![]() |
| Khu Lăng mộ của Ngài Bùi Dục Tài tại làng Câu Nhi |
NGÀI
BÙI DỤC TÀI:
- VỊ
TIẾN SĨ KHAI KHOA CỦA ĐẤT THUẬN HÓA,
ĐẦU
TIÊN CỦA XỨ THUẬN QUẢNG.
- NIỀM
TỰ HÀO CỦA LÀNG CÂU NHI VĂN VẬT!
Lê Chí Dũng
Ngày
còn học tiểu học ở làng, có lần ăn giỗ bên ngoại của cha, gia đình bạn cùng lớp
Bùi Ngọc Ngữ, tôi có dịp cùng chú Ngữ ngồi đọc gia phả họ Bùi và được biết làng
mình vinh dự có ngài Bùi Dục Tài là vị Tiến sĩ đầu tiên của đất Quảng trị. Ngài
Bùi Dục Tài có hiệu Minh Triết, sinh năm Đinh Dậu (1477) tại làng Câu Lãm, Phủ
Hải Lăng (nay là làng Câu Nhi, thôn Câu Hà, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị).
Ngài là con của ông Bùi Sỹ Phường, cháu đời thứ 5 của Ngài thủy tổ Bùi Trành.
Ngài đỗ khoa thi Hương năm 1501, khoa thi Hội vào mùa Xuân năm 1502 rồi đậu Đệ
nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa thi Đình năm
Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502), đời vua Lê Hiến Tông (con
của vua Lê Thánh Tông) thời Hậu Lê còn hưng thịnh. Nước Đại Việt thời đó đã mở
mang đến Bình Định.
![]() |
| Bia đá khắc tên Ngài Bùi Dục Tài |
Là
cư dân của đất Thuận Hóa nên Ngài Bùi Dục Tài là vị Tiến sĩ khai khoa của vùng
đất Thuận Hoá. Tên Thuận Hóa do vua Trần Anh Tông đặt vào năm 1307 sau khi sáp
nhập vào Đại Việt 2 châu Ô và Rí là quà cưới công chúa Huyền Trân của vua Chế
Mân nước Chiêm Thành. Thuận Hóa là vùng đất từ Quảng Bình vào Bắc Quảng Nam, gồm
các châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, Ô và Rí (Lý) của Chiêm Thành cũ.
![]() |
| Văn Thánh nơi thờ Ngài Bùi Dục Tài tại làng Câu Nhi |
Cũng
có thể nói Ngài là vị Tiến sĩ đầu tiên của vùng đất Thuận Quảng tức Thuận Hoá
và Quảng Nam (xưa). Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đánh thắng vua Chiêm là Trà
Toàn và mở mang bờ cõi đến Bình Định. Nhà vua đã đặt tên "Quảng Nam thừa
tuyên đạo" bao gồm Đà Nẵng, Quảng Nam ngày nay, Quảng Ngãi và Bình Định.
Đối
với quê hương thì đây là một kết quả rất đáng tự hào, đầy vinh dự của làng Câu
Lãm (Câu Nhi hiện nay). Làng chỉ mới thành lập được khoảng 100 năm ở vùng “Ô
châu ác địa” mà từ trong gian khó đã sản sinh ra nhân tài thi đậu Tiến sĩ!
Tuy
nhiên nếu nói ngài là người tiến sĩ khai khoa của Đàng Trong thì không đúng vì
vào thời điểm đó (năm 1502 lúc ngài Bùi Dục Tài đậu tiến sĩ) thì Trịnh Kiểm
(sinh năm 1503) và Nguyễn Hoàng (sinh năm 1525) còn chưa sinh ra đời và hơn 170
năm sau (năm 1672) mới có cụm từ Đàng Ngoài – Đàng Trong để chỉ thời kỳ Trịnh-Nguyễn
phân tranh. Giai đoạn này chỉ tồn tại 114 năm, chấm dứt vào năm 1786 khi Vua
Quang Trung- Nguyễn Huệ tiêu diệt cả 2 tập đoàn chúa Nguyễn và chúa Trịnh.
