nhìn ưu ái hơn từ những bậc đi trước khi đánh giá về thế hệ tiếp theo... Đối với tôi: Ai dám đem suy nghĩ, sự trải nghiệm, chia sẻ đến với cộng đồng đều đáng được 10 điểm nhiệt tình vì cống hiến. Còn thi tác của họ hay hoặc dở tùy bạn đọc quyết định chứ hoàn toàn không lệ thuộc vào vài nhận định thuộc “cây đa, cây đề”, nhất là mọi sự thể hiện bao giờ cũng cần có thời gian...

Có nhiều đánh giá trái chiều về dòng thơ Mimosa Tím – Tống Thu Ngân nhưng niềm đam mê vẫn cứ cháy bỏng với sáng tạo. Nhà thơ đạt về Lượng (khoan bàn đến Chất) trong hầu hết thời gian năm: sống, ngủ, nghỉ, ăn, nằm... với... thơ... Và điều này thì ai cũng phải công nhận!

Khi sự đầu tư đi đến tận cùng, lửa nhiệt tình sẽ cho ra kết quả, và kết quả ấy tất nhiên chiếm một giá trị nhất định trong lòng bạn đọc cho dù đâu đó vẫn ẩn hiện lòng ganh tỵ! Nhà hiền triết Thích Ca vẫn bị ganh tỵ thì huống chi những “phàm phu, tục tử” sao tránh khỏi? Ai vượt lên được điều này mọi sự sẽ rơi lại phía sau...

Chất thơ Mimosa Tím – Tống Thu Ngân có được từ tình yêu văn học xuất phát tại đỉnh nguồn bất tận chất liệu. Nhà thơ yêu con chữ và coi đó như niềm vui sống với nhiều mảng đề tài “giơ tay hái lấy” không phí thời gian. Hiệu suất sáng tạo từ Mimosa Tím có thể làm bạn đọc cảm thấy nhàm chán đối với cách thể hiện ra vẻ “lối mòn” nhưng quên mất sự “dị biệt” khi hầu hết thi phẩm không “nhập nhằng” cùng bất cứ tác giả nào.

Làm ra thi tác hay đã khó! Định hình cả một sự nghiệp thi ca lại càng khó hơn! Nếu ai từng theo dõi con đường “thăng trầm” Tống Thu Ngân từng đi qua, sẽ bắt gặp rất nhiều “cái riêng”, khi đập vào mắt đã thấy bóng dáng Mimosa Tím. Không lẫn lộn được!...

Tư duy sáng tác là cái cốt lõi trong văn học. Nếu bất lực trong việc khai mở được điều này, dù tác giả có tham gia trăm ngàn trại sáng tác nhưng về mặt đề tài cũng bằng không! Đề tài trong cuộc sống vốn ở quanh ta. Ai nắm bắt nhanh, đi vào chiều sâu bản chất, tức người đó đã khai mở được tư duy sáng tạo từ bản thân. Tống Thu Ngân cho thấy thế mạnh của mình khi mảng đề tài cứ miên man xuất hiện về Lượng nhưng vẫn đảm bảo sự ổn định Chất, không rơi vào nhàm chán.

Lối chen vần lưng trong thơ tự do và cách ngắt dòng buông nhịp từ Mimosa Tím luôn tạo cái duyên của cô thiếu nữ đến với tình yêu bằng sự trong sáng, không chút sến súa, gây cảm giác quá tải đến người đọc. Tình thi Tống Thu Ngân không nặng nề đến độ gây bi ai và lấy nước mắt người đọc. Tình yêu ấy thích sự thể hiện, bày tâm sự nhung nhớ hơn là một kết cục đổ nát hoang tàn. Thơ Mimosa Tím vì vậy thích Mở đầu hơn Kết thúc và chính điều này làm nên chất tươi sáng trong dòng tình thi Tống Thu Ngân miệt mài ngày đêm theo đuổi.

Nếu như chưa một lần tiếp chuyện. Nếu như không sống trong thời đại Internet với mạng xã hội nối kết toàn cầu. Khi đọc thơ Mimosa Tím không ai có thể đoán được tuổi tác từ chiêm nghiệm thi phẩm, bởi sự mộc mạc và thiên nhiên đề cao trong suốt dòng chảy văn học. Nếu nói Thành tất sẽ Cảm thì điều dễ thấy nhất từ Tống Thu Ngân là tấm lòng Thành bắt nguồn từ say mê sáng tạo không bờ bến. Hầu hết tứ mùa trong năm, sức ra thơ của Tống Thu Ngân gây kinh ngạc đến người quan sát lẫn bạn đọc bởi ngọn lửa nhiệt tình chưa hề lụi tàn...

“Cõi hoang vu chưa hề có bóng chân người đặt tới

Đó là vùng tâm tưởng của riêng tôi

Đã mấy ngàn năm vẫn cứ âm thầm

Miền tâm tưởng vẫn như một lời thề huyền thoại

Anh đến từ hồng hoang bao kiếp trước

Cánh chim xanh gõ nhẹ vào đời

Trong một rừng tâm tưởng chơi vơi

Và đánh thức diệu kỳ hoa vô ưu nở...”

(Con Chim Xanh Bay Về Vùng Tâm Tưởng)

Nếu đại từ nhân xưng “Anh” được xem là ẩn dụ cho một tình yêu bất diệt như sự sáng tạo thi ca, thì tình yêu lớn Mimosa Tím dành cho văn học chắc có lẽ đã khởi đầu từ thuở hồng hoang. Ai cấm nhà thơ đưa tình yêu con chữ vào dòng thơ như một chàng hoàng tử, tác giả vẫn mãi ngóng trông!?

“Tay hái nhẹ một thiên đường thơ mộng

Cánh chim xanh trong tổ ấm tìm về

Mùa giáp hạt cũng là mùa hôn phối

Miền tâm tưởng vỡ òa trong mật ủ lâu năm

Tay gõ nhẹ, tiếng trăm năm

Con chim mộng dang đôi cánh rộng

Ôm vào lòng điều kỳ diệu thiết tha

Óng ánh mật đời... tan chảy... thế giới nở ngàn hoa...”

Mỗi người đều có một khả năng! Mỗi người đều có một tình yêu! Tình yêu lẫn khả năng cần phải biết giữ lửa đam mê cháy đến tận cùng để món ăn chín tới... Mimosa Tím – Tống Thu Ngân đã trở thành một đầu bếp giỏi khi gia vị, hương sắc, phối ngẫu đã cho ra nhiều sản phẩm đậm tính dân gian...

Một chiều tôi cảm thơ trong ánh nắng ngả nghiêng vàng...

 

VL – 8.9.2020

MacDung

READ MORE - CHÁY LỬA ĐAM MÊ - Cảm nhận thơ Tống Thu Ngân - MacDung

THƯƠNG LẮM MIỀN TRUNG - Thơ Trường Hải Lê Văn Đông

                    


                                                                                                                                                                                                          

THƯƠNG LẮM MIỀN TRUNG

 

Miền Trung

Đòn gánh hai đầu Đất nước

Mảnh mai lá lúa gầy hao

Đầu tựa Trường Sơn trùng điệp

Mưa nguồn, nắng lửa, gió Lào.

