Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 21, 2025

ĐỌC 10 BÀI THƠ HƯƠNG THIỀN CỦA NHÀ THƠ VẠN LỘC - Châu Thạch


Nhân sinh như mộng, ai có thể ngộ được Đạo để trở về đây? - Ảnh: Internet

 
LỜI GIỚI THIỆU
 
Mến chào quý vị. Hôm nay chúng tôi hân hạnh giới thiệu 10 bài thơ HƯƠNG THIỀN của nhà thơ Vạn Lộc sẽ được làm video qua giọng ngâm và đọc lời bình của nghê sĩ NHẬT QUỲNH.  Nhà thơ Vạn Lộc tên thật là Võ Thị Hôi, sinh 30/12/1946, quê quán Đông Yên, Duy Trinh, Duy Xuyên, hiện sinh sống tại Đà Nẵng. Nhà thơ Vạn lộc là hội viên Hội Nhà Văn thành phố Đà Nẵng, hội viên Thơ Đường Luật Việt Nam. Tác giả còn tham gia nhiều thi văn đoàn khác. Nhà thơ Vạn Lộc đã xuất bản 12 tập thơ, nhiều bài thơ và tập thơ của Vạn Lộc đã nhận được giải thưởng trong nước. Đây không phải là những bài thơ hay nhất của tác giả, đây là những bài thơ bày tỏ nỗi niềm trong tuổi vào đông của một tâm hồn thơ luôn luôn muốn thì thầm cùng trăng nước, tha nhân và vạn vật để giải bày những vui buồn, những suy nghiệm sâu xa trong cuộc sống, hướng về cõi cực lạc bằng tâm thiền tịnh của tác giả. Mời quý vị lắng lòng tự tại trong cõi an nhiên của tâm hồn để tiếng thơ Vạn Lộc đem đến nhiều với chúng ta những hương thiền thi vị. Cảm ơn quý vị.
                                                  
Châu Thạch
 
BÀI 1: NẺO ĐƯỜNG VỀ ĐẤT PHẬT
 
Về cõi Phật bằng con đường siêu thoát là ước vọng của người Phật tử khi qua cõi đời nầy. Hành hương về đất Phật cũng là ước vọng của người Phật tử khi sống trên trần gian. Về đất Phật bằng đôi chân bộ hành của mình là ước vọng của các bậc tì kheo, tu sĩ Phật giáo.  Nhà sư Thích Minh Tuệ, một nhà sư tu hạnh Đầu Đà mà trên 2500 năm mới có người thứ hai sau đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni là ngài Ca Diếp thực hành tu luyện.
 
Hạnh Đầu Đà là một phương pháp tu khổ hạnh của Phật giáo để tôi luyện thân tâm, trừ bỏ phiền não cấu trần. Người tu hạnh Đầu Đà châp nhận những khó khăn trong các vấn đề ăn, mặc, ở và đi lại, gần như cách tu khổ hạnh mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thực hiện trước ngày thành đạo. Nhà sư Thích Minh Tuệ sau nhiều năm thực hiện cách tu hạnh Đầu Đà, sư đi khất thực ăn mỗi ngày 1 bửa, mặc y phấn tảo tự may bằng những mãnh vải lượm được trên đường, ngủ ngồi ở nghĩa địa hay nơi hoang vắng. Sư Minh Tuệ đã bộ hành dọc theo đất nước Việt Nam từ Nam ra Bắc rồi quay lại từ Bắc vào Nam được 4 lần, nay cơ duyên đã đến, sư Thích Minh Tuệ được trợ duyên để lên đường, đi bằng đôi chân trần của mình, qua nhiều nước, ngài hành  hương về chiêm bái Phật tích trên đất nước Ấn Độ.
 
Sự kiện Thích Minh Tuệ tu hạnh Đầu Đà đi dọc đất nước Việt Nam đã gây một tiếng vang tốt đẹp cho đạo Phật. Nay nhà sư bộ hành xuyên qua các nước Campuchia, Thái lan. Myanmar. Bangladesh để đến những nơi thiêng liêng là thánh thích của Phật Giáo tại Ấn Độ là niềm vui lớn cho phật Tử trong và ngoài  nước, từ đó thi ca vinh danh chuyến đi của ngài cũng rộ lên, thăng hoa trong nền văn học Phật Giáo Việt Nam hiện nay.
 
Trong bài viết nầy, chúng tôi hân hạnh giới thiệu một bài thơ tiêu biểu trong làn sóng sáng tác hiện nay, như những đóa hoa đầy hương vị thiền nở theo bước chân người khất sĩ hành hương về đất Phật. Bài thơ sẽ được làm video qua tiếng ngâm và đọc lời bình của nghệ sĩ diễn ngâm Nhật Quỳnh một ngày gần. Mời quý vị thưởng thức bài thơ “Nẻo Đường Về Đất Phật”, thơ của nhà thơ Vạn Lộc sáng tác:
 
Con đường hành hương dài thăm thẳm
Qua bao đèo cao, bao lũng sâu
Cuộc lữ hành gần ba ngàn dặm
Thầy đang đi trên đất nước Lào
 
Đoàn du Tăng đầu trần chân đất
Phấn Tảo Y, hạnh nguyện Đầu Đà
Thầy chúng con tìm về đất Phật
Con đường thiên lý mịt mờ xa
 
Kính thưa quý vị, qua hai khổ thơ đầu tiên của bài thơ “Nẻo Đường Về Đất Phật”, nhà thơ Vạn Lộc đã mô tả những khó nhọc mà đoàn hành hương phải trải qua trên con đường xa vạn dặm. Nhà thơ Vạn Lộc tên thật là Vũ Thi Hội, quê quán tại Duy Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam, hiện sống tại Đà Nẵng. Nhà thơ Vạn Lộc còn là một cư sĩ, ăn trường chay, ngồi thiền và làm thiện nguyện nhiều năm qua, nên tiếng thơ của bà là tiếng lòng thật sự ngưỡng mộ thầy Thích Minh Tuệ. Nhà thơ bộc lộ niềm cảm thông sâu sắc với bước chân đi ba ngàn dặm của sư “qua bao đèo cao, bao lũng sâu” với đầu trần chân đất.
 
Qua khổ thơ thứ ba, nhà thơ Vạn Lộc bày tỏ lòng kính trọng của mình đối với bước đi của thầy Minh Tuệ mà Vạn Lộc đánh giá là “Mỗi bước chân vọng về cố quốc/ Vang câu kinh Bất Khả Tư Nghì”:
 
Thầy ơi, chúng con thương Thầy quá
Bao gian nan, vất vả, hiểm nguy
Mỗi bước chân vọng về cố quốc
Vang câu kinh Bất Khả Tư Nghì
 
Thật vậy, câu thơ mà Vạn Lộc dành riêng cho sư Minh Tuệ là mỗi bước đi như là câu kinh “Bất Khả Tư Nghì” vọng về cố quốc chí lý vô cùng. “Bất khả tư nghì” có nghĩa là không thể nghĩ bàn, ngoài sự hiểu biết của con người, đối với hành giả, đó là trạng thái tu chứng, diệu dụng, thần thông của Bồ Tát. Như thế, tuy không nói rõ nhưng nhà thơ Vạn Lộc đã gián tiếp công nhận sư Thích Minh Tuệ là bậc chánh đẳng, chánh giác, chỉ bước đi của ngài đủ vọng về cố quốc cho chúng sinh thấy con đường giải thoát để noi theo.
 
