Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, December 27, 2025

Youtube: ĐÊM ĐÔNG LẠNH TRỜI MƯA XUỐNG - Nhạc và lời: Phạm Anh Dũng, Ngọc Tuyết ca



ĐÊM ĐÔNG LẠNH TRỜI MƯA XUỐNG

(nhạc và lời Phạm Anh Dũng)


Đêm đông lạnh bên đường vắng 

Công viên buồn ánh đèn trắng

Bầy chim đã rũ trên cành 

Trời mưa xuống, ai xa dần ...

Đêm đông lạnh mây lạc bến. 

Ghế đá buồn không người đến. 

Người phiêu lãng đã xa vời. 

Trời mưa xuống lá rụng rơi ...

Đêm đông lạnh ai đàn trong gió. 

Âm điệu buồn xóa nhòa vần thơ. 

Và về đâu bao cánh sao mờ? 

Và tìm đâu bao niềm ước mơ?

Đêm đông lạnh, con thuyền không bến 

Trong sương mờ tiếng hát lênh đênh: 

Cuộc tình xưa tiếc mấy cho vừa, 

Ngàn lời gió đưa mộng vào mưa ...

Đêm đông lạnh em ngồi đó 

Rũ tóc buồn bên trời gió 

Ngàn cây lá rớt bên thềm 

Trời mưa xuống trên vai mềm

Đêm đông lạnh ôi lạnh giá! 

Tiếng guốc buồn xa vội vã 

Dòng sông cũ nước cuốn trôi. 

Trời mưa xuống...thấm...bờ...môi...

READ MORE - Youtube: ĐÊM ĐÔNG LẠNH TRỜI MƯA XUỐNG - Nhạc và lời: Phạm Anh Dũng, Ngọc Tuyết ca

KHÚC CHIỀU RƠI - Thơ Nguyễn An Bình

   


 

NGUYỄN AN BÌNH

KHÚC CHIỀU RƠI

 

Ngày đi còn khắc khoải

Dẫu thời gian ngừng trôi

Mùa bao giờ trở lại

Thiên thu chẳng đợi người.

 

Bình minh chưa kịp tới

Nỗi buồn mọc từ đâu

Lá trên cành hấp hối

Bay suốt trời bể dâu.

 

Chiều rơi bên thềm

Thương kiếp người trăm năm

Tình qua mùa mưa lũ

Sóng xô bờ ăn năn.

 

Có bao điều giấu kín

Tình thù thật mong manh

Nhớ một thời luýnh quýnh

Khi tóc người còn xanh.

 

Màu rêu phong cũ kĩ

Trên mái ngói nâu trầm

Nghe tiếng chim hoài niệm

Miền ký ức xa xăm.

 

Bao giờ em tự hỏi

Tôi đứng đợi bên trời

Dòng đời trôi quá vội

Êm đềm khúc chiều rơi.


26/12/2025

N.A.B.

luongmanh2106@gmail.com

 

 

 

READ MORE - KHÚC CHIỀU RƠI - Thơ Nguyễn An Bình

PHÂN TÍCH BÀI THƠ “NGÀY TRỞ VỀ” CỦA KHÊ GIANG - Phạm Cảnh Thượng

  

Nhà thơ Khê Giang

Phân tích bài thơ

“NGÀY TRỞ VỀ” của KHÊ GIANG

Phạm Cảnh Thượng

 

Khi xem thơ đọc thơ, thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp những bài thơ không chỉ hay mà còn có độ khái quát rất cao về một vấn đề, một đề tài nào đấy. Mình thường gọi đó là những bài thơ vừa đẹp vừa tròn. Ví dụ để diễn tả, diễn đạt tình yêu tha thiết, nỗi nhớ dạt dào của một người con xa xứ đối với quê hương, thì bài thơ “Ngày trở về” của nhà thơ Khê Giang là một ví dụ tiêu biểu về điều vừa nói.

Có lẽ rất nhiều người nghĩ rằng thơ lục bát là thể thơ “dễ làm” nhất. Chắc là đúng. Nhưng để một bài lục bát đạt tầm cao, xứng đáng để gọi là “thơ” đúng nghĩa, thì là chuyện hoàn toàn khác. Nghĩa là thơ lục bát dễ làm thật. Nhưng để hay thì rất khó.

Có những câu lục bát, bài lục bát kiểu bình dân. Trong khi lại có những áng thơ lưu danh sử thi muôn đời, ví dụ Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, cũng là dưới dạng thể thơ lục bát.

Còn bây giờ, mời bạn đọc thưởng thức và thử nhận xét, phân tích bài lục bát của Khê Giang xem sao nhé :

“Tôi về thăm lại bến xưa.

Lặng nghe ký ức lụt bờ tháng năm.

Sông quê vẫn tắm nắng vàng.

Con đò vẫn chở ngày sang phía … chờ”

Chỉ sau vỏn vẹn một câu vào đề thôi, rất rõ ràng và tự nhiên. Tự nhiên và dung dị như một lời kể. Có lẽ cốt yếu kể cho chính mình nghe nhiều hơn là kể với mọi người: “Tôi về thăm lại bến xưa”, qua câu thứ 2 trở đi là đã bộc lộ một loạt rất nhiều cái hay của nghệ thuật thơ. Có lẽ bạn đọc nào cũng phải trầm trồ thích thú với 4 chữ “lụt bờ tháng năm”.

Xem thời gian là một dòng chảy, như dòng sông thì chắc không còn cách nào hay và chính xác hơn được nữa. Dòng sông thì phải có bờ, bờ sông thì bình thường nhưng “bờ tháng năm” thì độc đáo quá. Đúng không nào ?

Ngay hình ảnh “bến xưa” trong câu đầu tiên thôi cũng đã rất gợi cảm và gợi mở nhiều điều. Đó có thể là nghĩa đen bến sông xưa, cũng có thể nghĩa bóng là bến bờ của ký ức, của kỷ niệm. 3 câu tiếp sau là một loạt hình ảnh mang tính đặc tả và biểu tượng rất tiêu biểu : bến xưa - sông quê - nắng vàng - con đò. Được liên kết bằng 3 từ : lụt - tắm - chở.