Chân đạp biển xanh, cát trắng

Bốn mùa bão nổi xác xao.

Miền Trung

Chịu nhiều bom đạn

Bao đời chinh chiến Bắc - Nam

Con người miền Trung dày dạn

Bền gan trụ vững truyền đời.

Miền Trung bão chồng lên bão

Sinh ra đối mặt cuồng phong.

Miền Trung lũ chồng lên lũ

Bốn bề nước ngập mênh mông.

Miền Trung

Muôn đời mưa bão

Sức người đổ bể đổ sông.

Chắt chiu kiệm cần xây dựng

Thiên tai tàn nhẫn cướp công.

Miền Trung

Quê tôi thương lắm

Nghẹn ngào nước mắt tuôn rơi.

Tự hào, đau thương hòa quyện

Thương hoài dải đất miền Trung .

 

Trường Hải Lê Văn Đông


 

 VANG VỌNG NÚI SÔNG

 

Tiếng kêu cứu nơi đầu sông đỉnh núi ,

Các anh lên đường, mệnh lệnh lương tâm,

Sao trên mũ và trái tim nhân ái,

Đến chỗ hiểm nguy không chút ngại ngần.

Núi sạt lở, cả đất trời rung chuyển ,

Các Anh hi sinh - vì nghĩa lớn quên thân.

Tổ Quốc ghi công, anh hùng cao cả,

Các Anh mãi còn sống giữa lòng Dân.

 

Trường Hải Lê Văn Đông     

READ MORE - THƯƠNG LẮM MIỀN TRUNG - Thơ Trường Hải Lê Văn Đông

Monday, October 19, 2020

MẸ GIÀ TRIÊNG GIÓNG CÒNG LƯNG... – Thơ Lê Phước Sinh

 


    


MẸ GIÀ

TRIÊNG GIÓNG CÒNG LƯNG...

 

Nghe tin Bão đến

kéo từ Biển Đông

ù ù Gió cuộn

xoay rít ngàn vòng…

 

rơi ngàn cái khổ

xé vạn tâm can

Mẹ còng lưng gánh

Tơi Áo tan hoang

 

Bão cuồng bạo hú

Giông Tố mịt mù

Tượng Đài Lịch Sử

Đá rướm Mồ hôi

 

MẸ các con ơi...

 

LÊ PHƯỚC SINH


READ MORE - MẸ GIÀ TRIÊNG GIÓNG CÒNG LƯNG... – Thơ Lê Phước Sinh

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 8) – Nguyên Lạc

 


ẤM NGHI HƯNG THEO THỜI GIAN

Theo sách Dương Tiện Mính Hồ Lục (Sách về các ấm trà vùng Dương Tiện) của Chu Cao Khởi thì đời Chính Đức, Gia Tĩnh nhà Minh có Cung Xuân tài nghệ tuyệt vời, là người nổi danh đầu tiên về làm ấm tử sa. Cung Xuân vốn là gia đồng của Ngô Sĩ đất Nghi Hưng thường theo hầu Ngô Sĩ đến học tại chùa Kim Sa. Trong chùa có một vị hòa thượng có tài làm đồ sứ nên Cung Xuân theo nhà sư học nghề nặn ra những tác phẩm trông chẳng khác gì đồ kim loại xưa. Khi Cung Xuân nổi danh, ông thường cùng Bộc Trọng Khiêm (đất Gia Định) khắc trúc, Lục Tử Đồng (đất Tô Châu) chạm ngọc, và Khương Thiên Lý khảm xà cừ. Tất cả đều là những người nổi tiếng đời Minh. Cung Xuân nặn ấm không lâu — truyện kể rằng ông bị quan sở tại vì yêu chuộng tài nghệ ông nên bức bách khiến ông phải bỏ xứ mà đi — nên tác phẩm của ông hiện nay lưu truyền rất ít. Sách vở chỉ còn ghi một chiếc ấm của ông hình 6 múi hiện tàng trữ tại Viện Trà Cụ Hongkong nặn năm Chính Đức thứ 8 (1513). Thế nhưng còn một cái ấm khác cũng của Cung Xuân để tại Singapore thì ít thấy sách vở nào đề cập. Theo bài “Nghi Hưng và Nghiên Mực” (Yi Hsing and Inkstones) trong tạp chí Arts of Asia, số July/August 1971 thì ông C.M. Wong, Bí Thư của Phòng Thương Mại Singapore và là Chủ Tịch Hiệp Hội Hoa Nhân tại đây có trong bộ sưu tập của ông một ấm Cung Xuân hình vỏ cây. Ấm này đề năm 1506, có triện của người nghệ sư. Phần dưới quai cầm lại còn một vết dấu tay điểm vào mà người ta bảo rằng đó là vết ngón tay thứ sáu của Cung Xuân (Bàn tay phải của ông có sáu ngón).

Sau thời Cung Xuân, nghệ thuật làm ấm đất nung vùng Nghi Hưng thịnh đạt, đến đời Vạn Lịch càng có nhiều danh thủ. Lý Ngư viết là: “Trà không gì bằng dùng ấm bằng tử sa, mà vùng Dương Tiện là hạng nhất”. Từ đời Minh trở đi, việc dùng ấm tử sa để uống trà trở nên thông dụng. Người ta để ý đến phẩm chất trà đã đành mà còn kén chọn cả cách pha trà, nước nào pha trà ngon, uống lúc nào mới hợp.

Trước kia, ấm trà bằng sứ là quí nhất nhưng khi ấm tử sa ra đời thì không mấy ai còn chuộng ấm sứ nữa. Cổ nhân tổng kết ấm tử sa có bảy ưu điểm:

Chế nước sôi vào không làm trà mất hương vị, sắc hương còn nguyên

Bình trà dùng lâu, chế nước không cũng ra mùi trà

Trà vị không bị biến chất

Chịu nóng cao, mùa đông tháng giá đổ nước sôi vào không bị nứt

Ít truyền nhiệt, cầm vào không phỏng tay

Dùng càng lâu càng lên nước, bóng lộn

Có nhiều màu khác nhau, dễ lựa chọn

Vì ấm tử sa là một tác phẩm nghệ thuật nên trông ấm người ta có thể đánh giá được người nặn vào bậc nào. Thành ra, trong những nghệ nhân nghề sành sứ, thì ngành làm ấm để tên lại nhiều nhất. Sau đời Cung Xuân người ta thấy có Thời Bằng, Đổng Hàn, Triệu Lương, Nguyên Sướng và Lý Mậu Lâm là những thợ nổi danh.

Đời Vạn Lịch, Thời Đại Bân, con của Thời Bằng là người nổi tiếng hơn cả. Văn Chấn Hanh viết trong “Trường Vật Chí” là “ấm trà tử sa là loại tốt nhất, nắp vừa vặn không làm mất hương, lại không bốc hơi. Ấm do Cung Xuân chế tạo quí nhất, đều nhỏ nhắn, hình dáng lạ lùng. Thời Đại Bân chế thì có cái to, cái nhỏ…”. Cùng nổi danh với Đại Bân có Lý (Đại) Trọng Phương, Từ (Đại) Hữu Tuyền, người ta gọi là Tam Đại.