Khổ thứ 5 và khổ thơ cuối cùng của “Nẻo Đường Về Đất Phật” nhà thơ Vạn Lộc tán thán công đức của nhà sư Thích Minh Tuệ, bà quan niệm những bước đi của nhà sư tạo ra vạn duyên để gieo mầm bồ tát. Hôm nay nhà sư đi là gieo nhân lành, mà quả là chúng sinh được hưởng. Mầm là mầm Bồ Tát do sư Thích Minh Tuệ gieo ra, còn quả tốt nhận được ở vị lai là Phật pháp nhiệm mầu mà chúng sinh được hưởng.
 
Những nẻo đường trên đất nước bạn
Được nhân dân đảnh lễ, cúi đầu
Vạn duyên khởi gieo mầm Bồ Tát
Quả Vị Lai Phật Pháp nhiệm mầu
 
Ngày đêm Thầy bộ hành trì giới
Mong nắng mưa an bước Thầy đi
Cầu du đoàn đá mềm, chân cứng
Nguyện chư Thiên, chư Phật độ trì.
 
Đọc bài thơ “Nẻo Đường Về Đất Phật” của nhà thơ Vạn Lộc, ta thấy vần điệu êm trôi, thi từ bình dị ngôn ngữ không cao siêu khó hiểu, nhưng sâu đậm trong thơ lời của tình yêu thương mếm mộ chan chứa, tràn đầy, thơm hương vị từ bi . Vạn Lộc là một nhà thơ sâu nhiệm Phật pháp, bà viết nhiều bài thơ Đường luật đầy hương thi ca và dậy hương thiền. Nếu có dịp, chúng tôi chắc chắn sẽ bình và diễn ngâm những bài thơ ấy trên mạng một ngày gần đâ . Cảm ơn quý vị đã lắng nghe. Nguyện chư thiên, chư phật độ trì và vạn duyên lành khởi gieo mầm Bồ Tát từ bước chân thầy Minh Tuệ sẽ sinh bông trái trong lòng quý vị.                    
                                                                               
Châu Thạch
 
 
BÀI 2: VỊ THỊ GIẢ CỦA HOÀ BÌNH
 
Kính thưa quý vị, hàng nghìn năm trước bên Trung Hoa có sự tích Đường tăng đi đến đất Phật thỉnh kinh. Theo tiểu thuyết Tây du ký của Ngô Thừa Ân, để thỉnh được chân kinh, thầy trò Đường Tăng phải vượt quãng đường 10 vạn 8 nghìn dặm từ Đại Đường đông thổ đến nước Tây Trúc tức Ấn Độ, kinh qua 81 khổ nạn, phải đối mặt và chiến đấu với biết bao yêu quái.
 
Trên nghìn năm sau, sự kiện đó quay lại trên đất nươc Việt Nam khi nhà sư Minh Tuệ phát nguyện bộ hành qua đất Phật, không phải để thỉnh kinh mà để thực hành theo pháp tu Hạnh Đầu Đà, một pháp tu khổ hạnh mà khi Phật còn tại thế, chỉ có ngài Ca Diếp thực hiện mà thôi. Sự kiện sư Minh Tuệ đầu không mũ, chân không giày, ăn mỗi ngày một bửa, ngủ ngoài trời, đi bộ qua nhiều nước để đến chiêm bái các Phật tích tại Ấn Độ và tu tập Hạnh Đầu Đà làm nô nức lòng người Phật tử, gây cảm hứng sáng tác cho nhiều người cầm bút.
 
Nhà thơ Vạn Lộc, một Phật tử thuần thành, một cư sĩ trường chay, một cây bút hương thiền với nhiều tác phẩm thi ca được yêu mến đã vinh danh nhà sư Minh Tuệ với bài thơ “Vị Thị Giả Của Hòa Bình”. “Thị Giả” là gì? Thi giả là người hầu cận bậc chân sư, như ngày xưa Tôn giả A-Nan-đà, hầu cận đức Phật Thích-ca khi Ngài còn tại thế... Ngày nay, Nhà thơ Vạn Lộc muốn nói ngài Minh Tuệ là người hầu Đức Phật làm ngọn đuốc hòa bình soi sáng nhân gian.
 
Bài thơ sẽ được làm video qua tiếng ngâm thơ và đọc lời bình của nghệ sĩ diễn ngâm Nhật Quỳnh sau nầy. Bây giờ mời quý vị theo dõi bước đi của người sứ giả hòa bình với đôi chân trần qua ngàn vạn dặm đường xa:
 
Trên con đường hành hương về đất Phật
Chân trần mấy nghìn dặm Thầy đi
Qua bao đèo, bao sông, bao suối
Trắng mây bay mấy cõi biên thuỳ
 
Những nước bạn mừng đón Thầy đến
Nhân dân đảnh lễ, cúng dường
Thắm trên môi nụ cười an lạc
Tâm Bồ Đề nở Pháp Hoằng Dương
 
Kinh thưa quý vị, bằng hai khổ thơ đầu, nhà thơ Vạn Lộc đã miêu tả đầy đủ hành trình của ngài Minh Tuệ vượt núi băng sông cùng nỗi niềm của người dân Phật tử đón tiếp ngài. Với câu thơ “Trắng mây bay mấy cõi biên thùy” Vạn Lộc đã vẽ lên bức tranh tuyệt đẹp khi nhà sư bước qua ranh giới của nhiều nước. Câu thơ “Tâm Bồ Đề nở pháp Hoằng Dương” nhà thơ Vạn Lộc đã nói lên trọn vẹn phương pháp truyền bá Phật pháp không bằng thuyết pháp mà bằng hành động của ngài Minh Tuệ.
 
Tiếp theo sau đây, xin mời quý vị nghe trình bày hai khổ thơ kế tiếp. Trong hai khổ thơ nầy, bằng thi pháp, nhà thơ Vạn Lộc đã làm một youtuber quay cuốn phim bộ hành của ngài Minh Tuệ, không chỉ thấy bóng ngài trên con đường dài vạn dặm mà còn thấy được đạo hạnh của ngài đem hạnh phúc cho tâm hồn và lan tỏa ra trần thế.
 