Chính 3 từ rất đắt này là hồn cốt nghệ thuật. Đồng thời tạo nên sự gắn kết logic, rất chặt và dính cho khổ thơ đầu tiên. Cộng thêm 2 chữ “phía … chờ” khá lạ tai, gợi ra một “lối mở”, một cánh cổng mở không thể đẹp hơn, mời gọi hơn, để dẫn dắt người đọc tiếp tục đi vào bài thơ :

“Tôi gặp tôi của ngày xưa.

Con mương lem lấm vẫn lờ lững trôi.

Ấm mùa gặt tiếng cà lơi.

Náng chân trâu chú nhái ngồi gọi đêm.

Bước lần qua những rỉ hoen.

Xác mùa chinh chiến vẫn nghèn nghẹn đau.

Giàn tre xót lũ ong bầu.

Khoét vào lòng những hư hao tháng ngày”

Từ “bến xưa” của câu mở đầu nói trên, tác giả đứng đó để hồi tưởng, để ôn lại, để thổn thức với những ngày tháng cũ. “Tôi gặp tôi” - câu thơ chùng hẳn xuống như vào lời tâm sự. Như kiểu “cho tôi một vé về tuổi thơ”, tác giả giúp bạn đọc và nói đúng hơn là đồng hành cùng bạn đọc trở về lục tìm tuổi thơ trong ký ức sau bao năm dài bôn ba vì cuộc sống.

Tôi của ngày xưa ơi, chỉ cần thoáng nghĩ thôi là đã nghe lòng rưng rưng thương nhớ. Chỉ một đoạn thơ mà gợi lại quá nhiều kỷ niệm: con mương, mùa gặt, tiếng chim cà lơi (chiền chiện, sơn ca), náng chân trâu, chú nhái, giàn tre, lũ ong bầu, v.v … tính sơ sơ có đến 7 - 8 chi tiết hình ảnh trong một đoạn thơ ngắn. Điều đáng nói là nhiều chi tiết nhưng không lan man, dàn trải. Chỉ cảm thấy rất gần gũi và quen thuộc. Gần gũi đến độ thân thương, quen thuộc mà lại đến mức ngỡ ngàng.

Cái hay của đoạn thơ không chỉ đến từ những hình ảnh gợi cảm ấy, mà còn đến từ hồi ức khắc khoải của một thời chiến tranh, đã từng khắc ghi vào tuổi thơ tác giả: “Xác mùa chinh chiến vẫn nghèn nghẹn đau”“Khoét vào lòng những hư hao tháng ngày”. Để diễn tả nỗi buồn đau chiến tranh trên cố hương ngày ấy mà dùng 2 từ “nghèn nghẹn”“hư hao” thì có lẽ không còn từ nào hay hơn, xác đáng hơn.

Chỉ với đoạn đầu của “Ngày trở về”, tin rằng bất cứ ai lứa tuổi cùng tác giả cũng có thể bắt gặp bóng dáng mình trong đó. Người đọc dễ dàng đồng cảm bởi như tác giả đã nói hộ thay mình.

Thiết nghĩ cần dành đôi dòng để nói sơ qua về tác giả. Với anh em và bạn đọc không ai xa lạ Khê Giang là bút danh của bác sĩ Lê Văn Huấn. Quê anh làng Trường Sanh - xã Hải Trường cũ. Xong cấp 2 anh theo gia đình vào nam 45 năm nay, định cư tại Thị trấn Ngãi Giao - BRVT cũ.

Mặc dù công tác trong ngành Y tế, là bác sĩ, nhưng anh có năng khiếu và trình độ văn chương, làm thơ và viết văn đều hay. Là hội viên Hội văn học nghệ thuật BRVT.

Không những thế anh còn sáng tác nhạc. Những ca khúc của anh phần lớn cũng viết về đề tài quê hương và cũng đều hay, đều mượt mà và được thính giả mến mộ. Ví dụ các ca khúc: Trầm khúc sông, Khúc hát mùa đông, Quảng Trị tôi, Quảng Trị mình ơi, Dòng sông tuổi thơ, v.v …

Bên cạnh còn nhiều bản nhạc khác là thơ anh, được các nhạc sĩ khác phổ nhạc. Ví dụ các bài thơ: Sông khát, Niệm khúc một chiều thu, Miền ký ức, … được nhạc sĩ đồng hương Nguyễn Xuân Trường phổ nhạc, hoặc bài thơ Dòng sông mơ ước được nhạc sĩ Đỗ Thanh Khang phổ nhạc, v.v …

Điểm qua như thế để thấy anh là một người đa tài. Mình và nhà thơ Khê Giang ở quê là đồng hương Hải Lăng. Xã Hải Trường và Hải Hoà cũ cách nhau chừng 10 cây. Còn hiện ở BRVT, Ngãi Giao và Kim Long cũng chỉ cách nhau 5 - 7 cây. Vừa là bạn đồng nghiệp bác sĩ, vừa tri âm với sở thích văn chương và âm nhạc. Anh em tôn trọng nhau, quí mến nhau.

Trở lại bài thơ để tiếp tục lắng nghe những miên man nỗi niềm của Khê Giang “Ngày trở về”. Anh trải lòng :

“Tôi về bên ngọn khói cay.

Nắng xiên qua chái chiều lay lắt vàng.

Thời gian rớt xuống sẩy sàng.

Hạt loay hoay nhớ hạt chàng ràng quên.

Tôi về nghe tiếng đòn triêng.

Nghiến vào kẽo kẹt lên triền vai xưa.

Oằn lưng qua mỗi bến bờ.