Từ Hữu Tuyền tự Sĩ Hoành, là học trò của Thời Đại Bân, có tài bắt chước các loại đồng khí xưa làm ấm hình tàu lá chuối, đài sen, củ ấu, quả trứng…

Nổi tiếng thời Vạn Lịch còn có Âu Chính Xuân, Thiệu Văn Kim, Thiệu Văn Ngân, Tưởng Bá Cung, Trần Dụng Khanh, Trần Tín Khanh, Mân Lỗ Sinh, Trần Quang Phủ, Thiệu Cái, Thiệu Nhị Tôn, Chu Hậu Khê…

Thời Vạn Lịch, ngoài việc nặn ấm, các nghệ nhân còn dùng đất tử sa điêu khắc và các chế tạo vật phẩm khác, rất thịnh hành. Người nổi tiếng nhất là Trần Trọng Mỹ ở Vụ Nguyên, An Huy. Họ Trần trước vốn ở Cảnh Đức Trần làm đồ sứ. Sau đến Nghi Hưng kết hợp nghệ thuật đồ gốm với nặn ấm, tạo ra các loại đỉnh hương, bình hoa, cục chặn giấy .. rất xinh xắn. Người nổi danh đồng với Trần Trọng Mỹ thì có Trẩm Quân Dụng, tự Sĩ Lương.

Sau đời Vạn Lịch có Trần Tuấn Khanh, Chu Quí Sơn, Trần Hòa Chi, Trần Đình Sinh, Thừa Vân Tòng, Trẩm Quân Thịnh, Trần Chấn, Từ Lệnh Âm, Hạng Bất Tổn, Trẩm Tử Triệt, Trần Tử Huề, Từ Thứ Kinh, Huệ Mạnh Thần, Tiết Hiên, Trịnh Tử Hầu…

Trên đây là những nghệ nhân nổi tiếng khéo đời Minh. Về sau, người ta mô phỏng rất nhiều những kiểu họ đã chế tạo nên những ấm nào thực sự đời Minh, cái nào đời sau khó ai biết được. Đồ tử sa lại không đề niên đại như đồ gốm nên càng khó phân biệt chân giả.

Sang đến đời Thanh, nghệ thuật làm ấm còn thịnh đạt hơn nữa. Triều đình nhà Thanh chuộng đồ tử sa nên càng coi trọng. Văn khố nhà Thanh còn ghi lượng hàng mỗi năm tiến cống vào cung. Phẩm chất cũng thêm tinh vi, xảo diệu. Ngoài ấm đất, ngưòi ta còn nặn bồn trồng cây cảnh, bình hoa, và dụng cụ dùng trong nhà. Màu sắc pha chế cũng phong phú hơn.

Nghệ nhân nổi tiếng đời Thanh rất nhiều. Người xuất sắc nhất là Trần Minh Viễn, hiệu Hạc Phong, lại có tên là Hồ Ân, chế ra hàng chục thứ ấm trà, đồ dùng khác nhau, không cái nào giống cái nào, quả là bậc thầy trong nghề. Những tác phẩm mà Trần Minh Viễn còn để lại hết sức tinh xảo, lại đầy sáng tạo. Cái thì hình một gốc mai già, cái thì hình bó củi, trông như một nghệ phẩm điêu khắc tả chân hơn là một trà cụ. Ông còn nặn những trái cây tầm thường như hạt dẻ, củ đậu phộng … trông hết sức tinh xảo, thoạt trông không ai bảo là một vật bằng sành.

Sách Trùng San Kinh Khê Huyện Chí, viết năm thứ hai đời Gia Khánh, (Thanh) dùng bốn chữ “vạn gia yên hỏa” (nhà nhà đều khói lửa) để chỉ khung cảnh sinh hoạt bấy giờ. Đời Ung Chính, Càn Long thì có Trần Hán Văn, Dương Quí Sơ, Trương Hoài Nhân. Chế tạo đồ dùng trong cung vua thì có Vương Nam Lâm, Dương Kế Nguyên, Dương Hữu Lan, Thiệu Cơ Tổ, Thiệu Đức Hinh, Thiệu Ngọc Đình nhưng thiên về ấm có trang trí, màu sắc. Những chuyên gia cho rằng kết hợp hai kỹ thuật của Cảnh Đức Trấn (nơi chế tạo đồ sứ tráng men) với Nghi Hưng đã làm giảm đi phong vị của ấm tử sa, bản chất vốn giản phác, gần thiên nhiên. Cầu kỳ hóa một nghệ thuật vốn dĩ đạm bạc đã khiến cho nghệ thuật nặn ấm đổi hẳn sắc thái, mất đi tính nguyên ủy của nó.

Sang đời Gia Khánh, những người tên tuổi có Huệ Dật Công, Phạm Chương Ân, Phan Đại Hòa, Cát Tử Hậu, Ngô Nguyệt Đình, Hoa Phượng Tường, Trinh Tường, Quân Đức, Ngô A Côn, Hứa Long Văn…

Thời Đạo Quang có Dương Bành Niên và em gái là Dương Phượng Niên cùng với Trần Hồng Thọ, Thiệu Đại Hanh là những danh gia. Trần Hồng Thọ hiệu là Mạn Sinh, đời Gia Khánh làm huyện tể đất Lật Dương. Ông là người giỏi viết chữ, vẽ tranh, khắc triện lại thích sưu tầm ấm tử sa. Nhiều ấm do Dương Bành Niên và nhà họ Dương chế tạo ra, đợi cho hơi khô, Trần Hồng Thọ dùng dao tre khắc, vẽ, viết chữ, đề thơ lên rồi mới đem nung. Việc kết hợp hai tài danh, một nặn ấm, một thư họa là sáng tác mới của thời đó. Ấm thường có đề “A Mạn Đà Thất” (là tên thư trai của họ Trần) hay dưới đáy có khắc “Bành Niên”. Đời sau gọi là ấm Mạn Sinh (Mạn Sinh hồ).

Theo chân Trần Hồng Thọ, nhiều danh sĩ khác như Kiều Trọng Hỉ, Ngô Đại Trừng cũng đứng ra chỉ đạo việc nặn ấm. Từ đó, một kỹ xảo vốn chỉ được coi như nghề mọn nay đã lan sang cả giới nho gia. Tuy không được phổ biến như thư họa nhưng cũng không còn là một tiện nghệ như trước nữa.

Một danh sĩ vốn giỏi về vẽ trúc là Cù Tử Trị lại đem việc khắc trúc, họa trúc vào trang trí trên ấm. Họ Cù không những mang thư pháp mà còn khắc hẳn những cành trúc, cành mai nghĩa là coi chiếc ấm như một tờ giấy hay vuông vải để thi thố tài hàn mặc.

Còn Thiệu Đại Hanh thì là một nghệ nhân nổi tiếng không kém gì Dương Bành Niên. Trong khi Dương nổi danh về tinh xảo thì Thiệu có tiếng về giản phác. Ông không cầu kỳ nhưng cũng có nhiều sáng kiến độc đáo. Chính kiểu nắp ấm đầu rồng, khi rót thì lè lưỡi ra là do ông khởi thủy, tới nay vẫn còn nhiều người bắt chước và khá phổ biến trên thị trường.