Y Phấn Tảo thênh thênh con đường rộng
Lõi nồi cơm điện đựng càn khôn
Lòng từ bi hoá Chân Thiện Mỹ
Khác ngữ ngôn mà hoà điệu tâm hồn
 
Thầy nghiêm cẩn giữ Giới - Định - Huệ
 Hạnh Đầu Đà thành Vô Lượng kinh
 Quả Vị Phật Thích Minh Tuệ nhập thế
 Mỗi bước Thầy đi là Thị Giả của hoà bình
 
Trong hai khổ thơ nầy những câu thơ “Lõi nồi cơm điện đựng càn khôn”, “Khác ngữ ngôn mà hòa điệu tâm hồn” đã cao siêu diễn tả được uy lực của nồi cơm điện cũng như tâm ngữ là ngôn ngữ có sóng điện từ vô âm của bậc chân sư đã truyền thông làm giác ngộ người Phật tử hết sức diệu kỳ. Hai câu thơ “Hạnh đầu đà thành vô lượng kinh” và “mỗi bước thầy đi là thị giả của hòa bình” như tiếng sấm rền vang kinh Phật, như tiếng chuông âm vọng trong trăng sao mây nước thâm thúy đến vô cùng.
 
Nhà thơ Vạn Lộc còn nhiều bài thơ đầy hương thiền, đem đến cho người đọc hay người nghe ngâm thơ cảm nhận sự bình an, thanh tịnh và thi vị trong thơ của bà. Nếu có dịp chung tôi sẽ giới thiệu thêm cùng quý vị. Cảm ơn quý vị đã lắng nghe thơ của Vạn lộc qua lời bình của Châu Thạch và tiếng ngâm của nghệ sĩ Nhật Quỳnh.
 
BÀI 3: VỊ HÀNH GIẢ CỦA ÁNH SÁNG
 
Kính thưa quý vị.
 
Nhà sư Thích Minh Tuệ, người đầu tiên giữa thời đại nầy quyết định "học tập theo lời Phật dạy" bằng cách giữ 13 hạnh đầu đà. Ngài bộ hành khất thực khắp đất nước trong nhiều năm. Hành trình đi bộ năm 2024 của ngài gây nên sự chú ý của đông đảo quần chúng Việt Nam, thu hút hàng nghìn người đón đưa và chiêm bái ngài. Theo chân ngài để thực tập hạnh đầu đà đi chân trần, ăn một bửa trước ngọ, ngủ màn trời chiếu đất có lúc lên đến hàng trăm người, dẫn tới nhiều xáo trộn trật tự giao thông, khiến cho đến đầu tháng 6 năm 2024  ngài phải ngừng bộ hành  để ẩn tích, làm dấy lên nhiều xôn xao dự luận
 
Từ tháng 12 năm 2024, sau một thời gian tìm kiếm sự hổ trợ  và được hữu duyên, ngài đã bắt đầu chuyến hành hương đến Ấn Độ để chiêm bái Phật tích và tu tập. Sư Thích Minh Tuệ dự kiến sẽ bộ hành qua Lào, Thái lan, Myanmar để nhập cảnh Ấn Độ, rồi sang Nepal và Bhutan trước khi ẩn tu ở dãy núi Himalaya.
 
Sự hành hương về đất Phật của nhà sự Thích Minh Tuệ không chỉ tạo một niềm vui lớn cho người Phật tử  chân chính tại Việt Nam mà con gây tiếng vang tốt đẹp trên toàn thế giới. Thơ văn viết để tôn vinh, tán thán ngài nhiều không xiết kể. Trong cái kho tàng văn chương chứa hương tịnh độ ấy, chúng tôi xin giới thiệu bài thơ “Vị Hành Giả của Ánh Sáng” của nhà thơ Vạn Lộc đến quý vị, như gởi đến quý vị một chút hương thiền mượn làn gió từ bước chân ngài bay đến ta. Bài thơ sẽ được làm video cho nghê sĩ Nhật Quỳnh đọc lời bình và diễn ngâm sau nầy:
 
VỊ HÀNH GIẢ CỦA ÁNH SÁNG
(Kính cầu nguyện Thầy Thích Minh Tuệ luôn hanh thông trên con đường về Đạo Tràng Bồ Đề, về với Đất Phật!)
 
Vui tin ước nguyện Thầy về
Đạo tràng - Đất Phật - Bồ Đề Thầy ơi
Bước chân Thầy sẽ muôn nơi
Gieo từ tâm những phương trời gần xa
 
Thầy con nguyện Hạnh Đầu Đà
Nguyện Y Phấn Tảo cà sa khất hành
Con đường giải thoát tử sanh
Chân không vạn dặm viên thành Pháp môn
 
Sáu năm bao nẻo đường mòn
Bắc nam, nam bắc nước non nghìn trùng
Tâm tĩnh tại, lòng bao dung
Vạn duyên thiện khởi bước Thầy dừng chân
 
Lòng con thấu lẽ hồng trần
Buông tham, bỏ bớt si sân một đời
Thân rồi là chiếc lá rơi
Trăm năm cũng chỉ mây trời nhẹ bay
 
Con vui mà mắt con cay
Đường muôn vạn dặm bóng Thầy dần xa
Bước hành giả ánh sáng và
Nguyện Thầy phổ hiện trên toà Như Lai
 
Nhà thơ Vạn Lộc đã bước qua tuổi bát thập, là một cây bút được nhiều ái mộ, là một cư sĩ ăn trường chay nhiều năm, đã từng xuất bản nhiều tác phẩm trong đó có nhiều bài thơ ngát hương thiền.
 
Bài thơ “Vị Hành Giả Của Ánh Sáng” như những cái chắp tay bái lạy tiễn đưa ngài Minh Tuệ lên đường. Hành giả là gì? Hành gỉa chỉ chung những người tu hành Phật Đạo, những người đi trên con đường đến chốn giải thoát khổ đau. Nhà thơ Vạn Lộc cũng là một hành giả, bà không đi cùng bước chân ngài Minh Tuệ đến đất Phật, nhưng tâm của nhà thơ đã khởi hành cùng ngài, dõi theo con đường muôn vạn dặm để cầu cho “Vạn duyên thiện khởi” trên mỗi bước chân ngài.
 
