HƯƠNG QUÊ -
BÀI THƠ CỦA PHƯƠNG NGỮ BẮC
BỘ…
Tôi đọc “Hương Quê” của tác
giả Đặng Xuân Xuyến cách đây khá lâu. Gần đây, đọc lại kỹ hơn. Không phải muốn
đền ơn bạn Xuyến đã xem chỉ tay mà thật lòng là thích bài thơ này. Thỉnh
thoảng tôi vẫn có cảm hứng bình cho vui, thuận tiện nhất là khi rảnh. Đó là thú
“thích thì nhích” đời thường của người dạy Văn, học Văn.
Bài thơ Hương Quê có nhiều từ mới, đối với tôi, cũng cần đi sâu để hiểu thêm về văn chương của các nhà văn Bắc Bộ…
Hôm nay, thong thả đọc thơ
và cảm nhận chút chút…
HƯƠNG QUÊ
Hương cốm nhà bên duyềnh
sang nhà hàng xóm
Cô bé thậm thò vắt ngang dải
yếm
Níu bờ sông
Ơi ời “ra ngõ mà trông”
Vi vút gió đồng...
.
Ngẩn ngơ
giấc mơ
Níu đôi bờ bằng dải yếm
Chuốt tóc mềm làm gối chăn
êm
Áo tứ thân trải lá lót nằm
Gom gió lại để chiều bớt
rộng...
.
Thẩn thơ
Tiếng mơ thầm thĩ
“Người ơi...
Người ơi...”
Dan díu lời thề
Ngõ quê líu quíu.
*.
Hà Nội, chiều 31.08.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Bài thơ Hương Quê được viết
vào một ngày cuối tháng 8 năm 2017. Đó là lúc đã sang thu. Không hiểu sao đọc
bài thơ, tôi lại thấy rất là mùa xuân. Gần đây, tôi đọc được một câu comment
của cô giáo Kim Tuyết (cô dạy Anh văn hồi lớp 7) cho bài thơ Tết của mình và
nhận ngay được lì xì của cô từ một câu chữa lành rất thấm: “Khi tâm hồn an
nhiên thì ngày nào cũng có thể là Tết…”
Tâm hồn tôi bây giờ đang
nhìn về mùa thu mà như gặp một mùa xuân đấy, tuy có chủ quan, nhưng không phải
vô căn cứ khi tiếp xúc với bề mặt ngôn từ của Hương Quê.
Trong đời sống của người
nông dân Bắc Bộ truyền thống, ngoài vụ lúa Chiêm Xuân thì vụ MÙA rất là quan
trọng. Cây lúa được gieo trồng tầm tháng 5-6 và thu hoạch từ tháng 9-11. Vụ MÙA
tuy thời tiết mưa gió nhiều nhưng lại cho năng suất cao. Lúc sang Thu, hương
của đòng đòng dậy lên khiến lòng người rộn ràng một niềm vui rất Tết:
“ Hương cốm nhà bên duyềnh
sang nhà hàng xóm
Cô bé thậm thò vắt ngang dải
yếm
Níu bờ sông
Ơi ời “ra ngõ mà trông”
Vi vút gió đồng...”
Khoan đề cập đến việc dùng
nhiều từ láy, khổ thơ này có một từ rất thú vị: “duyềnh”.
“Duyềnh” chắc là một cách
phát âm địa phương ở làng quê của nhà thơ, và từ “duềnh” đã chính thức xuất
hiện trong từ điển của nhà ngôn ngữ Lê Ngọc Trụ.
“Duềnh" (còn gọi là
doành) là một từ cổ trong văn chương, có nghĩa là vũng nước, dòng nước sâu, đầm
nước, hoặc chỗ dòng sông sâu tạo thành vực. Từ này gợi tả cảnh tượng sông nước
mênh mông, sâu lắng.