Cuối đời Thanh, Chu Kiên lại có sáng kiến dùng thiếc và ngọc để bịt hay khảm vào ấm tử sa. Nhiều thân ấm được bịt thiếc và viết chữ rồi dùng ngọc trạm thành quai, thành vòi ráp vào. Thế kỷ thứ 19 nhiều người còn bịt đồng hay thau nhưng nói chung những kiểu này không được chuộng lắm.

Vào thời điểm này, việc thương mại giữa Trung Hoa và nước ngoài đã phát triển. Nhiều cường quốc đã chiếm những lãnh địa ở duyên hải hay cưỡng ép nhà Thanh nhường làm tô giới và Thanh đình đã phải mở cửa cho họ vào buôn bán. Trà Tàu trở thành một nông phẩm xuất cảng quan trọng và ấm Tàu cũng được sản xuất qui mô để bán ra ngoài. Nhiều công ty thành lập tại Thượng Hải, Nghi Hưng, Thiên Tân, Hàng Châu đại lý bán ấm Nghi Hưng. Những kiểu ấm thời đó cũng vẫn theo mô dạng cũ. Một công ty ở Thượng Hải là Thiết Họa Hiên đến nay vẫn còn. Thiết Họa Hiên nổi tiếng vì chữ viết trên ấm rất đẹp. Những nghệ nhân nổi tiếng của họ gồm có Tưởng Yến Hanh, Trần Quang Minh, Phạm Đại Sinh, Vương Diễn Xuân, Trình Thọ Trân. Những ấm xuất cảng thường có cả con dấu của nghệ nhân lẫn con dấu của hãng. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 có hai hãng khác là Chân Ký và Ngô Đức Thịnh cũng phát đạt.

Thời Dân Quốc ấm Nghi Hưng được xuất cảng rất nhiều sang Nhật Bản, Đông Nam Á, Âu Châu và Mỹ Châu. Thời đó cũng có nhiều thợ khéo nhưng kiểu thường giản dị, cân đối chứ không cầu kỳ như thời trước. Có lẽ vì nhu cầu thương mại và thị hiếu đã thay đổi. Đến thời loạn lạc thập niên 1930, 1940 việc sản xuất ấm phải đình trệ. Sau khi Trung Cộng nắm quyền, việc sản xuất được qui tụ thành công xã nhưng không phát triển được. Thời Cách Mạng Văn Hóa lại một lần nữa kỹ nghệ này bị vùi dập. Trong chế độ Cộng Sản, uống trà bị coi là một tàn tích tư sản, bóc lột, phi sản xuất nên bị bài xích. Việc làm ấm vì thế cũng bị triệt hạ. Sau khi Đặng Tiểu Bình thi hành chính sách cải tổ, Trung Cộng phục hồi ngành nặn ấm tử sa. Năm 1979, xí nghiệp Nghi Hưng Tử Sa đã sử dụng đến 600 nhân công. Hiện nay, một số thợ chuyên môn trẻ và tương đối có trình độ đã khôi phục lại được công nghiệp này, nhất là càng ngày càng có nhiều người ưa chuộng và sưu tập.

(Mục Ấm Nghi Hưng Theo Thời Gian tác giả trích đoạn từ bài viết: Trà Tàu Và Ấm Nghi Hưng – của Nguyễn Duy Chính)

CÁCH CHỌN, SỬ DỤNG VÀ BẢO DƯỠNG ẤM TỬ SA

CÁCH CHỌN ẤM TỬ SA

Một cái ấm quý phải hội đủ mấy điều kiện:

– Miệng, vòi và quai ấm phải ngang nhau, lúc đặt sấp xuống bàn không chênh vênh; đổ nước sôi vào phải nóng ngay mà quai ấm cầm vẫn không bỏng; nắp ấm phải khít khao với miệng ấm, nắp ấm có một lỗ nhỏ mà nước không được trào ra ở lỗ ấy.

3 ĐIỂM TRÊN MỘT ĐƯỜNG THẲNG

 

       
(Hình ấm trà: Miệng, vòi và quai ấm phải ngang nhau)

– Lúc cầm lên pha vào chén, nước từ ấm ra phải chảy thành một đường như đường chỉ, không được vung vãi. Lúc ngừng tay, nước không trào ra ngoài giọt nào.

– Đặt ấm vào tai, nghe vi vu như tiếng sóng. Đất phải thật nhẹ và mịn nhuyễn. Đất màu tím là hạng nhất gọi là Tử Sa, Thiết Sa, Chu Sa hạng nhì, sau đó còn hoàng sa, bạch sa, lam sa, đều có thể dùng làm ấm trà nhưng ở các hạng sau.

– Da ấm cần phải mỏng, láng, gõ vào kêu tiếng thanh, ấm dùng lâu, bao giờ cũng có cốt trà đóng bên trong, để cho giữ hương vị trà. Không ai mang ấm trà ra mà kỳ cọ bao giờ, đó là điểm tối kỵ trong nghệ thuật uống trà.

Tiêu chuẩn kinh điển chọn mua ấm Tử sa

Thả ấm vào chậu nước nổi bồng bềnh, không nghiêng lệch; nhận chìm xuống rồi buông tay, ấm sẽ nổi trồi lên mặt nước mà không bung nắp hay bị lật chìm; hoặc bịt ngón tay vào lỗ thông hơi trên núm nắp ấm thì rót nước không chảy; dùng nắp ấm gõ nhẹ vào quai phát ra âm thanh như tiếng sắt, tiếng đồng…

1. Nhìn bằng mắt: Hình dáng thanh thoát, ưa nhìn.Các bộ phận như :thân ấm, nắp, miệng, vòi, quai, đáy phải cân đối, liền lạc. Màu sắc đồng đều trong ngoài. Dấu triện của nghệ nhân hay nhà sản xuất nét chữ sắc sảo, đặt cân đối ở trung tâm đáy ấm, theo trục thẳng từ quai sang vòi ấm. Những chiếc ấm đắt tiền thường có thêm dấu triện phụ dưới nắp và quai cầm thật rõ nét. Vòi ấm có thể dài ngắn khác nhau, nhưng quan trọng là khi rót, nước chảy thông, đều và thẳng dòng, không rơi vãi hay đọng giọt nhểu ra ngoài.

2. Nghe bằng tai: Đặt ấm lên lòng bàn tay, tay kia cầm nắp ấm khẽ gõ vào quai, tiếng kêu đanh; chắc như kim loại chạm vào nhau.

3. Cảm nhận bằng tay: Trơn láng, mịn màng, không tì vết. Nắp và miệng ấm khít khao, vì ấm Tử sa được nung trong lò liên tục 23 tiếng đồng hồ ở nhiệt độ từ 1.190 – 1.270 độ C (trung bình 1.200 độ C), đòi hỏi tay nghề nghệ nhân phải cao, chất đất phải thật tốt và mịn mới không bị co giãn khi nung. Do tính bào mòn trong quá trình sử dụng, một chiếc ấm dùng càng lâu càng lên nước, không đổi màu, đó mới chính là đặc trưng ưu việt của ấm Tử sa, chứ màu sắc đất không liên quan gì đến chất lượng và công dụng.