Buồn đong bao gánh cho vừa phận chiêu”

Có cảm giác mấy chục năm xa quê, nhưng mỗi hình ảnh, mỗi kỷ niệm không hề phôi phai chút nào trong tâm thức tác giả. Bởi mọi thứ đều đã khắc sâu, in đậm. Tất cả đều rõ mồn một như vừa mới ngày hôm qua, hôm kia đây thôi. Cũng như đoạn thơ trên, tôi thật sự tâm đắc với lối diễn đạt rất nghệ thuật ở đoạn thơ này. Những sự đặc tả rất đặc sắc, vừa hiện thực vừa trừu tượng : ngọn khói chiều xiên qua chái bếp là một hình ảnh không lạ, nhưng được đi kèm bằng 3 thành tố nghệ thuật một lúc, làm nó trở nên không còn bình thường nữa, đó là: “ngọn khói cay”, “chiều lay lắt vàng”, “thời gian rớt xuống”, kèm thêm một tính từ tôi cho rằng rất đắt, đó là từ “sẩy sàng”, đã tôn đoạn thơ đặc sắc hẳn lên.

Một điểm đặc sắc khác là nhìn nắng chiều chiếu xiên qua chái bếp, làm tác giả liên tưởng như một chiếc sàng. Từng tia nắng là những hạt gạo lọt qua chiếc sàng chính là chiếc chái bếp và “mái tranh xiêu” (đoạn thơ dưới) để rồi hình tượng hoá, nâng lên một bậc khái quát trừu tượng, đó là thời gian. Xem thời gian là hạt đã là hay, nhưng “Thời gian rớt xuống sẩy sàng” thì quả là độc đáo hơn nhiều. Câu “Hạt loay hoay nhớ hạt chàng ràng quên” cũng rất hay và ý nhị, với từ “chàng ràng” rất lạ tai.

Cái “cay” của khứu giác, cái “kẽo kẹt” của thính giác, cái “nắng xiên qua chái”, “oằn lưng” của thị giác, và cả cái “lay lắt”, “buồn đong bao gánh” của cảm giác … mọi thứ trộn lẫn như thực như mộng. Tia nắng, hạt thời gian, hay hạt gạo rớt xiên qua sàng ? Có lẽ là tất cả!

Kế đó là chiếc “đòn triêng” (đòn gánh), một kỷ vật quê hương tiêu biểu không thể không nhắc tới. Là biểu trưng cho đức tính chịu thương chịu khó, một nắng hai sương của những người chân quê. Là chiếc đòn triêng oằn vai mẹ với gánh những thúng rau cải, hàng tạp hoá mỗi sớm mỗi chiều. Hay chiếc đòn triêng kĩu kịt của chị em gánh lúa về mùa gặt.

Cái hay ở chỗ tác giả như nghe được, cảm được cả tiếng chiếc đòn triêng nghiến vào vai, như nghiến vào mỗi phận đời lam lũ, cơ cực. Mỗi câu thơ vì thế mà như miên man, khắc khoải hơn rất nhiều :

“Tôi về dưới mái tranh xiêu.

Còn ai chằm lợp lòng chiều xác xơ.

Nhện giăng bồ hóng đợi chờ.

Kèo tre tiếng mọt nghiến phờ phạc đêm.

Có gì trong hạt nắng nghiêng.

Khi đàn chim mải miết tìm lối bay.

Có gì trong cọng heo may.

Nỗi se sắt nhớ những ngày xa xôi”

Càng về cuối, bài thơ càng se sắt, khắc khoải. Người đọc cảm nhận rất rõ cái miên man, đắm chìm trong suy tư, suy tưởng của tác giả. Càng đọc càng thương, càng xúc động. Thương quê hương, thương bà con và thương mình, thương tuổi thơ nghèo khó, túng thiếu mà chẳng thể nào quên.

Tôi rất ngạc nhiên bởi sự đủ đầy trong ký ức tác giả. Nhiều thứ nhưng không hề lan man. Trái lại đó là một xúc cảm liền mạch. Khi viết bài thơ “Ngày trở về” hẳn rằng tác giả không hề muốn giới hạn, gò bó số câu chữ, mà để mặc dòng suy tư trôi chảy.  Đúng thôi, ký ức và kỷ niệm, tuổi thơ và dĩ vãng thì biết mấy cho vừa !

Dù không muốn lan man nhưng miên man thì bắt buộc phải có. Cố hương “Ngày trở về” mà. Vì vậy đoạn thơ tiếp theo này không hề gây cảm giác “dài” cho người đọc, mà chỉ thêm bồi hồi rất lắng. “Mái tranh xiêu”, “nhện giăng bồ hóng”, “tiếng Mọt nghiến”, “hạt nắng nghiêng”, “cọng heo may”, v.v … có thể là nhiều nhưng đều rất chọn lọc. Kèm với đó là một loạt bút pháp nghệ thuật: “bồ hóng đợi chờ”, “mọt nghiến phờ phạc đêm”. Tôi đặc biệt thích thú và đánh giá cao câu: “Còn ai chằm lợp lòng chiều xác xơ”. Nó thoát khỏi cảnh diễn tả chị em ngồi chằm nón, mà còn là những gì sâu xa hơn, xót xa và mến thương hơn thế.

Nói cách khác, xen giữa các hình ảnh kỷ niệm theo nghĩa đen thực tế, là các ẩn dụ biểu trưng nâng cao, được tác giả lồng ghép rất khéo và dụng ý, tôn lên, làm trọng lượng hơn ý nghĩa khái quát của bài thơ. Qua đó khắc hoạ đậm nét hơn mọi thứ vào lòng người đọc. Đọc bài thơ có cảm giác “không thiếu thứ gì”, dồn dập, ngồn ngộn nhưng lại lắng sâu nhiều kỷ niệm.

Tôi đọc lại một lượt nữa từ đầu đến cuối bài thơ “Ngày trở về” và nhẩm thấy có hơn 20 hình ảnh kỷ niệm. Chính điều này làm bài thơ dài hơi và trọng lượng. Thường một bài thơ nói chung và một bài lục bát nói riêng, có khoảng 4 - 5 hoặc 6 khổ, tức khoảng từ 16 đến 24 câu. Bài “Ngày trở về” khá dài gồm 7 khổ = 28 câu. Cộng với 2 câu kết cuối bài là tròn 30 câu.

Dẫu biết rằng 30 câu thơ chưa thể nói hết được những gì 45 năm xa quê, nhưng với sự thể hiện qua bài thơ, người đọc cảm nhận được rất rõ tình cảm sâu sắc, tấm lòng và tài năng của tác giả, dành tặng cho quê hương Trường Sanh - Hải Trường yêu dấu.