Bài thơ vừa tán thán vị chân tu, vừa bày tỏ tấm chân tình của mình ngưởng vọng những thành tựu mà nhà sư Thích minh Tuệ giác ngộ, cũng như bước đi của ngài đã trực chỉ nhân tâm cho chính tác giả và người Phật tử kiến tánh những điều tốt đẹp, buông bỏ tham sân si. Thiết nghĩ đây là một bài thơ hay của nhà thơ Vạn Lộc, đã làm cho người đọc thơ, nghe thơ mở tâm thiện lành của mình ra, theo từng vần thơ mô tả bước chân như ngọn đèn chiếu sáng trên con đường giải thoát mà vị hành giả Minh Tuệ đang đi. Cảm ơn quý vị lắng nghe thơ Vạn Lộc qua lời bình của Châu Thạch. Hẹn gặp lại một dịp khác.
                                      
Bài 4 - THIỀN TRĂNG CỎ HƯƠNG
 
Kính thưa quý vị. Thiền là một hoạt động thực hành tập trung tâm trí để đạt được trạng thái tinh thần minh mẫn và cảm xúc bình an. Thiền của Đao Phật có nguồn gốc từ Ấn Độ, người sáng lập ra hệ thống thiền là ngài Tất Đạt Đa, sau ngài thành Phật gọi là Phật Thích ca Mâu Ni. Từ đó thiền du nhập khắp thế giới, vào Việt Nam qua hai con đường, một đến Trung Quốc rồi qua Việt Nam gọi là thiền Phật giáo Bắc Tông, một theo đường biển đến Tích Lan, nhiều nước khác, sau đó đến Việt Nam gọi là thiền Phật Giáo Nam Tông hay tiểu thừa.
 
Trong nền văn học Việt Nam, thơ thiền thịnh hành đời Lý, từ thế kỷ thứ IX, thứ X, do các thiền sư sáng tác, sau đó lan truyền trong giới trí thức. Thơ thiền Việt Nạm hiện đại tiếp tục phát triển trên hào quang của thơ thiền Trung đại trong môi trường văn hóa hiện đại. Thơ thiền ngày xưa thường làm theo thể thơ Đường Luật. Thơ thiền hiện nay có khác. Ngoài thơ Đường Luật, nhiều nhà thơ Việt Nam sáng tác thơ thiền hoặc có hương vị của thiền với bút pháp thơ mới hoặc thơ lục bát Việt Nam đầy ý nghĩa, sâu sắc và hay. Một trong những nhà thơ như thế là Vạn Lộc, một cư sĩ trường chay, với những bài thơ có hương thiền sâu xa, thanh thoát, thảm thấu vào lòng người sự bình an từ bản thể. Kính mời quý vị nghe một bài thơ có hương thiền như thế, bài thơ dự định sẽ làm video qua lời đọc và diễn ngâm của nghệ sĩ Nhật Quỳnh, biết đâu tiếng thơ sẽ làm êm dịu thân tâm quý vị trong vài phút vài giây:
 
THIỀN TRĂNG CỎ HƯƠNG
 
Cỏ cây bên cội bồ đề
Đêm trăng thị hiện bốn bề tỏa hương
Mõ chuông kinh kệ vô thường
Diệu hồn khoác mảnh khói sương nâu sồng
 
Ngàn sao vời vợi tầng không
An nhiên cùng với mênh mông cõi trời
Bên ta từng giọt trăng rơi
Nghe trong sâu thẳm có lời nước mây
 
Ta lần tràng hạt trên tay
Đếm bao nhiêu kiếp chẳng đầy giấc mơ
Mắt trần gian khói bụi mờ
Đục trong chi cũng bến bờ tử sanh
 
Cũng phận người cũng mong manh
Cũng hiu cũng hắt một nhành cỏ hương
Bờ mê ngó nẻo thiên đường
Thấy ngàn cánh hạc muôn phương tìm về
 
Đắp hồn một áng mây che
Thoảng trong cơn gió bồ đề dậy hương
                                                Vạn Lộc
 
Bài thơ viết về một đêm tác giả ngồi thiền dưới trăng, giữa khung trời có cây hoa lá im hơi lặng tiếng. Sự hay của thơ ở đây là tác giả không chỉ thiền một mình mà trăng cũng thiền, cỏ cây hoa lá cũng thiền, cả không gian đều thiền, làm cho thời gian cũng ngưng đọng lại để cho tác giả thấy “bao nhiêu kiếp cũng tròn giấc mơ”, chứng ngộ được phận người mong manh đi qua những bến bờ tử sanh. Nhà thơ Vạn Lộc cũng diễn đạt được trọn vẹn một không gian thiền đầy hương bồ đề, đầy sắc thanh tịnh, khiến cho tâm thần nẩy sinh ý tịnh như “ngàn cánh hạc muôn phương tìm về”. Đây là một bài thơ thiền thời hiện đại, mang được bản sắc của người hành thiền và người nghệ sĩ hòa quyện trong nhau, cho ta thưởng thức được sự xao động của hương thiền bay trong tâm hồn lắng đọng.
Cảm ơn quý vị đã lắng nghe và trân trọng kính chào.
 
 
Bài 5 -VÀNG BÔNG ĐIÊN ĐIỂN RỤNG VỀ
           (Tác giả viết cho ca sĩ Phi Nhung)
 
Kính thưa quý vị, thơ là tiếng nói từ con tim, để thổ lộ niềm vui và nỗi buồn, để bày tỏ cảm xúc  của tâm hồn trước ngoại cảnh. Nhà thơ Hàn Mạc Tử nói “Nhà thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo vô biển, vây phủ bởi trăm dây quyến luyến”. Bởi thế, người thơ như sơi dây đàn, rung lên nhiều cung bậc khi tiếp xúc với muôn vàn sự cố giữa đời. Nhà thơ Vạn Lộc, một cây bút được mến mộ của hội nhà văn Đà nẵng, cũng là một cư sĩ của đạo Phật, cho nên thơ của bà không chỉ như tiếng tơ đàn mà còn như tiếng chuông thiền tịnh vọng trong không gian, thẩm thấu vào lòng người, phản phất hương thiền, dầu thơ sầu hay thơ vui đều nghe như tiếng gió vi vu vọng về từ cõi tịnh.
 
Một trong những bài thơ như thế của nhà thơ Vạn Lộc là bài thơ “Vàng Bông Điên Điển Rụng Về”, viết cho ca sĩ Phi Nhung, người đi về thế giới bên kia trong dịch Covid 19. Tác giả lấy hình ảnh “Vàng Bông Điên Điển Rụng về” vừa bi thương mà cũng vừa tuyệt đẹp. Bài thơ sẽ được đọc lời bình và diễn ngâm của Nghệ Sĩ Nhật Quỳnh một ngày gần. Bây giờ mời quý vị thưởng thức bài thơ:
 
VÀNG BÔNG ĐIÊN ĐIỂN RỤNG VỀ
(Viết cho ca sĩ  Phi Nhung)
 
Thôi rồi nước chảy mây trôi
Vầng trăng khuyết bóng sau đồi tà dương
 Lạ lùng chi nỗi vô thường
Mà sao đau xót đoạn trường rứa em
 
Lá thơ ngây ngủ bên thềm
Giật mình tỉnh giấc tàn đêm úa vàng
Tiếng buồn sâu thẳm mênh mang
 Cánh chim về với non ngàn thôi bay
 
Thương đàn con nhỏ thơ ngây
Tìm đâu hơi ấm bàn tay mẹ hiền
 Màn nhung khép cõi vô biên
 Ánh đèn sân khấu rọi miền hư vô
 
Thôi em mặc gió sông hồ
Cõi người người ở sóng xô phía người
 Nép mình em - vì sao rơi
Dịu dàng nhẹ tỏa sáng ngời giọt khuê
 
Chẳng thị phi chẳng muội mê
Vàng bông điên điển rụng về quê thôi
                                              Vạn Lộc
 
Kính thưa quý vị. Hoa điên điển là loại hoa thường gặp ở các đầm lầy, ruộng nước, đặc biệt còn là đặc sản ẩm thực của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hoa điên điển cũng là một loài bông mộc mạc, đơn sơ và thuần khiết như bao loài hoa khác, nhưng hoa điên điển có một ý nghĩa vô cùng thâm thúy. Nó vừa là là hoa, vừa là thức ăn, vừa là món bánh dâng lên các sư sãi theo tín ngưỡng người Khmer.
 