4. Nắp ấm phải kín, thử bằng cách đổ ¾ nước vào ấm rồi đậy nắp lại (tay ghì giữ nắp ấm cho chặt) và nghiêng vòi nếu nước không chảy ra thì nắp ấm kín.

– Vỏ ấm phải cứng, cầm ấm lên dùng ngón tay gõ nhẹ vào thành ấm nghe boong boong càng trong càng quý.Vỏ càng cứng càng ít thẩm thấu và nắp càng kín càng ít thoát hơi nước, có như vậy trà mới ấm lâu và ít bay thoát hương vị.

Trong truyện “Những cái ấm đất” Nguyễn Tuân có đề ra tiêu chuẩn lựa ấm:

“Nếu không tin ông cứ úp ấm xuống mặt miếng gỗ kia. Cho ấm ngửa trôn lên. Cứ xem miệng vòi với quai và gờ miệng ấm đều cắn sát mặt bằng miếng gỗ thì biết. Nếu muốn thử kỹ nữa, quý khách thả nó vào chậu nước, thấy nó nổi đều, cân nhau không triềng, thế là đích ấm tàu.” (Những chiếc ấm đất – Nguyễn Tuân).

SỬ DỤNG VÀ BẢO DƯỠNG ẤM TỬ SA

Những chiếc ấm trải qua thời gian dài sử dụng và bảo dưỡng sẽ trở nên sáng ngời, tròn trịa, dày nặng, rắn chắc và tinh khiết. Nói chung, giá trị của nó chỉ có tăng chứ không giảm.

Có người mua ấm mới về không đem ra dùng ngay, họ dùng giấy nhám loại nhuyễn thấm nước chà trong ngoài cho hết bụi đất lò nung gốm bám dính vào, rồi rửa sạch. Sau đó cho ấm vào một nồi nước đun sôi suốt mấy tiếng đồng hồ. Có người đun sôi ấm như thế trong một nồi bã trà lớn nhiều giờ hay nhiều ngày đêm, để ấm có thể hấp thu chất trà vào các lỗ thông khí (khí khổng), loại bỏ mùi của đất, hương vị trà không bị át mất. Ngày nay, trên thị trường đã có bán loại máy chuyên dùng bảo dưỡng ấm, bằng cách phun nước trà liên tục suốt một ngày đêm để tôi những chiếc ấm mới.

Những tay cự phách trong làng trà thường không thích ấm mới, vì còn hôi mùi đất; ấm càng cũ càng tốt vì trong lòng ấm có gợn lớp bợn trà, mới cho ra nước trà ngon. Vì điều này, các người sành trà ít dùng chất tẩy rữa bên trong ấm trà, chỉ tráng qua nước nóng sau khi dùng, rồi úp để ráo.

ẤM TRÀ THỜI TRỊNH NGUYỄN

Sẵn bàn về các ấm trà, tôi xin ghi ra đây trích đoạn bài viết “Bộ ấm cũ” của Phí Ngọc Hùng để các bạn hiểu thêm sự trân trọng ấm trà cuả người xưa:

“Theo điển tích thì tất cả những bộ ấm trà của các cụ từ thời Trịnh Nguyễn được gọi chung là đồ “ký kiểu”, hiểu theo nghĩa là vẽ kiểu trước và ký là dấu ấn hay một bài thơ ngắn. Khởi đầu từ chúa Trịnh Sâm, người được coi là trà sư của nghệ thuật uống trà, tự nhận mình là “trà nô”, với chén bạch định hay bạch trản ký hiệu “Nội Phủ”. Sau đó, cụ Nguyễn Du mang về cho vua Gia Long bộ ấm “Giáp Tý 1804”, riêng cụ có bộ Mai Hạc với hai câu thơ “Nghêu ngao vui thú yên hà, mai là bạn cũ hạc là người quen”. Tiếp đến vua Minh Mạng có bộ “Chữ Nhất”, vua Thiệu Trị với bộ “Mãn Hoa Tùng Đình” và vua Tự Đức cùng bộ “Ngọan Hảo”. Các bộ ấm đặt làm cho các quan, với “chữ đề” gọi là “chấm”. Quan võ thích chấm “Tam Cố thảo lư”, hoặc “Tây Sương ký”. Quan văn ưa “Trúc lâm thất hiền” hay “Đạp tuyết tầm mai” này nọ…

Từ các bộ ấm của các quan, sau rơi rớt lại trong dân gian qua cụ Tú, cụ Cử, cụ Nghè…Các cụ xem bộ ấm trà như vật gia bảo để đi vào giai thoại: Như cụ cử Lưu làng Nguyệt Ánh, tỉnh Hà Đông, cụ có bộ ấm trà “Bạch định” để không thì trắng cả trong lẫn ngoài, nhưng nếu rót trà vào ấm thì hiện lên một bức họa “Thanh sơn bạch vân” thêm bốn câu thơ nhỏ li ty, mỗi câu ở mỗi chén. Năm 1922, cụ cử Nguyễn Kỳ tri huyện Thanh Trì, muốn xem bộ ấm chén đó phải nhờ cụ đồ Thục tiến dẫn và được hương hào, lý trưởng làng Nguyệt Ánh xuất tuần phu, trống rong cờ mở, hương án bái vọng như thiên tử tuần du. Tháng sau, cụ cử Lưu lại khăn gói qủa mướp như trẩy hội qua làng Hoàng Mai để đáp lễ và cũng để thưởng ngoạn bộ chén trà văn kỳ thanh, bất tướng kỳ hình có cái tên “Kim tiên kỳ ngoạn” còn được gọi là bộ “Long linh” từ đời Minh Vĩnh Lạc, khi soi dưới ánh sáng mặt trời thấy “lưỡng long tranh châu”, nét như sợi chỉ và phủ ngoài một lớp men nên nhìn sơ qua chỉ thấy mầu trắng không. Khi nào rót trà, nhìn vào lòng chén, sẽ thấy hai con rồng cử động và ngo ngoe như thật” - (Bộ ấm cũ – Phí Ngoc Hùng)

CÁC LOẠI CHÉN UỐNG TRÀ

1. Chén tống

Chén tống xưa gọi là tướng, sau đổi gọi là tống. Chén tống rất quan trọng, như một vị tướng chỉ huy ba đội quân, nó vừa để tống, vừa để nghênh đón những giọt trà mà người xưa gọi là “Dịch thể ngạnh ngọc bào”.

Chén tống có hai loại: Hoặc là trên dưới bằng nhau, hoặc là miệng hơi loe ra cho khỏi vung vãi đổ ra ngoài phí trà. Chén tống dùng làm giảm bớt độ nóng của nước trà, kẻo uống phỏng môi, bỏng họng. Nó là loại chén chuyên, dùng để chuyển trà từ ấm trà qua những chén quân, rồi uống; vì nước từ ấm trà ra bao giờ cũng phải dùng thứ nước thật sôi, rắt nóng. Nước chưa đủ độ sôi thì trà sẽ không chìm và không toát ra hết tất cả hương vị của từng lá trà, trong ấm trà.