“Có gì trong tiếng à ơi.

Mỗi khi lòng vịn tao nôi trở về”

Chân thành cảm ơn Khê Giang đã nói hộ một cách đầy xúc động. Tôi nghĩ thật khó có câu kết nào hay và trọn vẹn hơn câu kết này. Sau hơn 20 hình ảnh rất gợi cảm, gợi tình, gợi thương và gợi nhớ của bài thơ, để cuối cùng khép lại bằng chiếc tao nôi ngày thơ ấu - thấm đẫm cả tình cha nghĩa mẹ, tình chị ơi hời ru em ... Nơi từ đó ai trong mỗi chúng ta ra đi và đều luôn đau đáu, mong muốn được trở về …

(Kim Long,  BRVT - TP.HCM  6 -8 -2025)

Phạm Cảnh Thượng

READ MORE - PHÂN TÍCH BÀI THƠ “NGÀY TRỞ VỀ” CỦA KHÊ GIANG - Phạm Cảnh Thượng

XUÂN QUÊ HƯƠNG / NGUYÊN TIÊU ẤT TỴ / TẾT NĂM NAY - Thơ Văn Đoàn (Nguyễn Văn Dòa)

  

Nhà thơ Văn Đoàn

XUÂN QUÊ HƯƠNG

 

Xuân về rộn rã bao ngày

Trời xanh mây trắng tràn đầy sắc hoa

Ô Lâu nước chảy hiền hòa

Lững lờ soi bóng mặn mà quê hương.

 

Mênh mang bãi sắn, ruộng nương

Cánh cò chao liệng vấn vương nắng chiều

Làng Câu Nhi đẹp mỹ miều

Nhân dân no ấm, tình yêu vươn dài.

 

Tôn vinh bậc chí nhân tài

Bùi Dục Tài đó, sáng ngời sử xanh

Nghĩa trung một dạ thanh danh

Giúp dân, giúp nước lòng thành sắc son.

 

Trần Hoàn tiếng hát véo von

Nhạc tình lan tỏa nước non ân tình

Xuân về rộn rã thanh bình

Người người đón Tết, vui mừng tương lai.

 

Cầu xây nối những bờ vui

Bắc ngang duyên dáng, sáng ngời niềm tin

Quê hương rộn rã thanh bình

Xuân về nắng ấm, ân tình bao la...


 

 NGUYÊN TIÊU ẤT TỴ

 

Trăng sáng Nguyên Tiêu rực rỡ trời,

Rắn vàng lột xác đón xuân tươi.

Kiên trì chí lớn thành công việc

Uyển chuyển tâm bền vững cuộc đời.

 

Sự nghiệp gian nan ngời vạn đại

Công danh sáng tỏ rạng muôn nơi.

Năm nay đổi mới thêm sinh khí,

Rạng rỡ trời Nam nở nụ cười.


 

TẾT NĂM NAY

 

Tết năm nay làm thơ

Viết bao chuyện vu vơ

Mong trời đừng mưa rét

Để thế gian được nhờ.

 

Tết năm nay có tang,

Nhớ Mẹ mãi gian nan.

Trăm năm đời vất vả,

Ra đi thật nhẹ nhàng.

 

Tết nay chẳng muốn rời

Ngồi lặng nghĩ chuyện đời.

Mỏng manh như sương khói,

Trôi qua tựa mây trời.

 

Tết năm nay cầu mong,

Sức khỏe mãi vẹn tròn.

Đầu óc luôn sáng suốt,

Giúp gia đình sớm hôm.

 

Cuộc đời sao vô thường,

Thay đổi thật khôn lường.

Hôm nay còn tay nắm,

Mai đã hóa khói sương.

 

Sống đời luôn tùy duyên,

Không tranh giành bạc tiền.

Chỉ cần lòng thanh thản,

Trọn kiếp sống bình yên.

 

Tết năm nay lặng thầm,

Gửi niềm tin xa xăm.

Xuân đến lòng khấn nguyện,

Mọi người mãi an tâm. 


Văn Đoàn

(Nguyễn Văn Dòa)

nguyenvandoa51@gmail.com

READ MORE - XUÂN QUÊ HƯƠNG / NGUYÊN TIÊU ẤT TỴ / TẾT NĂM NAY - Thơ Văn Đoàn (Nguyễn Văn Dòa)

VÀI TÂM SỰ VỀ CUNG ĐIỀN TRẠCH VÀ CÁI DUYÊN CƯ NGỤ - Đặng Xuân Xuyến

Tác giả Đặng Xuân Xuyến


VÀI TÂM SỰ VỀ CUNG ĐIỀN TRẠCH

VÀ CÁI DUYÊN CƯ NGỤ 

Đặng Xuân Xuyến

 

Trong lá số Tử Vi, cung Điền Trạch chính là cái “giỏ” đựng nhà đất của mỗi người. Khi đã đi qua đủ những thăng trầm để tin vào sự an bài của định mệnh, đủ tĩnh tại để thấu hiểu lẽ nhân quả, ta sẽ nhận ra ngôi nhà không chỉ được xây bằng gạch đá, vôi vữa mà nó được dựng lên từ chính cái Phúc Đức hay Nghiệp Quả của mỗi người. Thế nên, việc cố tìm một chốn an cư hoàn hảo về phong thủy hay vắt kiệt tâm trí tìm kiếm địa thế đại cát, đôi khi lại chỉ là việc “Dã tràng xe cát” trước những sắp đặt của số phận. Phong thủy thực sự không nằm ở hướng cửa, màu sơn mà nằm ngay trong cái “giỏ” Điền Trạch mà ta đã tự tay đan dệt từ bao tiền kiếp. Nói thế, không có nghĩa là ta cứ mặc kệ cho số phận đưa đẩy. Khi phúc chưa đủ dày, việc cưỡng cầu những điều quá tầm tay thì cũng chỉ như “Dã tràng xe cát” nhưng nếu ta biết chăm chút cho gian nhà thêm ngăn nắp, sửa sang góc khuyết cho dòng khí luân chuyển hợp lý thì chính sự vun vén ấy sẽ bồi đắp thêm năng lượng cho mảnh đất mình cư ngụ. Một ngôi nhà mái tranh vách đất nếu lòng người an định và biết cách sắp đặt cho hài hòa, ấm cúng thì tự khắc đất ấy cũng hóa đất lành.