Và “duềnh” xuất hiện
trong Truyện Kiểu vài lần:
· “Buồn
trông gió cuốn mặt”
· “Kiều
từ gieo xuống duềnh ngân”
· “Trong
sao châu nhỏ duềnh quyên
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới
đông”
“Duyềnh quyên” được Từ
điển Việt Nam của thầy Lê Ngọc Trụ giải thích: vũng nước có ánh trăng
soi lấp lánh, cũng được hiểu là cảnh đẹp thoáng đãng, trữ tình…
Trở lại câu thơ “hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm”, thì từ “duyềnh” có lẽ không còn là hình ảnh một vùng nước loang, mà là một động thái miêu tả cái cách hoạt động của một thực thể khác tác động đến khứu giác và có khả năng lưu giữ những ký ức về làng quê thân thuộc. Đó chính là “hương cốm”.
Dùng trí tưởng tượng, nhắm
mắt lại, người ta vẫn có thể hình dung mùi hương của cốm (lúa non) như loang ra
khắp một không gian sáng bừng quanh thân. Ngửi thấy mà như được nhìn cái hương
sắc của mùa lúa mới tinh khôi.
Hương quê quá là quyến
rũ!
Một chút sáng tạo từ ngữ rất
thú vị!
Tôi tin là AI không thể làm
được những câu thơ như này…
Bên cạnh hương cốm còn có
hương vị cuộc đời. Xuyến tả hình ảnh của cô gái nhà hàng xóm khiến mình liên
tưởng đến bài ca dao:
“Thân em như chẽn lúa đòng
đòng
Phất phơ giữa ngọn nắng hồng
buổi mai”
Cô gái ấy đang “thậm thò”
phía nhà bên vì đang phơi dải yếm mới giặt trên sào đồ có hai sợi dây mắc song
song được ví như đôi bờ sông ngăn một dòng không có nước treo lơ lửng hay trong
ánh nhìn của nhà thơ hình ảnh cô bé thoắt ẩn thoắt hiện hình như có một nguồn
nước rất phồn thực, căng tràn nhựa sống sau làn dải yếm được buộc chặt như níu
giữ đôi bờ - đôi gò bồng đảo gần lại nhau hơn? Mình thích cách nhìn ảo ảnh vừa
xa vừa gần này hơn. Hoàn toàn rất thanh tao mà cũng rất thanh tân trong vẻ đẹp
làng quê…
Thường thì khi miêu tả cái
gì lúc nhô, lúc hạ xuống, người ta dùng từ “thập thò”. Ở đây tác giả lại dùng từ
“thậm thò”. Cũng đều là từ miêu tả hành vi thể hiện góc nhìn lén, nhìn mà không
thấy rõ nhưng vẫn ngại bị phát giác đã nhìn. Bên trong lớp “dải yếm” là vẻ đẹp
rất kín, rất bí ẩn, chính vì có sự lỡ nhìn vào nên ắt hẳn cả người nhìn và
người bị nhìn không tránh khỏi thẹn thùng…
Và đặt cảm xúc trong ngữ
cảnh câu thơ thì “thậm thò” khiến âm điệu thơ tinh tế, nhẹ nhàng, mang nang…
không có tính chất mạnh bạo, vồ vập theo kiểu đang bị cuốn hút đầy dục tính khi
đối diện với cái đẹp non tơ, nõn nà…
Ở đây, kế thừa cách nói dân gian khi sử dụng từ láy, nhưng tác giả hoàn toàn có chủ đích khi phối thanh nhằm tạo âm điệu thơ theo cảm xúc rất riêng: nhẹ nhàng, trầm lắng và tinh tế.
Hương sắc của làng quê dẫn
dắt người thơ đến với thanh nhạc. Tâm hồn Đặng Xuân Xuyến cũng náo nhiệt dữ
lắm:
“Ơi ời “ra ngõ mà
trông”
Vi vút gió đồng…”
Thì ra, cái rộn ràng của tâm
hồn ao ước chuyện lứa đôi được gửi gắm, nhắc khéo câu đầu của lời gốc bài dân
ca Quan họ Bắc Ninh “Ra ngó vào trông”:
“Ngày ngày ra ngõ mà trông.
Bạn không thấy bạn tình
không thấy tình.
Vào rừng xe rễ một cây
Muốn đây với đấy cùng nhau
sum vầy
Chuồn chuồn mắc phải tơ
vương
Đã trót dan díu thời thương
nhau cùng.”