Lược
lại sử sách thì Nguyễn Kim là người đã khởi binh phò Vua Lê, dẹp họ Mạc, tạo
nên thời kỳ Lê trung hưng. Sau khi Nguyễn Kim mất, quyền bính rơi vào tay con rể
Trịnh Kiểm. Lo sợ bị giết như người anh Nguyễn Uông nên Nguyễn Hoàng nhờ chị là
Ngọc Bảo xin với anh rễ Trịnh Kiểm cho vào đất Thuận Hóa là một vùng đất mới,
còn nhiều bất ổn của Đại Việt. Vì vậy vào năm 1558 đời vua Lê Anh Tông, Trịnh
Kiểm xin vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá & và sau này cả xứ
Thuận Quảng. Sự đối nghịch Trịnh><Nguyễn bộc lộ rõ ràng hơn sau khi Chúa
Nguyễn Hoàng mất vào năm Quí Sửu (1613) và Chúa Trịnh Tùng mất (1623). Hai bên
đánh nhau 7 lần, lần đầu vào năm 1627 và lần thứ bảy vào năm 1672 bất phân thắng
bại nên phải chấp nhận chia đôi 2 miền Đàng Ngoài và Đàng Trong, lấy ranh giới
là Linh Giang (sông Gianh) ở Quảng Bình... Khi cả 2 Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đều
bị vua Quang Trung của nhà Tây Sơn tiêu diệt vào năm 1786 thì không còn Đàng
Trong, Đàng Ngoài nữa.
Do
đó, nôm na nếu nói ngài Bùi Dục Tài là vị Tiến sĩ đầu tiên của Đàng Trong (như
nhiều văn bản hiện nay) thì cũng tương tự như công nhận đại thi hào Nguyễn Du
là nhà thơ lớn của thời kỳ VN XHCN vậy!!!
Theo
gia phả họ Bùi thì từ thuở thiếu thời, cậu bé Bùi Dục Tài là người thông minh
đĩnh ngộ, cha ông làm trưởng làng. Năm 1491 nhân chứng kiến cảnh quan huyện
trách mắng, sỉ nhục cha mình do thu nộp thuế không đủ. Cậu đã hỏi “Cha ơi, ôn nớ
làm chi mà mắng nhiếc cha dữ rứa?" "Ông nớ làm quan huyện, cố tình
trách mắng ai chả được" "Ông nớ mần răng mà được làm quan huyện?”
" Ông ấy học cao thi đỗ nên được bổ ra làm quan" ""Con tưởng
ông ta có tài cán chi, chứ còn học cao thi đỗ rồi được ra làm quan thì con cũng
làm được. Cha cho con đi học đi, con sẽ quyết chí thi đỗ và làm quan cho cha
coi". Nghe con trẻ có chí hướng như vậy, dù gia cảnh nghèo khó cha ông đã
quyết tâm cùng bà con họ tộc khuyến khích giúp đỡ cho cậu đi học từ năm
1492.
Năm
Tân Dậu-1501, vua Lê Hiến Tông tổ chức kỳ thi hương tại Huế. Sau 4 ngày thi cử,
ông Bùi Dục Tài đã đậu Cử nhân (hương cống). Mùa Xuân năm Nhâm Tuất-1502, ông lặn
lội từ Thuận Hóa xa xôi lều chỏng ra kinh đô Thăng Long dự kỳ thi Hội. Trải qua
4 trường thi ông đã thi đỗ cùng với 63 người khác trong tổng số 5.000 sĩ cống.
Đến kỳ thi Đình cùng năm 1502, ngài Bùi Dục Tài được vào sân Kính Thiên cung
đình tham dự, đề thi do đích thân nhà Vua biên soạn. Ông đã trả lời xuất sắc,
được nhà Vua khen ngợi và thi đỗ “Nhị giáp Tiến sĩ xuất thân”, đứng thứ 24
trong tổng số 64 Tiến sĩ. Trạng nguyên khoa ấy là ông Lê Ích Mục người làng
Thanh Lãng, huyện Thanh Đường (nay là Hải Phòng).
Ngài
Bùi Dục Tài nổi tiếng uyên bác về văn học và có tài thao lược. Ngài được bổ nhiệm
vào Viện Hàn lâm giữ chức Hàn lâm Hiệu Lý rồi Tham chính Đạo Thanh Hoa (nay là
Thanh Hóa) và là danh thần đời vua Lê Túc Tông. Bấy giờ nhà Lê bước vào giai đoạn
suy tàn. Nhờ công lao phò Lê Tương Dực lên ngôi vua, nên vào năm Hồng Thuận thứ
nhất (1509), ngài được thăng chức Lại bộ Tả thị lang. Đương thời, ông được xưng
tụng là vị quan liêm khiết, công bằng, ngay thẳng, luôn cất nhắc đề bạt những kẻ
có thực tài và hiền đức nên được mọi người khen ngợi và mến phục.