Nhà thơ Vạn Lộc lấy hình ảnh hoa rơi để chỉ về một người nữ đi qua đời nầy, dùng cánh vàng điên điển trôi về cõi vô biên như những lời điếu tang đầy chất lãng mạn, sầu thì có sầu nhưng tiếng thơ nhẹ nhàng, thanh khiết. Vào bài là câu thơ “Thôi rồi nước chảy mây trôi”, cuối bài là câu thơ “Vàng bông điên điển rụng về quê thôi” cho ta hình ảnh một vùng sông nước bao la mà cánh hoa điên điển trôi xa dần, xa dần về chốn hư vô. Đọc thơ như thế làm cho bóng dáng cánh hoa vàng điền điển trôi trong tâm hồn ta một vẻ đẹp vô cùng trong nỗi buồn vời vợi. Hình ảnh đó sẽ trôi mãi trôi mãi đi về xa xăm trong bóng thời gian khiến ta khó mà quên được một bài thơ thật hay.
Cảm ơn quý vị đã lắng nghe, mong rằng chúng tôi sẽ có dịp giới thiệu thêm nhiều bài thơ hương thiền của nhà thơ Vạn Lộc.
 
Bài 6 - KINH NHẬT TỤNG
 
Kính thưa quý vị. Trong đạo Phật, kinh là sách ghi lại những lời Phật dạy về giáo dục và đạo đức, là phương cách tu tập để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc, nhằm giúp cho con người vượt qua cạm bẫy của cuộc đời. Tụng kinh là đọc lại và chiêm nghiệm những lời Phật dạy để hiểu đúng chính xác điều tốt, điều xấu, hướng về những việc lợi ích cho con người mà thực hành. Tụng kinh là cơ hội tốt nhất để ta học hỏi, tư duy, quán chiếu, soi xét lại chính mình. Nhờ tư duy, quán chiếu mà thấy được rõ ràng chỗ si mê chấp ngã. Tụng kinh là cơ hội để ta trau dồi ba nghiệp thân-miệng-ý hằng thanh tịnh, sáng suốt, nhằm. chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an lạc, hạnh phúc.
 
Nhà thơ Vạn Lộc, một cư sĩ Phật giáo, ăn trường chay, làm thiện nguyện. hằng ngày tụng kinh, trì giới. Là một nhà thơ, lại là một nhà thơ cư sĩ, nên tiếng thơ của tác giả nhuần nhuyển, hòa quyện tâm hồn lảng mạn, lung linh ánh hào quang của sắc màu kinh điển, ở chung trong khung trời trăng nước vô biên và quyến luyến, làm cho khi ta thưởng thức thơ, ta cảm nhận như có hương thiền tỏa ngát quanh ta. Để chứng minh là như thế, xin trân trọng kính mời quý vị nghe bài thơ “Kinh Nhật Tụng” sẽ được diễn ngâm và đọc lời bình của nghệ sĩ Nhật Quỳnh qua video phát hành một ngày gần đây:
 
KINH NHẬT TỤNG
 
Mỗi ngày tôi niệm lời kinh
Thiết tha yêu cõi ba sinh kiếp người
Câu kinh là áng mây trôi
Là ngàn gió hát cuối trời lãng du
 
Câu kinh mưa nắng sa mù
 Là bông hoa nở cuối thu đầu hè
Câu kinh tôi chật bóng quê
Ngõ hồn thơm cỏ triền đê sớm chiều
 
Câu kinh đầy ắp thương yêu
Tình người muôn thuở nhiễu điều giá gương
Trăm năm rồi cũng vô thường
Câu kinh rồi cũng gió sương mịt mờ
 
Nhưng từ sâu thẳm lời thơ
Đã xanh một đóa bất ngờ thiện duyên
Trái tim tôi đập nhịp thiền
 Câu kinh an lạc nở miền hư vô
                                    Vạn Lộc
 
Nhà thơ Vạn Lộc cho biết “Mỗi ngày tôi tụng một lời kinh”. Một lời kinh là một câu kinh hay một bài kinh. Cbữ “lời” để chỉ chung những điều Phật dạy trong bài kinh đó. Tác giả tụng để làm gì, để “thiết tha yêu cõi ba sinh kiếp người”. Ba sinh có nghĩa là “Đời đời kiếp kiếp”. Vậy tác giả niệm kinh không chỉ để mong muốn cao xa về chốn cực lạc, mà còn để yêu cuộc sống giữa trần gian nầy dầu phải luân hồi đi, về trong nhiều kiếp nhân sinh.
 
Trong bài thơ “Kinh Nhật Tụng” nhà thơ Vạn Lộc đã hóa hình cho câu kinh thành những hình ảnh tuyệt đẹp giữa thế gian nầy. Câu kinh sẽ thành áng mây trôi, sẽ thành ngàn gió hát, sẽ thành hồn cỏ triền đê. Không những thế, câu kinh còn mang lịnh hồn của con người, hay chính ra, câu kinh mang cả linh hồn của chính tác giả, bởi vì câu kinh còn “Đầy ắp thương yêu”, câu kinh còn “tình người muôn thuở”.
 
Ở cuối bài thơ, nhà thơ Vạn Lộc biết câu kinh cũng như đời người, Nhà thơ viết “Trăm năm rồi cũng vô thường/Câu kinh rồi cũng gió sương mịt mờ”, nhưng nhà thơ cũng biết nhờ niệm kinh, nhờ trì chú hằng ngày mà thiện duyên đến với mình, ban an lạc cho tâm hồn minh như những đóa hoa nở trong miền hư vô. Ý nghĩa của chữ hư vô chỉ niềm vui, niềm vui đó ta không sờ bằng tay đươc, không thấy bằng mắt được, mà chỉ cảm nhận được nó trong tâm linh, trong tình cảm của mình.
 