2. Chén quân

Tại sao phải là ba chén quân? Vì người xưa, người Trung Hoa hay có câu “Tam quân đương nhất chiến”, phải ba đạo quân mới giữ vững được một trận tuyến, và người xưa lại còn nói thêm một câu khác nữa là: “Quân chi tam đội, thành nhất chiến chi công”.

Ngay những lúc độc ẩm cũng phải cần tam quân để cho trà vừa nguội, uống hết chén nầy lại uống chén nữa, sau đó mới pha lần khác. Có người để sẵn trong chén tống, pha riêng khi độc ẩm, nhưng nghi thức vẫn đòi hỏi tam quân. Con số ba là số dương – “dương số”, con số vừa vặn, vì nếu 5 thì lại quá nhiều – Theo Dịch học, số lẻ là số dương, số chẳng là số âm; người xưa ít thích số âm, chỉ thích số dương.

Theo ông Vương Hồng Sển thì miền Bắc dùng một chén tống và bốn chén quân; miền Trung trở vào Nam dùng một chén tống với ba chén quân nên mới có thành ngữ “nhất tống tam quân”.

Bộ chén trà lại chia làm bốn loại để dành dùng cho từng mùa: Xuân ẩm, hạ ẩm, thu ẩm và đông ẩm. Hình dạng bốn bộ chén này cỡ vừa (không lớn không nhỏ, không dày không mỏng) vào xuân thu gọi là kiểu xuân ẩm và thu ẩm; nhưng kiểu Hạ ẩm dùng cho mùa Hạ chén nhỏ thành mỏng giúp nước nhanh nguội, kiểu Đông ẩm thì chén trà dày và lòng chén sâu giữ cho trà lâu nguội.

Chén uống trà mà chúng ta gọi là tam quân ở đoạn trên, cũng rất quan trọng, người ta phải chọn chén, men chén phải mầu gì để hợp với sắc trà, hoặc làm tăng thêm sắc lóng lánh của trà, trái lại có những màu men làm giảm sắc trà, tức là giảm hứng thú.

Dưới đời nhà Đường, ở phương nam người ta chế được nước men xanh (thanh từ) và ở phương bắc, nước men trắng (bạch từ). Lục Vũ cho màu xanh là màu lý tưởng của chén đựng trà, vì nó tăng thêm màu lục cho nước trà, còn màu trắng thì làm cho nước trà có vẻ hồng hồng kém ngon. Đó là vì ông dùng trà bánh, về sau, khi các tay Trà sư đời Tống dùng trà bột, họ ưa những chiếc bát nặng màu thanh mặc tức xanh đen và màu âm hạt tức nâu sẫm. Người đời Minh uống trà ngâm lại thích dùng những chiếc chén nhẹ men trắng.

Việt Nam ta có loại chén gọi là chén hạt mít, vì có những màu men tựa màu vỏ hạt mít và chén cũng khá nhỏ.

3. Các loại chén trà quý

– Người xưa có câu “ấm đất Nghi Hưng, chén sứ Cảnh Đức”; nói chén uống trà phải nói đến Cảnh Đức Trấn. Trấn này nguyên trước chỉ là một vùng đất thôn dã mang tên Xương Nam, đến niên Cảnh Đức (1004 – 1007) thời vua Tống Thần Tông (960 – 1279), chọn nơi này làm xưởng sản xuất đồ gốm dành cho vua và triều đình dùng (gọi là Ngự Diêu) nên đổi tên thành Cảnh Đức Trấn. Nếu Nghi Hưng có loại đất sét đỏ gọi là tử sa làm ra loại ấm đất lừng danh, thì Cảnh Đừc có loại đất sét trằng gọi là cao lanh làm ra loại chén sứ có tên tuổi không kém phần lừng lẫy. Sứ Cảnh Đức đặc sắc ở điểm có lớp men ngọc nhiều màu và men ngọc bích (celadon), men chén mỏng và nhẹ, tiếng gõ vang trong và ngân rất dài. Với đặc điểm này làm chén dùng trà khiến trà trở nên tươi ngon hơn.

– Việt Nam từ đời Lý-Trần đã làm ra những sản phẩm sứ dùng trà rồi. Dĩ nhiên vào thời nhà Lý chén trà vẫn còn hơi nặng, dù đã tạo ra men ngọc nhưng men chưa được mỏng, tiếng gõ chưa trong và ngân như chén của người Trung Hoa.

Thư tịch Nhật có ghi thiền sư Raku Zengoro, người phò lãnh chúa Ashikara mang về cho thiền viện Kasuga trà cụ – chén trà có dáng bát trà đời Lý, Trần được gọi là An Nam Yaki của làng Chu Đậu, vì rằng người Việt uống chè xanh, chè vối bằng bát nên ảnh hưởng đến chén tống temmonlu của họ sau này.


     
(Bộ trà Hoa Sen Xanh – Gốm Chu Đậu)

Qua đời Trần thì có những sản phẩm không thua kém nhiều, gốm Chu Đậu về kỹ thuật đã đạt, nhưng vấn đề nguyên liệu sản xuất rõ ràng còn thua kém đất của Cảnh Đức Trấn, vốn lừng danh. Đến đời Lê-Mạc, gốm Chu Đậu được giới chuyên môn hiện nay đánh giá “mỏng như giấy, trong như ngọc, trắng như ngà, kêu như chuông” nên có thể nói không còn thua kém nữa. Gốm Chu Đậu hiện đã được thế giới biết đến, dù số lượng trưng bày trong các viện bảo tàng khá hiếm hoi.

– Nhật Bản và Trung Quốc sinh thù nghịch từ thế kỷ 14, hồi quân Nguyên sang đánh Nhật bị ngọn Thần Phong diệt. Khi nhà Minh lên ngôi, từ năm 1371 ra lệnh cấm dân duyên hải xuất ngoại. Đến năm 1567, mới bỏ luật này, nhưng vẫn cấm vượt biển sang Nhật Bản vì nạn “Nụy khấu” (cướp lùn) quấy nhiễu bờ biển Trung Quốc. Suốt mấy thế kỷ đó, Nhật không quan hệ tốt với Trung Hoa, họ quay xuống Nam và đã tìm thấy nơi Đại Việt, thời nhà Lê nguồn cung cấp tơ sống và gốm sứ.

Lúc này Đại Việt đã làm sứ vẽ lam. Gốm sứ trà Việt nhập vào Nhật Bản nhiều hơn trước, đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật Trà Đạo của Nhật Bản đang hồi cực thịnh. Không gò gẫm tỷ mỷ như bàn tày nghệ nhân đời Minh, với mấy nét đơn sơ trên gốm Việt phóng bút cảnh chim trời, cá nước, sơn thủy, tùng thạch .v.v… xuất cái thần vị Thiền, Lão chẳng khác nào tranh tốc họa Sumie; và thuật thư pháp rất hợp với tâm hồn trà nhân Nhật, làm họ say mê. Vẽ gốm như vẽ tranh Thiền. Di sản tranh cổ họa Việt Nam ngày nay chừng như có thể thấy trên gốm cổ.