Năm
Quang Thiệu thứ nhất (1516), đời vua Lê Chiêu Tông đất nước càng loạn lạc hơn,
ngài được cử giữ chức Tham tướng về kinh lý tại quê nhà Thuận Hóa nhằm vận động
nhân dân và sĩ phu chống lại âm mưu tiếm ngôi vua của Mạc Đăng Dung. Đội quân
phiến loạn do 2 anh em Đô Chúc và Đô Kiểm cầm đầu. Ngài Bùi Dục Tài đã chỉ huy quân
đánh dẹp, giết được Đô Kiểm còn Đô Chúc tẩu thoát. Trên đường trở lại kinh đô
Thăng Long, qua xứ Bàu Đá huyện Võ Xương hiểm trở (nay là làng Cẩm Thạch, Cam Lộ,
tỉnh Quảng Trị), ngài bị tàn quân nhà Mạc là Đô Chúc và Minh Lương (?) phục
kích. Ngài đã dũng cảm chiến đấu và hy sinh vào ngày 12 tháng 8 năm Mậu Dần-1518,
hưởng dương 41 tuổi. Dân làng Cẩm Thạch dựng miếu lớn thờ Ngài tại vị trí này.
Thân nhân đã đưa thi hài của Ngài về bản quán làng Câu Lãm và an táng Ngài tại
cánh đồng Yên Biều gần Cọ Mỹ Xuyên. Nhiều vị Tổ của các Họ cũng được chôn cất tại
đây. Bài vị của Ngài được thờ phụng ở Văn Thánh, ở Chùa Quan khố và gia tộc họ
Bùi của làng. Tương truyền một người con của Ngài ra sinh sống ở Cẩm Thạch, Cam
Lộ; ở đây cũng có một ngôi mộ (mộ gió?) của Ngài và tạo nên một phái họ Bùi ở
đây (?). Sử sách có ghi lại một người con trai của Ngài là Bùi Vĩ đậu Nho sinh
trúng thức bị Vua Mạc Thái Tổ xử tử do có người em gái đi theo giặc Liễn (!). Nếp
nhà sa sút từ đây!.
Trong
sách "Ô Châu cận lục" của Dương Văn An (đỗ tiến sĩ năm 1547) đã nhận
xét "Bùi Dục Tài về chính trị và văn chương xứng đáng là bậc hiền tài
trong thiên hạ" "Cái chết của ông Bùi Dục Tài chẳng phải là sự bất hạnh
của riêng ông mà chính là sự bất hạnh của triều Lê...". Nhà bác học Lê Quí
Đôn khen ngợi ngài Bùi Dục Tài “Văn mạch một phương dằng dặc không dứt”.
Sau
khi mất, ngài Bùi Dục Tài được vua Lê truy tặng chức Lễ Bộ Thượng Thư. Năm Tự Đức
thứ 11 (1858), ngài Bùi Dục Tài được truy phong "Tuần lương tôn thần".
Gia
phả họ Bùi đã ghi chép đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp của Ngài và tri ân Ngài
bằng 2 câu thơ:
Nam kỳ khoa giáp thụ tiền mao, kỳ sanh bất
ngẫu
Cẩm thạch sơn hà lưu chính khí, thị tử du
dịch
là:
Văn chương lừng lẫy xứ Nam kỳ, bia còn tạc
Khí tiết lưu truyền làng Cẩm Thạch, chết
thơm danh.
Tên
của ngài Bùi Dục Tài được khắc vào bảng vàng bia đá tại Văn Miếu Quốc Tử Giám
Hà Nội. Các vị Tiến sĩ khác của đất Quảng Trị đều đỗ đạt dưới thời nhà Nguyễn
và được khắc bia ở Văn Thánh, Huế. Những ai đã đến viếng thăm Văn miếu Hà Nội
và quan tâm đến ngài Bùi Dục Tài thì đều thắc mắc xen lẫn ấm ức khi thấy ghi
quê quán ngài là “Hải Dương ?!”. Có người cho rằng sở dĩ ghi như vậy là vì quê
vợ của ngài ở Hải Dương ?. Người khác lại nghĩ hay là do viết chữ Hán bị nhầm
giữa Hải Lăng và Hải Dương chăng?. Trong những lần trước đây, tôi đã nhiều lần
góp ý bằng thư, nhưng không thấy sửa đổi! Trong lần ra hội thảo ở Hà Nội năm
2002, ghé thăm Văn miếu-Quốc tử giám, tôi đã để ra một buổi sáng ngồi trao đổi,
góp ý với giám đốc và phó giám đốc Văn Miếu về những sai sót (trong đó có những
điểm rất ấu trĩ) và về phương thức họat động của Văn Miếu. Buổi họp mặt với
giám đốc và phó giám đốc Văn Miếu hôm đó còn có BS CKII Đinh Văn Thuỷ, Trưởng
Khoa Chấn thương Chỉnh hình Bệnh viện Nhân dân Gia Định- TPHCM. Một số hoạt động
sau đó được khởi xướng từ năm 2003 như tổ chức vinh danh các Tiến sĩ, Giáo
sư/Phó Giáo sư tại Văn miếu-Quốc tử giám (không rõ là từ góp ý của tôi hay chỉ
là sự trùng hợp (?!). Nhưng những sai sót về hình thức cũng như chi tiết về quê
quán của ngài Bùi Dục Tài thì vẫn như cũ!
Như
vậy, ngài Bùi Dục Tài là vị Tiến sĩ khai khoa của đất Thuận Hoá, là vị Tiến sĩ
đầu tiên của xứ Thuận Quảng và của cả các tỉnh phía Nam dãy Hoành sơn (đèo
Ngang), vùng đất mà có một giai đoạn của lịch sử được gọi là Đàng Trong (từ năm
1672-1786). Ngài là tấm gương sáng về lòng hiếu học, tinh thần vượt khó khăn khổ
cực để thành tài, làm rạng danh truyền thống học hành khoa cử. Ngài đã thể hiện
đức tính liêm chính, đạo nghĩa của làng Câu Nhi, của tỉnh Quảng Trị và vùng Thuận
Hoá, cho cả xứ Thuận Quảng xưa và Việt Nam ngày nay.
![]() |
| Tác giả LCD viếng mộ Ngài Bùi Dục Tài tại làng Câu Nhi |
Tôi
được biết vào năm 2003, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị đã ban hành quy chế giải
thưởng Bùi Dục Tài để khen thưởng cho các học sinh, sinh viên đạt kết quả cao
trong các kỳ thi. Tên ngài còn được đặt cho trường trung cấp dạy nghề ở TP.
Đông Hà, trường phổ thông trung học xã Hải Sơn. Khi đi ngang qua Phò Trạch, tỉnh
Thừa thiên, tôi lại thấy một con đường nhỏ mang tên Bùi Dục Tài. Về làng, tôi
đã cùng cha ra thăm khu Văn Thánh nơi thờ ngài Bùi Dục Tài vừa được xây dựng lại
ở ngay trước đình làng, thấy cũng còn đơn sơ lắm. Như vậy thì tuy làng Câu Nhi
được vinh hạnh có người con ưu tú là ngài Bùi Dục Tài nhưng vẫn còn thiếu những
hoạt động xứng tầm với tên tuổi của Ngài cũng như chưa phát huy được tinh thần
Bùi Dục Tài trong việc thúc đẩy học tập, công tác. Ngôi mộ của ngài ở đồng Yên
Biều xóm Hòa gần “cọ” Mỹ Xuyên vẫn còn quạnh quẻ. Có thể nói tầm vóc ngài Bùi Dục
Tài xứng đáng hơn những gì mà làng Câu Nhi và tỉnh Quảng Trị đã vinh danh ngài.
Theo tôi, để phát huy tinh thần hiếu học, làm việc công minh cho con cháu học tập,
noi theo và phát huy, tên Ngài Bùi Dục Tài xứng đáng được đặt cho một trong những
ngôi trường và con đường lớn nhất ở tỉnh Quảng Trị cũng như ở thành phố Huế.
Năm
2025, dự án tôn tạo ngôi mộ của ngài ở đồng Yên Biều gần Cọ Mỹ Xuyên và Miếu thờ
Ngài ở đầu đình làng Câu Nhi được hoàn thành. Con đường bê tông rộng 6m từ quốc
lộ 49B vào thẳng khu mộ của ngài tạo điều kiện cho con cháu và khách thập
phương, khách du lịch đến viếng người con ưu tú của làng "Câu Nhi văn vật"
và của vùng đất Thuận Hoá xưa. Khu lăng mộ của Ngài đã được khánh thành đầu
tháng 1 năm 2026.
Con
đường lớn, đẹp bên bờ hồ Hải Lăng cũng vừa được vinh dự mang tên Ngài.
LCD
Những
ngày đầu năm, cuối năm nhớ về làng quê yêu dấu.
14/01/2026
Liên kết:




No comments:
Post a Comment