Mời quý vị nghe lại những câu thơ cuối bài thơ để có thể biết đâu những câu thơ ấy cũng truyền vào tâm hồn ta cảm xúc an lạc lúc nầy:
 
Câu kinh đầy ắp thương yêu
Tình người muôn thuở nhiễu điều giá gương
Trăm năm rồi cũng vô thường
Câu kinh rồi cũng gió sương mịt mờ
Nhưng từ sâu thẳm lời thơ
Đã xanh một đóa bất ngờ thiện duyên
Trái tim tôi đập nhịp thiền
 Câu kinh an lạc nở miền hư vô
 
Cảm ơn quý vị đã đọc. Hy vọng chúng tôi còn có dịp gởi đến quý vị nhiều bài thơ hương thiền của nhà thơ Vạn Lộc.
 
 Bài 7- DIỆU ÂM
 
Kính thưa quý vị. Trong đạo Phật, Diệu Âm không phải là thứ âm thanh thỏa mãn tai người bởi sự du dương trầm bổng. Trong đạo Phật, Diệu Âm có nghĩa là âm thanh vi diệu, âm thanh mầu nhiệm.  Diệu Âm chính là vị Bồ Tát thứ ba được trình bày trong Hạnh môn.  Vị Bồ Tát thứ nhất là Bồ Tát Thường Bất Khinh, vị thứ hai là Bồ Tát Dược Vương, vị bồ tát thứ ba là bồ tát Diệu Âm.
 
Bồ Tát Diệu Âm có thể hiện ra rất nhiều sắc thân để độ đời. Có một lần Bồ Tát Diệu Âm hiện ra làm vô số hoa sen. Bồ Tát Diệu Âm thực hiện an trú trong một chánh niệm, giúp ngài hiểu được những ngữ ngôn khác nhau của nhiều chúng sanh, từ đó ngài cảm thông được tâm trạng của chúng sanh đó.  Ngữ ngôn ở đây không hẳn là tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Việt, mà ngữ ngôn ở đây là cách diễn tả của mỗi người về sự thao thức, sự khổ đau, sự ước mơ của họ.
 
Kinh điển kể lại rằng, ngày xưa, khi Bụt Vân Lôi Âm Vương xuất hiện thì Bồ Tát Diệu Âm đã sử dụng âm nhạc để cúng dường, và có lẽ cũng vì sự kiện đó mà tên của Bồ Tát được gọi là Diệu Âm, tức là âm thanh vi diệu.
 
Bồ Tát Diệu Âm là một nhạc sư, đã dùng âm thanh vi diệu để cúng dường Bụt, và cố nhiên những bản nhạc cúng dường không phải là những bản nhạc khóc gió, than mây, sầu đau muôn kiếp, mà là những bản nhạc biểu lộ cái giải thoát, cái an lạc của mình. Âm nhạc của Bồ Tát Diệu Âm là thứ âm nhạc căn cứ trên trí tuệ, trên tam muội của Ngài. Trí tuệ đó là khả năng hiểu được lòng người, hiểu được tiếng người, vì vậy mà âm nhạc ấy có thể đi thẳng vào lòng người nghe, và chuyển hóa, khai ngộ được lòng người nghe thấy con đường chanh pháp mà đi.
 
Kính thưa quý vị, hôm nay chúng tôi hân hạnh giới thiệu đến quý vị một bài thơ viết về Diệu Âm. Tác giả bài thơ Diệu âm là nhà thơ Vạn Lộc, một nhà thơ cư sĩ Phật giáo. Nhà thơ Vạn Lộc tuổi đã cao, ăn trường chay, tụng kinh trì giới nhiều năm nên tiếng thơ của bà vọng vào trong vô thức của ta làn hương thiền. Hương thơm ấy làm an lạc, hạnh phúc trong tâm hồn khi ta hữu duyên được thưởng thức nó. Bài thơ sẽ được đọc lời bình và diễn ngâm qua nghệ sĩ Nhật Quỳnh trên video phát hành một ngày gần đây:
 
DIỆU ÂM
 
Lòng tôi vương tiếng chuông chùa
Vọng trong vô thức nắng mưa đời mình
Lẽ thường sinh tử tử sinh
Bàn tay buông nắm chữ tình sắc không
 
Như cơn gió xanh trên đồng
Rì rào mùi lúa thơm đòng lúa non
Gió thoảng qua hương vẫn còn
Trăm năm hồn vẫn đầy hồn mùi hương
 
Thiền môn ngẫm ngợi vô thường
 Ưu đàm nở trắng đầy vườn an nhiên
Muội mê chi bóng u huyền
Mơ trăng mở cõi uyên nguyên ta về
 
Tiếng chuông đồng vọng sơn khê
Thơm thơm một cội bồ đề an yên
                                        Vạn Lộc
 
Kính thưa qúy vị, như ta đã biết, Diệu Âm là một vị Bồ Tát. Diệu Âm trong thơ Vạn Lộc là âm thanh, là tiếng chuông chùa “đồng vọng sơn khê”. Thế nhưng, nếu chỉ là tiếng chuông chùa thì không thể làm cho linh hồn nhà thơ thấy “Ưu đàm nở trắng đầy vườn an nhiên”“Vườn an nhiên” ở đây chính là linh hồn Vạn Lộc, hoa ưu đàm ở đây tượng trưng cho sự trong trắng tinh khiết của linh hồn chứa đầy Phật tính. Vậy bài thơ Diệu Âm của nhà thơ Vạn Lộc mang ý nghĩa Diệu Âm chính là Bồ Tát, đã truyền tải vào âm thanh thứ năng lực phổ độ chúng sanh, đã làm cho một tâm hồn thi sĩ chứng ngộ được sắc không, chứng ngộ được vô thường, không còn mê muội bóng u huyền và nghe “Hương thơm một cõi bồ đề an yên” ngan ngát trong linh hồn mình.
 
Kính thưa quý vị, chính bài thơ Diệu Âm của nhà thơ Vạn Lộc  hình như cũng có năng quyền của Bồ Tát ấn chứng vào thơ, cho nên bài thơ “như cơn gió xanh trên đồng/ Gió thoảng qua hương vẫn còn”. Cảm ơn nhà thơ Vạn Lộc đã cho chung tôi và quý vị nghe tiếng thơ bà như tiếng chuông “Vọng trong vô thức” mà phần nào thấy được “Lẽ thường sinh tử tử sinh”.
 