– Việt Nam ngoài gốm Chu Đậu, ta cũng thường nghe nhắc đến gốm Bát Tràng.

 


(Bộ trà Tử Sa – Gốm Bát Tràng)

Hai chữ Bát Tràng này ta thường nhớ trong bài ca dao:

Trên trời có đám mây xanh,

Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng.

Ước gì anh lấy được nàng,

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.

Xây dọc rồi lại xây ngang,

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

                                            (Ca dao)

Xin ghi ra đây chuyện về tên Bát Tràng, các bạn có thể dùng trong lúc “trà dư tửu hậu”:

Thời nhà Lê, làng Bát – một chữ không thôi- thuộc huyện Gia Lâm, trấn Kinh Bắc. Thời nhà Nguyễn 1822, trấn Kinh Bắc đổi thành Bắc Ninh và làng được gọi là làng Bát Tràng (tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Hưng Yên, sau thuộc ngọai thành Hà Nội…). Ngòai ra có sách khác viết tên làng Bạch Thổ vì vùng này có đất sét trắng. Theo một cụ cao niên, người làng Bát Tràng, trươc cũng có làm đồ gốm thuật lại cho biết làng Bát Tràng từ chữ Nôm, bát chỉ đồ gốm và chữ Hán, tràng (hay trường) là đất hay vùng dành cho làng nghề. Làng không làm… gạch, tất cả chỉ là sự ngẫu nhiên: Để nung bát, đĩa, dân làng làm gạch để kê, sau mới có gạch Bát Tràng.

Trong Dư Địa Chí, Nguyễn Trải viết: “Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê Cầu thuộc huyện Văn Giang. Hai làng ấy cung ứng đồ cống cho Trung Quốc là 70 bộ bát dĩa, 200 tấm vải thâm.” [Nguyễn Trải Toàn Tập – NXB Khoa Học Xã Hội 1998 – Trg. 225] để chứng minh Việt Nam có lò sản xuất ấm trà ở Bát Tràng.

Có người nói: Tên Bát Tràng khởi nguyên từ hai chữ ghép: của thổ ngơi tổng Bạch “Bát” và tên của anh em ông thợ gốm Nguyễn Ninh “Tràng” mà có.

(Còn tiếp nhiều kỳ)

                                                              Nguyên Lạc


READ MORE - TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 8) – Nguyên Lạc

Sunday, October 18, 2020

MỘT NGÔI CHÙA Ở CAMPUCHIA THỰC HIỆN LỐI SỐNG XANH BỀN VỮNG _ Nguyễn Khắc Phước đọc báo nước ngoài.

 

 

Một cuộc khảo sát của Bộ Tôn giáo và Tín ngưỡng Campuchia vào năm 2018 cho biết nước này có khoảng 4.932 ngôi chùa, trong đó có 563 ngôi chùa cổ. Ngoài ra còn có 68.654 nhà sư sống nhờ vào sự quyên góp và cúng dường để sinh sống.

Nhưng một ngôi chùa ở tỉnh Prey Veng đang chuyển mình theo một làn gió mới bằng cách trồng lương thực. Ngôi chùa này đã thu hút sự quan tâm của người dân trên khắp Vương quốc vì nơi đó có một không gian xanh với nhiều loại cây và rau được các nhà sư trồng và chăm sóc.










Tọa lạc tại làng Snay Proem của xã Senareach Udom ở huyện Preah Sdech, cách Phnom Penh khoảng hai giờ đi bằng ô-tô trên Quốc lộ 1, chùa Serei Sakor Daun Sdoeung được cho là là một trong những trung tâm Phật giáo tốt nhất trong số 500 ngôi chùa ở tỉnh Prey Veng.

Được xây dựng lần đầu vào năm 1874, chùa gần như đã bị phá hủy trong thời kỳ Khmer Đỏ. Sau khi chế độ tàn bạo sụp đổ, các nhà sư và dân làng bắt đầu cùng nhau xây dựng lại từ đống đổ nát..

Các nhà sư đã trồng hơn 3.000 cây xung quanh chùa, trồng rau và lúa để tự túc lương thực. Họ thực hiện lối sống thân thiện với môi trường và nghiêm cấm sử dụng túi nhựa.

Lối sống bền vững được khởi xướng bởi nhà sư trụ trì của chùa, Thầy Im Teang, người tin rằng cây có đời sống ngang bằng với con người.

“Chúng ta coi trọng mạng sống của mình, và chúng ta không nên làm tổn thương mạng sống của người khác. Ngay cả cây cối cũng là những sinh vật sống và chúng ta không nên làm hại cây cối hay thiên nhiên vì chúng cũng là những sinh vật sống giống như chúng ta. Tôi yêu cây cối và thực vật,” nhà sư nói.

Đức Phật Thích Ca đã thực hiện bài giảng đầu tiên của mình và được giác ngộ dưới gốc cây. Phần lớn cuộc đời của Ngài gắn liền với rừng như được miêu tả trong nhiều bức tranh đầy màu sắc trên tường và trần của chùa.

Tuy nhiên, chỉ một số nhà sư Phật giáo tham gia vào việc trồng cây và rau. Ở một số vùng của Trung Quốc, Tây Tạng và Nhật Bản, các tu viện Đại thừa thường tiến hành canh tác bằng cách trồng trọt hoặc chăn nuôi.

Giống như các quốc gia Đông Nam Á khác, các tu viện Theravada ở Campuchia chủ yếu dựa vào sự quyên góp vì các nhà sư dành cả cuộc đời của mình để tu học.

Các nhà sư Theravada vẫn thực hành theo cách truyền thống là đi khắp nơi thu vật phẩm cúng dường, nhưng đại dịch Covid-19 đang hoành hành đã tạo ra một thách thức đối với thực hành này, vì những các Phật tử được yêu cầu ở nhà và một số gặp khó khăn về tài chính.

Việc làm nông nghiệp tại chùa Serei Sakor Daun Sdoeung được coi là một ví dụ điển hình về một phương pháp tự chủ và bền vững.

Thầy Teang cho biết các nhà sư ở chùa của ông đã làm nông và trồng cây được khoảng 10 năm nay, chủ yếu vì lý do sức khỏe, kinh tế và môi trường.

“Tôi coi trọng sức khỏe tinh thần và thể chất và tôi tin rằng trồng cây ăn trái và rau màu có thể đóng góp cho cả hai khía cạnh của cuộc sống. Trồng rau hữu cơ giúp các nhà sư và dân làng gần đó tăng cường sức khỏe nhờ họ vận động thân thể và đổ mồ hôi khi làm việc trên đất chùa.

“Ngoài ra, nhà chùa không phải bỏ tiền ra mua rau và những thực phẩm có hại cho sức khỏe.

“Một số loại trái cây và rau quả được coi là không tốt cho sức khỏe do bị phun hóa chất và các phương pháp sản xuất nông nghiệp phi đạo đức khác. Khi tiêu thụ những thứ như vậy, chúng ta sẽ đối mặt với nguy cơ mắc bệnh cao hơn và cuối cùng phải chi nhiều tiền cho việc chăm sóc sức khỏe,” Thầy Teang nói.