Từ láy “Ơi ời” hạ giọng phối
hợp với từ láy “vi vút” nâng giọng cho thấy tâm hồn nhà thơ rất động, có đủ
trầm bổng ngân nga…
Khổ thứ hai quả nhiên là sự
tiếp nối cái cảm xúc đang “vỡ bờ” của thi sĩ:
“Ngẩn ngơ
giấc mơ
Níu đôi bờ bằng dải yếm
Chuốt tóc mềm làm gối chăn
êm
Áo tứ thân trải lá lót nằm
Gom gió lại để chiều bớt
rộng...”
Những gì được suy đoán ở khổ 1 đã
được khẳng định ở khổ 2. Hình ảnh trung tâm trong bức tranh làng chính là cô
gái nhà bên. Nàng vừa gần vừa xa, vừa thực vừa mơ, vừa gần gũi ấm áp nhưng cũng
không dễ chạm. Thế nên tâm trạng ai kia “ngẩn ngơ” là hoàn toàn hợp lẽ…
Từ “hương cốm” tả thực
đến “hương em” lại rất trừu tượng. Hương quê là sự hòa quyện mùi thơm
cây lúa với hương con người tan chảy trong mùi hương của mái tóc mềm, dường như
có hương bưởi, hương chanh và có cả hương lá chuối được lót thay chiếu cho em
nằm phô tự nhiên chiếc áo tứ thân và dải yếm đào trễ xuống đôi bờ phồn thực…
Không chỉ “ngẩn ngơ” chốc
lát mà trạng thái như mất hồn này trải dài theo thời gian, không gian. Nhà thơ
muốn gần thêm một chút, cho cõi đời bớt rộng, cõi lòng sẽ bớt cô đơn. Mong muốn
níu giữ mãi cái không nỡ xa rời dù biết rằng đó là một hình ảnh, một mùi
hương thoang thoáng.
Bức tranh thơ muốn gửi gắm
niềm khát khao về những điều thân thuộc,chân chất trong nếp sống văn hóa truyền
thống của người Việt.
Cảnh quê, hương quê hãy cứ
thế! Hãy cứ “chuốt tóc mềm làm gối chăn êm”và hãy thong dong trên đồng “áo tứ
thân trải lá lót nằm” để thấy thiên nhiên làng quê mới chính là thiên đường
trong cuộc sống hiện tại.
Bài thơ khép lại với âm điệu
trìu mến và nồng nàn:
“Thẩn thơ
Tiếng mơ thầm thĩ
“Người ơi...
Người ơi...”
Dan díu lời thề
Ngõ quê líu quíu.”
Hàng loạt từ láy gợi hình, gợi âm xuất hiện: thẫn thờ, thầm thĩ, dạn díu, líu quíu, khiến đoạn thơ có vẻ rất tăng động. Nhịp thơ lại
dồn dập, hối hả như gọi như mời trở về quê hương cho những cuộc gặp gỡ ấm tình
của những “liền anh”, “liền chị” trong đêm trăng quan họ say bất tận quên cả
lối về…
“Thầm thĩ” chứ không phải
“thầm thì”. “Líu quíu” chứ không phải “líu ríu” bởi đây là cách dùng từ của
Đặng Xuân Xuyến. Đặt các từ này trong ngữ cảnh bài thơ, ta thấy tác giả dựa
trên yếu tố đồng nghĩa, kế thừa ngôn ngữ chung của dân tộc nhưng dùng theo cách
biểu cảm riêng, rất chắt lọc và luôn định hình một ý thức sáng tạo để rót “rượu
cũ” vào “chiếc bình mới” cho thơ ca hiện đại, mở rộng trường liên tưởng của
những từ ngữ quen thuộc, giúp người đọc có thêm những góc nhìn cảm xúc mới, mở
rộng vốn từ cho kho từ vựng tiếng Việt thông qua những phương ngữ của làng quê
Bắc bộ.
*.
Tây Ninh, 11 tháng 3 năm
2026
DƯƠNG DIÊN HỒNG
(Giảng viên trường Cao Đẳng
Sư Phạm Tây Ninh)
Địa chỉ: Hẻm 1, Đường Bời
Lời, phố Ninh Trung,
phường Ninh Sơn, thành phố
Tây Ninh.
.jpg)
No comments:
Post a Comment