 

Tại sao vậy? Bởi lẽ, cung Điền Trạch đã mô tả rất rõ cái “hình”, cái “tướng” nơi cư ngụ, như một tấm bản đồ định mệnh mà mỗi người được trao tay. Cái nghiệp nhà đất vận vào ta như một định lý, khiến cơ duyên dẫn dắt ta đến với những không gian tương ứng với năng lượng của chính mình. Ví như người có cung Điền Trạch gặp Không - Kiếp hãm địa, dù có ôm cả đống tiền đi chọn đất cũng dễ rơi vào cảnh ở nhà tạm, nơi lắm thị phi, nhiều tranh chấp. Hay người có Điền Trạch gặp Đà La - Cô Thần hội tụ thì dẫu nhà hướng đại cát cũng thường vướng ngõ cụt, láng giềng khó tính khiến khí không thông, lòng người khó mở. Hoặc người có Điền Trạch gặp Vô Chính diệu dính Tuần - Triệt thì cả đời cứ như cánh chim không mỏi, vừa bén hơi ấm nhà này đã lại phải dời gót theo sự xoay vần của con tạo. Thấu hiểu Tử Vi không phải để cam chịu, mà để biết nơi đang cư ngụ “hổng” ở chỗ nào mà dùng Phong thủy tu chỉnh lại cho vẹn tròn. Thay vì mải miết đi tìm một hướng nhà hoàn hảo trong sách vở, người trí tuệ sẽ dùng Phong thủy như một liệu pháp để chuyển hóa sát khí: dùng ánh sáng hóa giải sự u uẩn của Cô Thần, dùng sự ngăn nắp và dòng chảy của khí để trấn an cái náo động của Không - Kiếp. Khi ta biết cách chủ động sắp xếp lại không gian sống cho hài hòa cũng chính là lúc ta đang từng bước tháo gỡ những nút thắt của Định Mệnh, để dù cái “giỏ” Điền Trạch có rách vẫn đủ vững chãi đi qua những giông bão của cuộc đời.

 

Tôi từng chứng kiến không ít gia đình chỉ vì nghe lời thầy phán hướng nhà không hợp mà sinh lòng nơm nớp lo sợ, tốn kém tiền bạc để xoay cửa, trấn yểm; nhưng rồi khi sửa xong, hướng rất đẹp mà tai ương vẫn kéo đến bởi cái “Hạn” của người đó đã đến lúc phải trả. Ngược lại, nhiều gia đình sống trong những ngôi nhà tập thể cũ kỹ, xét theo phong thủy là đại kỵ nhưng vẫn thọ trường, con cháu vẫn thành đạt nhờ “Phúc” lớn và “Đức” dày họ tu từ bao kiếp - chính nguồn năng lượng thiện lương ấy đã tựa như bức bình phong vô hình hóa giải những khiếm khuyết của địa lý. Tuy nhiên, dù Phúc - Đức luôn là gốc, cũng không nên nhầm lẫn rằng chỉ cần sống thiện lương là đủ để hóa giải mọi sát khí vật lý, bởi một ngôi nhà tối tăm, ẩm thấp hay khuyết hãm phương vị vẫn sẽ tác động tiêu cực đến hệ thần kinh và sức khỏe người cư ngụ trước khi “phúc” kịp đến, vì thế việc kết hợp giữa tu dưỡng tâm tính và cải thiện môi trường sống mới là giải pháp vẹn toàn nhất và đấy mới chính là “Phúc Đức thực tại” của người thấu hiểu.

 

Trong giới phong thủy, lâu nay người ta vẫn hay nhắc đến thuyết "Sơn hoàn thủy bão" hay "Tọa sơn" như một lẽ đương nhiên, rằng ngôi nhà nhất thiết phải có núi cao hay gò đất phía sau thì gia đạo mới vững, nhân đinh mới vượng. Nhưng nếu nhìn rộng ra thực tế ở những vùng quê đồng bằng Bắc Bộ hay miền Tây sông nước, ta sẽ thấy biết bao ngôi nhà phía sau chỉ là mảnh vườn, đồng lúa hay dòng sông chảy xiết, vậy mà từ những ngôi nhà "không có điểm tựa" đó, biết bao thế hệ đã trưởng thành, con cháu vẫn đỗ đạt, giàu sang. Cái “Tọa sơn” vững chãi nhất không phải là hòn đá hay ngọn núi mà chính là cái gốc Phúc - Đức mà ta và tổ tiên đã gieo trồng. Vì vậy thay vì loay hoay xây tường cao hay đắp núi giả để tìm sự yên tâm giả tạo thì hãy đơn giản hiểu rằng "Sơn" lúc này có thể là hàng cây xanh, là bức tường rào ngăn nắp hay chỉ là sự sắp xếp đồ đạc phía sau nhà cho gọn gàng để nhà cửa ấm cúng, khí trời lưu thông... Khi lòng đã an định, sống hòa hợp với cảnh quan thì chính cái "Tâm" thiện lành ấy mới là tòa “Tọa sơn” kiên cố nhất.

 

Tôi nghĩ, người khôn ngoan nên biết chấp nhận và thuận theo những gì mình đang có để biết mình cần phải sửa từ đâu. Nếu lá số định sẵn ta ở trong căn nhà hẹp, ngõ sâu, hãy cứ bằng lòng sắp xếp sao cho gọn gàng, thuận tiện nhưng tuyệt đối đừng cẩu thả. Thay vì cố đục tường khoét vách để cầu một cái “Minh Đường” huyễn hoặc khi diện tích hoặc kết cấu ngôi nhà không cho phép, hãy biến ngõ tối thành lối đi sáng sủa và biến căn nhà chật chội thành một không gian tinh tế, hài hòa để khí lưu thông. Việc mình sống thế nào trong ngôi nhà đó quan trọng hơn nhiều việc phương vị ngôi nhà đó nằm ở đâu, vì vậy đừng để những lý thuyết phong thủy xơ cứng làm mình thêm lo lắng, nhưng cũng đừng lấy hai chữ “Số Mệnh” làm cái cớ cho sự an phận, tùy tiện trong không gian sống của chính mình. Một ngôi nhà được chăm chút, bù đắp các khiếm khuyết sẽ tạo ra năng lượng tích cực, giúp chủ nhân minh mẫn hơn để tích đức, hành thiện.

 

Suy cho cùng, cung Điền Trạch trên lá số chỉ là cái bản thiết kế thô mà cuộc đời giao cho mỗi người, còn việc kiến thiết nó thành một tổ ấm an lành hay không, lại phụ thuộc vào cái trí và cái tâm của chính mỗi người. Đừng chỉ cam chịu "ở" trong Định Mệnh mà hãy học cách "cải thiện" nó từ chính không gian sống của mình, đó mới chính là cách hành xử của người hiểu mệnh và thấu đời.

 

*.

Hà Nội, ngày 21 tháng 12-2025

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn

READ MORE - VÀI TÂM SỰ VỀ CUNG ĐIỀN TRẠCH VÀ CÁI DUYÊN CƯ NGỤ - Đặng Xuân Xuyến

Thursday, December 25, 2025

ĐI QUA BAO MÙA LÁ XANH - Thơ Nguyễn An Bình

  


NGUYỄN AN BÌNH 

ĐI QUA BAO MÙA LÁ XANH

 

Có bao mùa lá xanh

Một thời tôi đi ngang qua đó

Dấu chân in trên đường

Quẩn quanh cùng ngõ phố thân quen đầy bụi

Trong tiếng cười rộn rã của nàng

Vạt nắng đổ vàng trên mái tóc

Theo nhịp guốc đến trường

Tôi làm sao nhớ hết

Khi sắc lá theo mùa trôi mải miết

Bay đi cùng giấc mơ không tháng ngày

Vô tình dòng nước qua cầu

Biết bao giờ trở lại

Màu hoa tím vừa trôi vừa nở

Lời hẹn hò theo đó

Dứt áo bỏ đi thật xa.

 

2- Có bao mùa lá xanh

Một thời em về ngang qua đó

Giữ lấy trong gói ô mai từng giấu kín

Ước mơ lứa tuổi học trò

Xanh hơn màu lá

Xanh cả tình yêu tươi màu mực tím

Trong những bài thơ tình đăng báo

Tôi nâng niu cắt dán gởi tặng nàng

Nhiều năm về trước

Ẩn sâu trong lớp trầm tích hoài niệm  

Những mùa lá xanh còn không

Trong mảnh đời phiêu dạt

Không bến bờ.

 

24/12/2025

N.A.B.

luongmanh2106@gmail.com

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - ĐI QUA BAO MÙA LÁ XANH - Thơ Nguyễn An Bình

PHIÊN CHỢ CUỐI CÙNG VỚI MẸ - Truyện ngắn Lê Thi

Ảnh từ: nld.com.vn


 PHIÊN CHỢ CUỐI CÙNG VỚI MẸ 

 Lê Thi


   – Mẹ ơi, Thu đã về!

Tôi ngồi bên cửa sổ, nhìn những giọt mưa đầu mùa rơi lách tách ngoài hiên, lòng bỗng thắt lại. Cơn mưa đầu thu gợi về những ký ức xa xăm: về chợ quê, về một thời nghèo khổ mà ấm áp lạ thường… và về mẹ, người đã đi về miền mây trắng, không trở lại.

– Còn hai ngày nữa là đến phiên chợ mùng Năm rồi, mẹ nhỉ? Tôi khe khẽ nói, như thể mẹ đang ngồi bên cạnh.

Nhưng mẹ đâu còn đó nữa…

Hồi ấy, cứ mùng 5, 10, 15 là mẹ lại cắt chè xanh từ chiều hôm trước. Những bó chè được buộc gọn gàng, bố giúp mẹ xếp đều hai gánh. Có hôm thêm buồng chuối chín, có hôm chỉ toàn chè. Không cao lương mỹ vị gì, vậy mà mẹ cứ trăn trở mãi.

– Mẹ ơi, chợ quê mình có gì đâu mà mẹ lo nhiều thế?

– Phải lo chớ con, còn bềnh ruốc để nấu canh, còn muối hột. Không lo kịp là khạp vơi, bếp lạnh!

Tay mẹ vẫn thoăn thoắt gói chè, giọng đầy lo toan. Tôi nhớ mẹ nêm canh bằng tay, chỉ một nhúm muối nhỏ mà nồi canh của mẹ lúc nào cũng đậm đà, chẳng mặn, chẳng nhạt. Cái nắp mo cau mẹ kéo sang bên, hơi bốc nghi ngút, cả tuổi thơ tôi nằm trong làn khói ấy…

– Nhớ mua thịt cổ phay bà nhé. Bố dặn với theo từ hiên sau tiếng rít của điếu thuốc lào.

– Dạ, có cổ phay mới luộc được ra đĩa đẹp. Còn cá trích, trứng… để làm giỗ cho nội, ngoại. Mẹ nói, ánh mắt xa xăm.

Một năm chỉ có đám giỗ và hai ngày rằm lớn thôi, bố mẹ như gầy rộc đi vì lo. Vậy mà chợ quê cứ là niềm mong ngóng của mẹ.

Tôi còn nhớ rõ, hôm ấy là phiên chợ cuối cùng tôi đi với mẹ.

– Thức dậy đi con, bốn giờ rồi. Mẹ lay vai tôi, bố đỡ cái đòn gánh nghiêng bên chái bếp.

– Mẹ… con ngủ chưa đủ mà…

– Dậy đi, đi chợ với mẹ lần ni. Sau ni lớn rồi, mần chi còn thời gian nữa.

Tôi ngáp dài, lững thững theo mẹ trong sương sớm. Hai mẹ con đi bộ ra đầu làng. Trên đường, tiếng gọi í ới vang lên từ ngõ nhà bà Khang, bà Bình.

– Ông ơi! Ra mò cái cho tui đi chợ cái coi! (Các bà nhà quê mê tín ông nhẹ vía dễ bán hàng.)

Mẹ cười, mắt ánh lên vẻ hào hứng. Cả làng như cùng thức dậy vì một phiên chợ.

– Mẹ, hôm ni có bánh đúc không?

– Có, nhưng ăn ít thôi, để bụng ăn bánh đa với bố. Nhớ mang về cho em gói kẹo “cục múc” đó con.

Chợ quê hôm ấy thưa thớt. Người miền biển đạp xe lên, hai bên là thúng cá ướp muối. Có người chở ruốc đi đổi chè xanh, chuối, mít… Mẹ sà vào đám người mua bán, tay rao rao mấy bó chè. Tôi miếng bánh đúc tựa cột tre, ăn ngon lành, vô cảm với thị trường lên hay xuống.

Thế nhưng… hôm đó, chợ ế.

Trời vừa hửng nắng thì mưa rả rích trở lại, người ta lục tục kéo về. Chè xanh thưa người hỏi mua. Những bó chè mẹ nâng niu từ chiều hôm trước cứ nằm lặng lẽ trên sạp, càng về trưa những bó chè héo khô như nỗi lòng của mẹ.

– Cô ơi, mua giúp bó chè đi cô. Mẹ níu lấy tay một người qua đường.

– Thôi chị ơi, nhà em mới hái sau vườn!

Mẹ mím môi, lặng lẽ. Trưa muộn, chỉ bán được vài bó, mẹ đếm từng đồng lẻ, ánh mắt thẫn thờ.

Tôi thấy mẹ dừng trước hàng thịt, nhìn miếng cổ phay rồi lại rút tay về.

– Không đủ mua một kg. Mẹ nói khẽ. Tôi lặng người.

– Mẹ… mẹ mua đôi dép cho con nữa, dép con đứt quai rồi mà… Tôi lí nhí, chẳng hiểu vì sao lại buột miệng ra như thế.

Mẹ quay lại nhìn tôi. Đôi mắt mẹ đỏ hoe.

– Mẹ… mẹ chắc không còn đủ… nữa con ơi…

– Mẹ hứa con có giấy khen mẹ mua cho con đôi dép nhựa “Tiền Phong” trắng mà…

Mẹ đành lòng rút những cắc bạc cuối cùng trong hầu bao mua cho tôi đôi dép, vì mẹ đã hứa… Tôi ướm thử, vui mừng reo lên:

– Đẹp quá mẹ ơi, con cảm ơn mẹ!

Vậy từ nay tôi đỡ cảnh học về phải nung lưỡi liềm đỏ dán chi chít trên quai dép của tôi, nhiều hôm chỗ dán bỏng chân chảy cả máu tươi.

Chắc tại vì mua cho tôi, nên hôm nay mẹ chỉ mua được cho cha một nửa cút rượu (chai chữ chân ngày xưa chắc khoảng 200ml).

Tôi vô tình đâu hiểu nỗi đau và khuôn mặt ngượng ngùng của mẹ với bà chủ quán. Mẹ khẽ gỡ chiếc dây buộc gánh chè còn sót lại, bọc lại bằng ngọn lá cọ đã úa. Gió lạnh luồn qua vạt áo rách vai. Bóng mẹ như tàu lá chuối sau cơn gió Lào giữa buổi chợ trưa.

   Chúng tôi về đến nhà khi trời đã xế bóng. Từ nhà tôi xuống chợ huyện xa gần 10 km, trên vai mẹ thêm gánh chè và buồng chuối vừa ươm vàng phải bán, không nỡ để ở nhà ăn.

Cái giỗ ông ngoại chỉ có nồi cá trích kho và đĩa trứng luộc cắt đôi. Không cổ phay. Không có mấy chén bánh ngào, không bánh đúc.

Bố nhìn mâm cơm, thở dài:

– Rứa mà cũng gọi là cúng ông sao? Làm ăn kiểu ni, để người ta cười vô mặt! Thôi mời cậu Bảy, dì Ba, đừng mời hàng xóm.

Mẹ không nói. Bàn tay mẹ run nhẹ. Mẹ chỉ cúi đầu, lặng lẽ gắp cá cho em út.

Tôi nhìn gánh chè còn sót lại ngoài hiên, nước mưa thấm làm lá úa quăn queo. Mấy ngày áp thấp, biển động, thương lái vùng Thạch Hà, Cẩm Xuyên không lên đi chợ phiên nên phải ế. Quê tôi là đất chè, cho người ta không lấy nói gì đến chuyện bán. Trăm thứ mưu sinh chỉ nhìn vườn chè, buồng chuối, quả mít mà thôi.

Đêm ấy, tôi không ngủ. Ngoài trời, tiếng ếch kêu ran từ bờ ruộng sau nhà. Tôi nghe tiếng mẹ thở dài. Rất khẽ, nhưng dài và sâu như kéo từ tận đáy lòng suy tư của mẹ.

– Tui nói nặng lời quá rồi…  Giọng bố vọng lại từ gian bếp.

– Bà cũng cực lắm chớ, ai muốn ế đâu… Bố nói tiếp, giọng hối hận.

Tôi bước ra hiên, thấy mẹ đang ngồi một mình, tay bưng rổ khoai im lặng. Mắt mẹ dõi về phía khúc sông sau nhà, nơi cây ngô đồng đứng trơ trọi giữa gió mùa.

Lưng mẹ còng xuống như muốn ôm hết những nhọc nhằn của cuộc đời.

Tôi tiến lại, ôm mẹ từ phía sau.

– Mẹ ơi… con xin lỗi… vì đôi dép…

Mẹ mỉm cười, nhưng nụ cười ấy buồn đến nao lòng. Mẹ gượng để tôi vui.

– Con lớn rồi… học giỏi, nhiều điểm 10 cho bằng chị bằng em, các con là gia tài của mẹ.

Giờ đây, tóc đã hoa râm. Chợ quê giờ khác lắm. Họp mỗi ngày, hàng hóa đủ nhãn mác Tây Tàu, tiếng kèn inh ỏi, người chen lấn, nhưng tôi tìm hoài, tìm mãi chẳng thấy mẹ tôi đâu, giữa chợ đời chỉ còn hương tóc mẹ.

Tôi nghe tiếng rao, tiếng chào, tiếng mặc cả, mà lòng chùng xuống bâng khuâng.

– Mẹ ơi, mẹ còn nhớ tên địa danh chợ mình không?

Tên làng giờ đã đổi. Cây ngô đồng vẫn sừng sững qua bao mùa gió, vẫn làm nhân chứng cho những phiên chợ nghèo, vẫn đứng đó nhìn mẹ tôi gánh chè về mỗi buổi tinh mơ.

Ngày giỗ, con vẫn bày một mâm cũng khá thịnh soạn. Xứ này đâu thiếu gì miếng ăn hả mẹ, những càng cua hoàng đế to dài như cái lưỡi hái mẹ gặt lúa ngày xưa, những con bạch tuộc trọng lượng như thằng Tí nhà ta ngày nó năm tuổi. Mở hai tủ lạnh toàn thức ăn, bên kệ rượu đủ thứ chai to nhỏ, cao thấp, lòng con nghẹn lại thương cha nhớ mẹ, một cuộc đời chỉ biết cho đi, cho mãi chưa bao giờ biết nhận.

  Tôi thắp nén nhang, mời mẹ về, ngồi lại bên khúc sông xưa, nghe tiếng chợ phiên, nhìn mớ cá tươi dưới sông lên còn vảy bạc lấp lánh mà đời mẹ chưa dám hỏi mua, ăn miếng bánh đa chấm mật mía, và… tha thứ cho những điều con chưa kịp hiểu.

Những tháng ngày các con báo hiếu được, còn lại hai nấm cỏ xanh hoang dại, trời xa biền biệt mấy năm con mới được trở lại một lần… Mẹ, cha ơi! hãy tha thứ cho con.

   Phiên chợ năm ấy… là lần cuối cùng con đi với mẹ. Những chiếc lá vàng chao nghiêng về lòng đất, dẫu biết sinh tử là quy luật muôn đời nhưng vẫn nghẹn ngào.Ước gì cho con gánh mẹ một lần, mẹ ơi. Mẹ ơi!

  Lê Thi

READ MORE - PHIÊN CHỢ CUỐI CÙNG VỚI MẸ - Truyện ngắn Lê Thi

THẢO THƠM – Thơ Lê Kim Thượng


   

Thảo Thơm
 
1.
Xa rồi… nhớ mãi miền quê
Con tim thao thức nhớ về… “Ngày xưa…”
Mồng tơi, rau má, canh cua
Cải ngồng, cà pháo muối dưa cơm chiều
Ruộng đồng hôm sớm bao điều
Mẹ Cha chăm chút bao nhiêu cho vừa
Ngày dài không quản sớm trưa
Đông về rét buốt, nắng mưa trưa hè
Quê chiều rộn rã tiếng ve
Đôi bò thong thả kéo xe trên đồng
Bên núi rừng, bên dòng sông
Mùi quê, mùi đất bềnh bồng tỏa hương
Thân gầy nhuộm nắng, nhuộm sương
Cái cò lặn lội thân thương trên đồng
Khi mưa gió, lúc bão giông
Mẹ hiền gian khổ lo chồng, lo con…
 
2.
Quê nghèo tình nghĩa sắt son
Dẫu đi xa xứ lòng con nhớ hoài
Nhớ Cha Mẹ … những hôm mai
Áo pha màu đất, đường dài nón tơi…
Chiều đi chầm chậm không lời
Về miền xa vắng cuối trời hoàng hôn
Cuối ngày bóng ngã cuối thôn
Sương mờ nhẹ phủ lạnh hồn cỏ cây
Hồn tôi… ước mộng đong đầy
Hồn tôi… neo giữ nơi này người ơi
Quê hương xa cách phương trời
Nỗi niềm thương nhớ đầy vơi chòng chành…
Thảo thơm hương bưởi, hương chanh
Tình làng nghĩa xóm rách lành có nhau
Nắng chiều vàng đỉnh ngọn cau
Mẹ ngồi têm một cơi trầu… đợi con…
    
Nha Trang, tháng 12. 2025
Lê Kim Thượng

READ MORE - THẢO THƠM – Thơ Lê Kim Thượng

XUÂN VỀ TRÊN QUÊ HƯƠNG - Thơ Nguyễn Đại Duẫn

 

Nhà thơ Nguyễn Đại Duẫn

XUÂN VỀ TRÊN QUÊ HƯƠNG

 

Xuân về rực rỡ trời xanh

Tiếng chim ríu rít trên cành rộn vui

Qua rồi bao đỗi ngọt bùi

Quê hương xuân đến nụ cười mênh mang

 

Đường làng rộng mở thênh thang

Tầng cao ngói mới ánh vàng lung linh

Quê hương vui tết thanh bình

Người quê nồng ấm nghĩa tình chợ quê

 

Sáo diều vi vút bờ đê

Tiếng hò vang vọng lời quê bao đời

Sân trường tiếng trẻ reo vui

Ngân vang câu hát đất trời vào xuân

 

Sông quê mãi miết trong ngần

Cho bao đôi đôi lứa tình xuân hẹn về

Hội Lim náo nức say mê

Trao nhau câu hát hẹn thề người ơi

 

Xuân về hoa thắm đất trời

Ném còn, đấu vật… vui chơi hội làng

Quê hương đổi mới khang trang

Người dân hạnh phúc an khang đủ đầy

 

 

 Nguyễn Đại Duẫn

51 Nguyễn Hữu Cảnh, thôn: Hùng Phú,

Xã: Quảng Ninh, tỉnh: Quảng Bình

nguyenduanqh@gmail.com


 

READ MORE - XUÂN VỀ TRÊN QUÊ HƯƠNG - Thơ Nguyễn Đại Duẫn