Vườn rau của chùa chỉ có diên tích 50m x 10m. Nhưng trong không gian đó, có rất nhiều loại trái cây và rau quả bao gồm xà lách, rau muống, rau bina, cải xoăn, cà tím, cà chua, ngô, sả, bí đỏ, dừa thơm, hoa súng, chuối, mít, xoài, táo hồng. và đu đủ.

Chúng được trồng bằng cách chỉ sử dụng phân bón tự nhiên. “Tôi cho rằng trồng rau hữu cơ không khó. Kỹ thuật quay trở lại thời kỳ đầu của tổ tiên chúng ta. 

“Trồng và ăn những gì bạn trồng sẽ tốt cho sức khỏe. Khi có sức khỏe, bạn mới có thể học tập và làm việc hiệu quả. Không phải vô cớ mà người ta nói: Bạn chính là những thứ mà bạn đã ăn," Thầy Teang nói.

Những ai có nhu cầu học cách trồng rau hữu cơ có thể ghé qua chùa. Các nhà sư sẵn sàng chia sẻ kiến thức về canh tác hữu cơ.

Lối sống lành mạnh này cũng đã truyền cảm hứng cho người dân trong làng trồng thực phẩm hữu cơ. Họ học được kỹ thuật canh tác từ các sư thầy ở chùa và trồng trọt để nuôi sống gia đình, thậm chí tạo thêm thu nhập.

Để giúp dân làng trồng lương thực, chùa đã chia sẻ một số cây lúa giống với người dân khi mùa mưa bắt đầu. Thầy Teang nói: “Chúng tôi cũng chuẩn bị hạt giống rau cho những người cần chúng.”

Vào mùa thu hoạch, các sư thầy thay nhau ra đồng gặt lúa. Và khi khó khăn, chùa Serei Sakor Daun Sdoeung cũng giúp dân làng đỡ bằng cách chia sẻ gạo và rau của mình như là vật phẩm cứu trợ..

Thầy Teang nói: “Chúng tôi có nhiều rau và trái cây hơn nhu cầu tiêu thụ hàng ngày. Ưu tiên của chúng tôi là dành chúng cho dân làng gần đó. Người ở xa đến cũng có thể lấy nếu chúng tôi còn dự trữ ”

Bên cạnh việc trồng thực phẩm, thậm chí có những vườn hoa mà Thầy Teang cho biếtchúng được xem như là chất xua đuổi côn trùng để ngăn sâu bệnh phá hoại mùa màng của họ. Các cây dại cũng được trồng và có biển ghi tên loài cây để người dân, đặc biệt là trẻ em tìm hiểu về các loại cây rừng.

“Nếu phải chặt bỏ một cây thì nên trồng lại hai cây. Cây cối cung cấp một tán xanh cho trái đất và các sinh vật khác. Chúng bảo vệ trái đất khỏi sự nóng lên toàn cầu, ”  sư trụ trì nói và cho biết thêm rằng chùa được mệnh danh là ngôi chùa Phật giáo xanh nhất ở Campuchia.

Mặc dù trang Facebook của chùa có 11.000 người theo dõi, sư trụ trì cảm thấy nhẹ nhõm vì chùa không đông đúc trong dịp Tết của người Khmer.

Một thông báo trên Facebook của chùa cho biết: “Quý vị có thể đến chùa để cầu nguyện và cúng dường thức ăn cho các nhà sư như một việc làm tốt bất cứ lúc nào.

“Nhưng điều quan trọng nhất là quý trọng sức khỏe của quý vị. Chúng tôi không thất vọng khi thấy ít người đến hơn. Thay vào đó, chúng tôi rất vui vì ngày càng có nhiều Phật tử quyết định ở nhà, giữ gìn vệ sinh và thực hành giản cách xã hội. Chúc quý vị trường thọ và làm nhiều việc thiện hơn.

"Nguyện cầu tất cả đau khổ, bệnh tật và sợ hãi biến mất khỏi thế giới."

.


Nguyễn Khắc Phước thuật lại từ bài 

Pagoda shows the way to sustainable green living

của tác giả Pann Rethea đăng trên Phnom Penh Post ngày 19/4/ 2020.
READ MORE - MỘT NGÔI CHÙA Ở CAMPUCHIA THỰC HIỆN LỐI SỐNG XANH BỀN VỮNG _ Nguyễn Khắc Phước đọc báo nước ngoài.

RỤNG CUỐNG THU – Thơ Tịnh Bình

     

       



RỤNG CUỐNG THU

Không nhớ bao lần cầm mây trắng
Nôn nao theo đường bay vô định của lũ chim di
Lý do gì bầy mây dỗi hờn úp mặt
Rưng rức mưa nhòa...

Không nhớ bao lần nằm trên cỏ xanh
Ngửng tìm tiếng hát vi vu của cánh diều giấu mặt
Dòng sông không nói gì
Chỉ khẽ ôm vào lòng từng đám mây trong

Không nhớ bao lần tôi vỗ về tôi
Nghe ngóng âm thanh cơn mưa từ nơi xa
Trong khuya tiếng gió trở mình
Và mùa thu
Âm thầm
Rụng cuống...
                                                Tịnh Bình
                                               (Tây Ninh)

READ MORE - RỤNG CUỐNG THU – Thơ Tịnh Bình

THƯƠNG NHỚ NGƯỜI DƯNG – Thơ Nhã My, nhạc Phan Ni Tấn.


    
                              Nhà thơ Nhã My

 

THƯƠNG NHỚ NGƯỜI DƯNG
(Lời chàng trai quê)

Bậu ơi đã bỏ đi rồi
Đêm hôm có kẻ đứng ngồi không yên
Thuơng em chẳng biết đâu tìm
Nhìn theo con nước bóng chim xa mờ
Còn ai đâu để đợi chờ
Em xa em có thẩn thờ nhớ quê
Nhớ chiều hai đứa trên đê
Cùng nhau lúa chín gánh về làng xa
Nhớ hôm anh bước qua nhà
Chợ xa có chút  làm quà cho em
Em cười đôi mắt long lanh
Chờ nhau đến lúc anh sang rước nàng
Cuộc đời sao lắm trái ngang
Tình yêu không có bạc vàng cũng không
Nhớ hôm em bước xuống đò
Bởi mê của cải tình ta lở rồi
Nhìn em anh những bồi hồi
Người ta lắm bạc nhiều tiền em ưng
Bây giờ thương nhớ người dưng
Ngẩn ngơ nhớ bậu nửa mừng nửa đau
Mừng cho em đến chỗ giàu
Mà đau vì nỗi xứ nào xa xôi
Đây rồi chẳng biết em tôi
Có vui hạnh phúc hay đời long đong
Bậu ơi! Sao vội lấy chồng ?!?

                                           Nhã My


      

Thơ: Nhã My.
Nhạc: Phan Ni Tấn.
Hòa âm: Trần Nhàn.
Tiếng hát: Quốc Duy.

READ MORE - THƯƠNG NHỚ NGƯỜI DƯNG – Thơ Nhã My, nhạc Phan Ni Tấn.