Bài 8 - BỒ ĐỀ TÂM
 
Kính thưa quý vị, thế giới mỗi ngày thêm bất an và bất ổn, xã hội mỗi ngày thêm những biến dộng khó lường. Từ những bất an, bất ổn và biến động đó, tâm con người cũng chẳng bao giờ yên tịnh. Theo quan niệm trong đạo Phật, không phải thay đổi thế giới nầy mà phải thay đổi tâm tánh.  Từ thay đổi tâm tánh con người tìm được hạnh phúc an lạc. Kinh điển cho biết Phật dạy rằng muốn thay đổi tâm tánh để được hạnh phúc, an lạc thì phải “Phát Tâm Bồ Đề”. Tâm bồ đề là tâm gì? tâm bồ đề hiểu qua kinh sách thì phải đọc trăm trang, tâm bồ đề hiểu qua thơ thì không cho ta hiểu hết, nhưng cho ta những sự rung động của cảm xúc thăng hoa trong hương thơm phật pháp. Mời quý vị cùng thưởng thức bài thơ “Bồ Đề Tâm”, ước ao bài thơ nầy ít nhiều thẩm thâu vào tâm hồn quý vị chủt hương thiền đem đến cho ta có phút giây an lạc:
 
BỒ ĐỀ TÂM
 
Cài tâm chiếc lá bồ đề
Thiền môn dép cỏ lối về tịnh an
Hương trầm thơm nẻo đạo tràng
Ngọn đèn pháp bảo hồi quang luân hồi
 
Sắc không tựa áng mây trôi
Kệ kinh chuông mõ hát lời ngàn năm
Bến mê bờ giác trầm ngâm
Khuyết hao chi để trăng nằm gối mơ
 
Tàn đêm một vệt sao mờ
Lưng trời vọng ảo câu thơ xuân tàn
Tôi ngồi tụng ánh trăng tan
Nghe trong vô lượng Niết Bàn hòa ca
                                              Vạn Lộc
 
Thưa quý vị, bài thơ Bồ Đề Tâm được sáng tác bởi nhà thơ Vạn Lộc, một cư sĩ Phật giáo cao tuổi, chỗ ở của bà tạị Thành Phố Đà Nẵng gọi là Tâm villa, vậy xem như bài thơ hòa quyện hai chữ tâm, tâm hồn và tâm của đất ở trong nhau.
 
Tâm tiếng Phạn là Citta.  Tâm của con người chỉ có một, nhưng tùy theo trạng thái xuất hiện có thể tạm chia làm ba theo mức độ tu tập. Đó là Tâm Phàm Phu, Tâm Bậc Thánh, Tâm Phật.
 
Tâm Bồ Đề là tâm Phật, tâm giác ngộ, tâm thấy được bản mặt thật sự của vạn pháp. Theo Phật dạy, chúng sanh ai cũng có Phật tánh và luôn dụng công tu hành hướng đến quả Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Muốn được như vậy, chúng sinh phải “Phát Bồ Đề Tâm”, là đặt ra mục tiêu tối hậu ngay từ lúc khởi đầu, đó là hướng tâm đến lộ trình tu tập giác ngộ và giải thoát. Nói cách khác chúng ta đang ở địa vị phàm phu, y theo Pháp bảo, tu tập cho đến khi nào đạt được giác ngộ giải thoát mới thôi, thì gọi là Phát Bồ Đề Tâm.
 
Xin quý vị nghe 4 câu thơ đầu, là 4 câu phát nguyện “Bồ Đề Tâm” của nhà thơ Vạn Lộc:
 
Cài tâm chiếc lá bồ đề
Thiền môn dép cỏ lối về tịnh an
Hương trầm thơm nẻo đạo tràng
Ngọn đèn pháp bảo hồi quang luân hồi
 
Tâm Bồ Đề lấy tình thương từ bi và trí huệ làm căn bản. Trí huệ và từ bi phát xuất từ công năng tu tập qua pháp học, pháp hành trong đạo Phật, để tự độ thoát mình và độ chúng sanh. Tâm Bồ Đề bao gồm ý nghĩa của ba tâm. Đó là: Trực Tâm, Thâm Tâm và Đại Bi Tâm. Người phát Tâm Bồ Đề, phải tu tập để có đủ ba tâm này. Xin quý vị nghe 4 câu thơ kế tiếp, đây là hành trình tu tập để có Bồ Đề Tâm của nhà thơ Vạn Lộc:
 
Sắc không tựa áng mây trôi
Kệ kinh chuông mõ hát lời ngàn năm
Bến mê bờ giác trầm ngâm
Khuyết hao chi để trăng nằm gối mơ
 
Cuối cùng xin quý vị nghe tác dụng của việc phát tâm bồ đề trong tâm hồn của nhà thơ Vạn Lộc:
 
Tàn đêm một vệt sao mờ
Lưng trời vọng ảo câu thơ xuân tàn
Tôi ngồi tụng ánh trăng tan
Nghe trong vô lượng Niết Bàn hòa ca
 
 Từ xưa đến nay, con người sinh ra đời không ai thoát khỏi phiền não khổ đau. Nhưng nếu chúng sanh đã phát tâm gắn liền đời mình vào mục đích tu tập để đạt được mục tiêu giác ngộ, giải thoát, thành Phật, thì dù trên đường đi có gặp nhiều nghịch duyên ngăn chặn cản trở. Nhưng nhờ phát Tâm Bồ Đề dũng mãnh mà hành giả có thể vượt qua vô lượng chướng ngại, vô lượng đau khổ, chinh phục được những pháp bất thiện đang nhắm vào. Vậy ta thấy cuối cùng nhờ phát tâm bồ để mà nhà thơ Vạn Lộc đạt được hạnh phúc, nhà thơ thốt lên sung sướng; “Tôi ngồi tụng ánh trăng tan/ Nghe trong vô lượng Niết Bàn hòa ca”. Kính cảm ơn quý vị đã nghe, trân trọng kính chào quý vị.
 
Bài 9 - NGUYỆN LÀM CHIẾC LÁ
 
Kính thưa quý vị. Trong đạo Phật, cây Bồ Đề được xem là biểu tượng của trí tuệ và sự giác ngộ của Đức Phật, nên còn được gọi là “cây giác ngộ”. Từ đó, lá bồ đề cũng cho tín đồ Phật giáo những hình ảnh tượng trưng cho khả năng đem lại tài lộc, khả năng làm ta tỉnh thức và giác ngộ trong cuộc sống. Lá Bồ Đề có hình giống như hình trái tim nên cũng tượng trưng cho tình thương, sự từ bi của đức Phật luôn dành cho con người. Mời quý vị cùng nghe tiếng đọc và giọng ngâm thơ truyền cảm của Nghệ Sĩ Nhật Quỳnh, cùng thưởng thức bài thơ “Nguyện Làm Chiếc lá” của nhà thơ Vạn Lộc, để cảm nhận được người Phật tử chỉ nguyện làm một chiếc lá Bồ Đề cũng đủ hạnh phúc, vì được thấm hồn từ bi từ cây Bồ đề, tức là biểu tượng của trí tuệ giác ngộ:
 
NGUYỆN LÀM CHIẾC LÁ
 
Lá bồ đề cũng vàng rơi
Ưu đàm rồi cũng thế thôi, rơi vàng
Kệ kinh chuông mõ hoang mang
Chúng sinh tự hỏi: Niết Bàn nơi đâu?
 
Vẫn đất thấp vẫn trời cao
Vẫn vui sum họp nghẹn ngào chia ly
Vừa thơm hương buổi xuân thì
Đã nghe chua xót kẻ đi người về
 
Một đời cứ ngỡ lê thê
Đắng cay vinh nhục muội mê một đời
Cũng chỉ là giấc mơ thôi
Tàn cơn mộng mị qua rồi thời xuân
 
 Đường thì xa tuổi lại gần
Ngó vô biên thấy trầm luân kiếp người
Thôi thì hết mộng trùng khơi
Mai ta về với xa xôi nghìn trùng
 
Nép mình bên cội Phật môn
 Nguyện làm chiếc lá thấm hồn từ bi
 Vàng bay đôi cánh thiên di
 Vô ưu ngủ giữa xanh rì cỏ xanh
                                     Vạn Lộc

Kính thưa quý vị. Chúng sinh sống trên đời là mang nỗi đau khổ đế. Bài thơ “Nguyện Làm Chiếc Lá” của Vạn Lộc đã nói lên tất cả nỗi khổ sinh, lão, bệnh, tử của trần gian. Tác giả nói “Vẫn vui sum họp nghẹn ngào chia ly/ Vừa thơm hương buổi xuân thì/Đã nghe chua xót kẻ đi người về” là tất cả thực trạng đau khổ trong kiếp sống con người. mà đức Phật gọi là khổ đế. Tác giả viết “Một đời cứ mãi lê thê / Đắng cay vinh nhuc muội mê một đời” chính là nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến đau khổ mà Phật Thich ca gọi là Tập Đế. Tác giả lại nói “Nép mình bên cội Phật môn/nguyện làm chiếc lá thấm hồn từ bi” là sự từ bỏ, cắt đức quan hệ với ái, từ bỏ ái sẽ giải thoát khỏi sự trói buộc của khổ, đức Phật gọi là diệt đế. Ở hai câu thơ cuối của bài thơ “Nguyện làm Chiếc Lá”, Vạn Lộc viết  “Vàng bay đôi cánh thiên di / Vô ngôn ngủ giữa xanh rì cỏ xanh” là trạng thái đoạn diệt được ái và khổ mà đức Phật gọi là đạo đế.
 
Kính thưa quý vị. Bằng vần thơ Lục bát, bài thơ “Nguyện Làm Chiếc Lá” của nhà thơ Vạn Lộc đã xúc tích toát yếu được bốn chân lý “Tứ Diệu Đế”. Đó chính là nền tảng của giáo lý mà đức Phật đã dạy. Bài thơ đã thành công. vì nhà thơ chỉ nguyện làm một chiếc lá Bồ Đề, nhưng chiếc lá bồ đề đó đã mang hình ảnh một linh hồn được kiến tánh thành đạo, thoát cõi luân hồi. Cảm ơn quý vị đã đọc.
 
Bài 10 - TRĂNG VẠN HẠNH
 
Kính thưa quý vị, không có nhà thơ nào không viết về trăng. Ngày xưa bên Trung Hoa có Lý Bạch, thời cận đại, nước ta có Hàn Mạc Tử, thơ về trăng của họ được yêu mến lưu truyền trong dân gian và đi vào văn học sử. Hình ảnh trăng trong thơ thiền thời Lý -Trần của nước ta  không chỉ mang vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn mang những triêt lý sâu xa về cuôc sống.
 
Hiện nay nhiều nhà thơ Phật Giáo như ngài Tuệ Sỹ, Ngài Minh Đức Triều Tâm Ảnh… viết về trăng tuyệt vời. Trong những nhà thơ Phật Giáo viết về trăng đó, chúng tôi xin mạo muội giới thiệu với quý vị một cư sĩ cao tuổi tại thành phố Đà Nẵng, nhà thơ Vạn Lộc với bài thơ “Trăng Vạn Hạnh”. Mời quý vị thưởng thức bài thơ. Bài thơ sẽ được nghệ sĩ Nhật Quỳnh đọc lời bình và diễn ngâm phát hành video sau nầy:
 
TRĂNG VẠN HẠNH
 
Chốn lao tù trăng cũng trăng
Trăng miền vạn hạnh cũng hằng nguyệt thôi
Trăng treo trên núi trên đồi
Trăng giăng trên bãi sa bồi mù sương
 
Bóng trăng in mọi nẻo đường
Rọi soi muôn nỗi vô thường nhân gian
Đền đài trăng sáng huy hoàng
Chiến trường xương máu điêu tàn lệ trăng
 
Tim ta thắp một ngọn đèn
Soi sáng tối lối hoa đăng tâm mình
Nhang trầm thơm giữa trang kinh
Hồi chuông khai hội an bình Pháp Hoa
 
Ta ngồi nhặt ánh trăng và
Nhặt vô ưu cõi ta bà rộn hương
                                   Vạn Lộc
 
Vạn hạnh có nghĩa là muôn phần may mắn. Trăng vạn hạnh có nghĩa là trăng đem đến muôn phần may mắn. Chữ vạn hạnh thường dùng trong đạo Phật.  Chữ vạn thường xuất hiện trên ngực các tượng phật, trên kinh điển phật giáo.
 
Vào thời Lê thời Lý, có thiền sư Vạn Hạnh là hình tượng ngàn năm tự tại giữa thăng trầm, ngài thực chứng thực ngộ chính bản thân, còn mang ánh sáng giác ngộ đi vào cuộc đời. Bởi vậy bài thơ “Trăng Vạn Hạnh” của nhà thơ Vạn Lộc viết về một vầng trăng “Rọi soi muôn nỗi vô thường nhân gian”. Ai có ánh trăng đó trong tâm hồn thì được “Soi sáng tối lối hoa đăng tâm mình” nghĩa là thấy con đường chân lý mà đi giữa cuộc đời nầy.
 
Vầng trăng trong thơ Vạn Lộc là vầng trăng ở muôn nơi, chiếu muôn nơi, từ nơi điêu tàn cho đến chốn huy hoàng, đó chỉ là thứ trăng “treo trên núi trên đồi” hay “Giăng trên bãi sa bồi mù sương”. Nhưng Vạn Lộc giới thiệu với đời một vầng trăng khác, đó là trăng Vạn Hạnh, vầng trăng đó có năng lực “Khai hội an bình” để cho thế nhân nhặt được vô ưu, không còn sầu khổ, dầu ở chốn ta bà vẫn thấy linh hồn mình rộn hượng: “Nhang trầm thơm giữa trang kinh/ Hồi chuông khai ngộ an bình pháp hoa/Ta ngồi nhặt ánh trăng và/Nhặt vô ưu cõi tá bà rộn hương”.  Nếu không lầm thì “Trăng Vạn Hạnh” của nhà thơ Vạn Lộc chính là vầng trăng mà đức Phật đã chỉ tay về phía ấy và nói “hãy theo ngón tay ta mà đi”. Quà “Trăng Vạn Hạnh” là bài thơ sâu xa về con đường giải phóng tâm linh, giác ngộ viên mãn. Thân ái kính chào quý vị, chúc cho trăng vạn hạnh luôn sáng trong đời chúng ta.
 
Châu Thạch.
 

No comments: