Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, April 12, 2016

ĐỨNG Ở NƠI CỎ CAO HƠN NÚI - chùm thơ Lê Thanh Hùng




Đứng Ở Nơi 
Cỏ Cao Hơn Núi

Giữa rừng cây, chập choạng chiều
Cỏ rối bước chân, vấp ngã
Vin cành dậy, xôn xao lá
Nỗng nhiên, nhớ được một điều


*
Biết đời, dù ngã ở đâu
Thì cố đứng lên ở đó
Đứng nhờ cây, ngã vì cỏ
Nắng mưa, cùng đổ trên đầu


*
Ngước lên nhìn bóng núi cao
Giật mình, tơ non dáng cỏ
Biếc xanh trong chiều, lộng gió
Đẫm hương sương mật ngọt ngào


*
Vàng rượi, đổ nắng hoàng hôn
Giản đơn như điều có thể
Truân chuyên, ai từng rơi lệ
Đắn đo sắc cỏ, ngập hồn ...


*
Nhẹ hều sợi cỏ mỏng manh
Mọc lên đã cao hơn núi
Một mình trong chiều lầm lũi
Gió bay, trời thẩm sắc xanh ...


IX/1
LTH


Phố xưa

Chiều tàn rơi, rụng bên đường
Còn đây phố cũ, gió sương vơi đầy
Chuyện ngày xưa, mắt mờ cay
Xuôi chân, lạc lối quay về chốn xưa


Chiều bến sông


Nhẹ như cánh võng bên thềm
Chiều buông xuống muộn, ngọt mềm trăng lên
Sóng xa, vỗ cửa sông, duềnh
Vắng em, chợt thấy lênh đênh bến đời


Lê Thanh Hùng
Huyện Bắc Bình, Bình Thuận
<thanhhungmtbb@yahoo.com.vn>


READ MORE - ĐỨNG Ở NƠI CỎ CAO HƠN NÚI - chùm thơ Lê Thanh Hùng

Monday, April 11, 2016

HỒN TRÁNG SĨ - Thơ Vũ Phúc


                      Tác giả Vũ Phúc



HỒN TRÁNG SĨ

Ơi! Kinh Kha một đời ngời hào khí
Bước giang hồ vỗ kiếm hát nghêu ngao
Ngồi ung dung độc ẩm chén Bồ Đào
Mặc Dịch Thuỷ thét gào cơn đại nộ
Lòng đau đáu:
Mây Tần Quốc phủ che trời bạo ngược
Nước Yên Bang chưa mát đất can qua
Nhớ thuở nao:
Đầu xanh đi giữ nước
Mà giờ đây,
Trăng chưa soi, tóc nhuốm bạc tự bao giờ
Và mùa Xuân,
Giai nhân từ đâu về hạnh ngộ 
Đem túi thơ gá nghĩa với rượu bầu
Núi Thái Sơn :
Khuất phục kẻ hồng nhan
Hồn kiều Nữ: vấn vương người tri kỷ
Kinh Kha hề! 
Than ôi! Danh tướng trong thiên hạ!
Tráng sĩ hề!
Giai nhân hề!
"Xin tạ ơn khoảng trời xanh ngắt
Để hồn Xuân theo gió đi về"

                            Vũ Phúc

READ MORE - HỒN TRÁNG SĨ - Thơ Vũ Phúc

MÙA HOA DÃ QUỲ - Tản văn Lê Hứa Huyền Trân







MÙA HOA DÃ QUỲ

Tùy bút LÊ HỨA HUYỀN TRÂN


          Dễ cũng đến mây năm rồi tôi chưa thấy lại loài hoa ấy, nó lăn bánh theo guồng quay thời gian và mờ nhạt trong tâm trí tôi làm tôi cũng quên bẵng, ấy nên khi nhắc lại trong tôi như còn chút gợi nhớ, chút gì đó mơ hồ, và cũng chút gì đó tiếc nuối, có thể là kỉ niệm , cũng có thể là kí ức, thoáng qua nhưng mãnh liệt khôn cùng.
           Đất Gia Lai chào đón tôi với màu vàng rực của hoa trông đến đẹp, đương mùa hoa, sắc vàng phủ cả núi đồi. Tôi hãy còn nhớ cái giây phút thả hồn bay theo ngọn gió hây hây trên ngọn núi nhìn xuống Biển Hồ rực cả một màu dìu dịu của sắc vàng tươi. Cánh hoa mềm mại, lại vàng vàng, thon dài làm tôi ban đầu cứ ngỡ là hoa cúc, phải chẳng bởi thế nên nó mang cái tên khác là Hoa cúc quỳ? Khi nghe cái tên của nó trong tôi có cảm giác gì đó giống như là là lạ, bởi cái tên nghe sao ngộ quá, mà cái tên cũng toát lên một cái gì đó rất chi là dịu dàng, lại như hoang dại, miên man, cứ như cái điệu nhạc Khiết Đan rung lên mạnh mẽ thôi hồi.
           Thưở ấy, tôi vẫn hay đi dạo dọc đường mòn bến xe Gia Lai, thuở ấy dã quỳ hãy còn nhiều lắm, trên cái nền đất đỏ dọc hai bên lối đi đầy những hoa. Màu đỏ của đất, màu vàng của hoa, màu xanh của lá, trải dài và lan rộng tạo thành thứ sắc màu ngũ vị vô cùng đẹp và lung linh dưới nắng. Nay khi quay lại, chốn cũ đã mở đường, dã quỳ cũng chợt trở nên mất tích, chỉ còn lại xơ xác tàn hoa ,ấy thế nhưng nếu biết tìm đúng chỗ, sẽ thấy sắc dã quỳ ngập tràn và đứng trước khung cảnh ấy ta không khỏi thấy yêu loài hoa này ghê gớm. Ngày ấy anh và tôi vẫn hay đùa vui nhành hoa dại, trong cái ngập tràn của sắc hoa anh khẽ cài lên tóc tôi nhành hoa nhỏ, nhưng rồi anh và tôi chợt nhận ra, cái đẹp của dã quỳ là cái đẹp của tập thế, vẻ đẹp của gần nhau, của bên cạnh ,của san sát, nó không thể nào mang vẻ đẹp đơn lẻ, đây phải chăng cũng là ý nghĩa khi nhắc đến chúng ư?
           Con bạn thân của tôi vẫn hay bảo "hoa dã quỳ ăn vào đắng lắm", tôi chợt bật cười trước cái ngốc của nó ,tôi ko biêt dư vị của dã quỳ như thế nào mà tôi cười cái ngốc của cô bạn, đứng trước cái đẹp lộng gió của núi đồi và của những nhành hoa thế này mà tâm hồn nó hãy còn ăn uống quá, có lẽ bởi thế mà cả nó cả tôi, mỗi người có một cái nhìn khác về hoa chăng?
           Cô bảo cô thích nhìn hoa lắm, lúc hoa mọc ven sông, đã đôi khi cô cùng bạn ngắt những cành hoa thả xuống sông, nhìn hoa trôi đi có cái gì như là luyến tiếc, lại như bồng bềnh và thi vị. Và khi cô đi dạo dọc bờ sông đang òa nở những nụ vàng e ấp, cô thấy như có gì đó chút bâng khuâng, có lẽ bởi sự đời được giải tỏa trong phút giây cô nghỉ ngơi sau những ngày trường mệt mỏi, cũng có lẽ ánh vàng lúc nào cũng dịu dàng như thế, mang con người đến nơi thư thái, bình yên.
           Tôi vẫn nhớ có lần tôi đã ngắt một cánh hoa, cầm trên tay sao nghe mùi đơn độc, sắc vàng như bớt nhạt đi, rũ xuống, những cánh hoa cứ mềm như vải tung bay, xòe ra đến đẹp, nhụy cam to như là cội rễ, là mẹ của những cánh hoa, còn lá cành là những người cha che chở. Nói đến hoa dã quỳ chúng ta ko nên nhắc đến riêng lẻ mà phải nói đến cái chung, bởi thế, tôi vẫn còn nhớ mãi cảm giác ân hận của mình khi nỡ để hoa ấy lìa cây, mà đã lìa cây rồi chẳng thể nào quay lại được nữa, hoa rơi xuống đất, buồn rũ rượi.
Có đôi lần tôi ngắt cành hoa nhẹ, lẩn vẩn xoay tay cho hoa bay xuống triền đồi, ở nơi đó những cánh hoa tung bay theo gió, vấn vít cứ như bông hoa gió vậy. Khắp mênh mông bạt ngàn cả rừng hoa như đang thức dậy đón đưa đứa con thơ trở về. Cái sắc đẹp của cánh đồng hoa còn ngập tràn ở những lúc mùa mưa rơi xuống, sắc đẹp ảo kỳ. Lúc ai đó có tâm hổn hơi lãng mạn, mưa cũng rơi nhẹ, lúc đứng dưới chiếc dù nhìn những giọt mưa đang rơi qua kẽ lá, tí tách, chăm chú sẽ thấy rất vui tai. Đẹp nhất là những lúc mưa nhẹ, cả màn mưa như dội qua một gáo nước cho những bông hoa, đang tưới cho cánh hoa ấy thêm tốt tươi. Còn sau mỗi cơn mưa khi ánh cầu vồng đương lên, nếu biết góc chụp và chỉ với chiếc máy ảnh có thể thấy như cầu vồng đang dẫn bước đưa vào lối thiên thai vậy. Nhất là khi mưa tạnh, trên kẽ lá hay kẽ hoa sẽ còn đọng nước. Lúc chạm tay vào những giọt nước sẽ rơi xuống, mát rượi, còn trên những bông hoa nước đọng thấy rất căng tràn sức sống.
Những ngày nắng lên hoa mang vẻ đẹp cổ tích, ánh mặt trời hẳn là ganh ti lắm. Vẻ chói chang của nó làm sao bằng được sắc vàng tràn ngập một màu dìu dịu của hoa. Không chỉ khiến cả triền đồi như rực sáng lên mà còn mang lại cái ánh sáng khá êm ái, ít ra sẽ không phải nheo mắt nhìn. Cái màu sắc vàng ấy nếu càng nhiều sẽ càng thấy bạt ngàn ấm áp.
             Nhấp ly trà đắng tôi bỗng nhớ đến cánh đồng hoa xưa, chẳng biết hoa có còn reo vui theo điệu buồn của gió, chẳng biết hoa còn trải dài theo những triền đồi, triền sông để bọn trẻ ngắm nhìn và nghịch chơi, chẳng biết hoa có còn mang ánh vàng dịu dàng ấy không,mùa kí ức tự nhiên ùa về mãnh liệt, trong lòng tôi bỗng nhó cái gì đó và khao khát một điều gì đó. Một điều gì đó mà tôi chẳng rõ, dường như những khái niệm thuộc về tình cảm con người ta sẽ chẳng bao giờ định nghĩa được dưới một cái tên. Chỉ biết đó là cảm xúc mà thôi, cảm xúc thôi thúc tôi muốn đặt chân lại nơi chốn cũ, nơi chốn một thời đã làm tôi dấy lên điều gì đó nghe thật dịu nhẹ trong tim.
          Ừ nhỉ! Mùa hoa đã về...




Tác giả  : Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định

Mọi thư từ phúc đáp xin chuyển về địa chỉ : Lê Hứa Huyền Trân, Hội VHNT Tỉnh Bình Định.

Email cá nhân : Phongtruongtu201@gmail.com



READ MORE - MÙA HOA DÃ QUỲ - Tản văn Lê Hứa Huyền Trân

GỌI ĐÒ TRÊN BẾN... MY LĂNG - Thơ Vũ Phúc



                      Tác giả Vũ Phúc




GỌI ĐÒ TRÊN BẾN... MY LĂNG
     (Cảm tác từ thơ Yến Lan)

Lạnh cả đôi bờ bến My Lăng
Lạnh lùng nước chảy, lạnh lùng trăng
Sương khuya lạnh ướt tàn tro cũ
Lạnh tiếng gọi đò... đò nghe chăng?
Cuốc kêu gọi bạn nghe cay đắng
Ai oán kêu sương, nhạn lạc bầy
Giun dế buồn rền rĩ giữa trời mây
Tiễn dấu ái vào quan tài tẩm liệm
Đò ơi! ới đò!
Khàn hơi khản tiếng gọi đò
Đò sang bến mới, có dò nông sâu?
Đò ơi! ới đò!
Trăng chơi vơi!!!
Nước chơi vơi!!!
Tình như con nước đầy vơi 
Đò quên bến củ về nơi cuối trời
Đò ơi! ới đò!
Ai ghìm cương ngựa bên sông vắng
Lạc tiếng gọi đò dưới bóng trăng
Thời gian ngưng thở trong tuyệt vọng
Lạnh cả đôi bờ, bến... My Lăng!!!

                                  Vũ Phúc


READ MORE - GỌI ĐÒ TRÊN BẾN... MY LĂNG - Thơ Vũ Phúc

Sunday, April 10, 2016

ĐỒI CA - Thơ Đình Xuân



                             Tác giả Đình Xuân



ĐỒI CA

Hình như em đang hong tóc bên lưng đồi
Cùng mấy chòm mây về rửa tội
Ta ngu ngơ nhìn
Nơi hội tụ của thực và hư

Em sợ đôi mắt ta xé vỡ buồng thơ em
Nên hoang vắng là lúc ngờ ngợ nhất
Rứa mà chiều nao cũng lên đồi tắm gội
Để thơ ta ngơ ngác giữa lưng trời

Hình như em đang nũng nịu bên đồi
Gió như ru
Chuông chiều lỗi nhịp
Đừng bỏ ta đi

Ta chới với giữa đường thơ muôn lối
Bao muôn trùng ta mới lạ khúc ru
Em cứ tắm giữa trời và cứ làm thơ rối
Ta đời đợi em như đời đợi khắc TRONG VEO


                                               ĐÌNH XUÂN

          

READ MORE - ĐỒI CA - Thơ Đình Xuân

ĐỪNG ĐỂ CƠM ÔI - Phạm Đức Nhì



         Tác giả Phạm Đức Nhì



ĐỪNG  ĐỂ  CƠM  ÔI

Chị Cả sợ cơm ôi
chờ nước sôi
mới đổ gạo vào nồi
rồi chị khơi lò, trở củi
để ngọn lửa cháy đều, cháy mạnh
cho đến lúc nồi cơm cạn nước
“Cơm sôi cả lửa thì ngon”
câu ca dao mẹ dạy
chị vẫn còn ghi nhớ

Qua chuyện gối chăn chồng vợ
chị với anh đã ăn ý rõ ràng
phải đâu đó sẵn sàng
mới đưa “chốt nhập cung”
và rồi tấn công dồn dập, tưng bừng
cho đến lúc gạo thành cơm vừa chín tới

Bài thơ anh đang viết
chị nhắc anh đoạn kết
đừng như nồi cơm ôi.

San Leon tháng 8 năm 2011
Phạm Đức Nhì

Lời Bàn Của Tác Giả
Mỗi chữ, mỗi câu trong bài thơ phải đóng một vai trò nào đó, phải có một nhiệm vụ nào đó và phải hoàn thành nhiệm vụ của mình - giống như mỗi thanh củi trong bếp phải cháy, phải góp lửa để tổng hợp lại, có sức nóng cần thiết nấu đến lúc nồi cơm cạn nước. Đừng cho vào bếp những thanh củi không bắt lửa, không thể cháy, hoặc cháy mà tỏa nhiệt ít. Hãy chọn những thanh củi khô, dễ bắt lửa, cháy đượm và tỏa nhiệt nhiều. Hơn thế nữa, phải khơi lò, xếp củi như thế nào để thông gió, lửa từ thanh củi này bắt sang thanh củi khác, cháy đều để cùng tạo nhiệt nấu chín nồi cơm. Câu chữ trong bài thơ phải chọn lựa để có thể khơi gợi tối đa cảm xúc trong lòng đọc giả, phải nối kết nhau để lượng cảm xúc khơi gợi được ở câu trước có thể cộng chung với lượng cảm xúc khơi gợi được ở câu sau và cứ “sóng sau dồn sóng trước” nối tiếp cho đến câu cuối cùng của bài thơ.
  • Mỗi bài thơ khi đọc lên đều tỏa ra một không khí (ấm áp, vui nhộn, yêu thương, thù hận … ) như không khí trong một chương trình văn nghệ. Thi sĩ là MC, đừng để có những khoảng “thời gian chết” ở giữa chương trình.                                                                                                
  • Để không có “thời gian chết” làm nguội lửa dục, lửa tình trong lúc “yêu nhau” vợ chồng nên tắt hết điện thoại khi bước vào phòng ngủ.
Nấu cơm đừng để cơm ôi.
Làm thơ đừng để hết hơi cuối bài.


READ MORE - ĐỪNG ĐỂ CƠM ÔI - Phạm Đức Nhì

HÈ VỀ - Thơ Hồng Tâm


               Tác giả Hồng Tâm




HÈ VỀ

Hè về phượng vỹ trổ bông
Tháng tư hoa huệ sen hồng nở ra
Bằng lăng tím nở trước nhà
Ve dạo nhạc dàn đồng ca bắt đầu
Nắng ơi ! nắng trốn ở đâu?
Kéo rèm mây lại giọt ngâu rơi hoài
Sấm vang tia chớp điếc tai
Ếch kêu ộp ộp, hoa nhài tỏa hương
Hè về mưa nắng thất thường
Chẳng can nổi gió thổi luồn lạnh căm

                                     06/04/2016
                                     Hồng Tâm

READ MORE - HÈ VỀ - Thơ Hồng Tâm

Saturday, April 9, 2016

EM ĐỨNG CHỜ TA - Thơ Đình Xuân



                             Tác giả Đình Xuân

EM ĐỨNG CHỜ TA

Em đừng chờ ta
Cái hồn không đi thẳng
Ngày nao phím đời dìu dịu
Tặng em một cuộn tơ tình

Tặng em ngàn cõi sinh linh
Nơi thơ hết gầy và cô đơn không cào cấu
Nơi ta bấu víu cây đàn
Cho em hát lời ca từng khao khát

Em đừng chờ ta
Ta đi hoang giữa môi cười
Lỡ đi ngông nhiều trùng trùng
Ta không biệt âm để lưu dấu ngụ ngôn *

Em đừng chờ ta
Tiếng chuông giáo đường là lạ
Vang trước nhà em
Có thể ta kéo dây

Trương Đình Xuân

*Lời PU

READ MORE - EM ĐỨNG CHỜ TA - Thơ Đình Xuân

THÁNG TƯ - BẰNG LĂNG... - Thơ Trần Mai Ngân






THÁNG TƯ - BẰNG LĂNG...

Cứ lần lựa mãi... tháng Tư cũng đến
Không ồn ào mà nhẹ khẽ ru êm
Như thánh đường chiều vọng tiếng chuông ngân 
Từng cung bậc rất ân cần tha thiết...

Cứ lần lựa mãi... Bằng Lăng tím biếc
Đầy hương hoa cho mùa hẹn tháng Tư 
Cứ đến, cứ đi... đôi khi biền biệt 
Bỗng trở về cùng hương sắc ngày xưa.

Cứ lần lựa... cứ lặng im như vậy
Tháng Tư nào và bài hát cho nhau
Cung phiếm chùng lòng rất xuyến xao 
Bằng Lăng có chênh chao thương với nhớ...

Tháng Tư ơi ! Tháng Tư ơi ! lại nhớ 
Mới vừa về như lại sắp ra đi...
Mới vừa về như lại sắp ra đi...
Tháng Tư ơi ! Tháng Tư ơi ! lại nhớ !

                             Trần Mai Ngân

READ MORE - THÁNG TƯ - BẰNG LĂNG... - Thơ Trần Mai Ngân

VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN "ĐÙA CỦA TẠO HÓA" - Đặng Xuân Xuyến


VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN
                                        "ĐÙA CỦA TẠO HÓA"


- Trích trong ĐIỂM YẾU CỦA NGƯỜI ĐÀN ÔNG MẠNH MẼ; Đặng Xuân Xuyến; NXB Văn Hóa Thông Tin 2006 

Truyện ngắn ĐÙA CỦA TẠO HÓA của nhà văn Phạm Hoa đã miêu tả khá thành công tính cách nhân vật Tuấn, đại diện cho một trong những điểm yếu của người đàn ông hiện đại.
Tuấn là con trai duy nhất của một gia đình căn cơ, khá giả với đầy đủ lợi thế: Đẹp trai, học giỏi, hiếu thuận và lịch lãm. Bố hy sinh khi anh còn quá nhỏ, mẹ ở vậy thờ chồng nuôi con. Lớn lên trong tình yêu, sự hy sinh và kỳ vọng vô bờ của người mẹ, anh đã có tất cả: Đẹp trai, thành đạt, được mọi người quý trọng, cưới được cô vợ xinh đẹp thảo hiền. Nhưng thật oái oăm, hay như cách nói của nhà văn Phạm Hoa, gọi đó là trò đùa của tạo hóa, bỗng chốc anh trở thành trắng tay, như chưa tồn tại ở cõi đời.
Đọc ĐÙA CỦA TẠO HÓA, hình ảnh bà Thuận được tác giả khắc họa rất rõ nét và sinh động: Bản lĩnh mà yếu đuối, nhân hậu mà ghê gớm, bao dung mà ích kỷ... trước và sau khi Tuấn cưới vợ. Con người bà chứa đầy mâu thuẫn giữa cho và nhận, giữa tình thương và trách nhiệm vì tình yêu bà dành cho con theo kiểu “độc chiếm yêu thương”. Người đọc yêu bà đấy, cảm phục bà đấy nhưng cũng trách giận bà đấy, khó có thể cảm thông cho sự cứng rắn, ích kỷ đến mù quáng của bà sau khi Tuấn cưới vợ.
Xưa tới nay, muôn đời vẫn vậy, người mẹ luôn hết lòng vì con, sẵn sàng chấp nhận mọi đắng cay, khổ cực, thậm chí đánh đổi cả mạng sống của mình để đứa con được hạnh phúc. Đó là lẽ thường tình, người mẹ nào cũng làm vậy, nhưng việc yêu con đến cạn kiệt bản năng làm mẹ như bà Thuận, người đời khó có thể chấp nhận. Người đọc, thậm chí có thể kính phục bà trong việc nuôi dạy Tuấn nên người, lo lắng chở che cho Tuấn đến quên bản thân mình nhưng không ai chấp nhận tình yêu kiểu “độc chiếm yêu thương” bà dành cho Tuấn. Đấy chính là điểm “thắt nút” buộc Tuấn phải tháo gỡ, là đầu mối bi kịch cuộc đời Tuấn, và cũng chính là bi kịch cuộc đời của một gia đình tưởng sẽ mãi ấm êm, hạnh phúc.
Trái ngược với hình ảnh bà Thuận, hình ảnh Tuấn hiện lên qua phác họa của Phạm Hoa thật yếu đuối và nhu nhược. Con người anh rất hoàn hảo về hình thức và tri thức, nhưng cứ nhàn nhạt về tính cách. Cả cuộc đời anh là một xâu chuỗi sự “răm rắp vâng lời”. Tuốt tuột anh làm theo ý mẹ, nghe theo sự sắp đặt của mẹ. Anh giỏi trong tri thức nhưng lại quá mù mờ về bổn phận của thằng đàn ông. Anh nhanh nhẹn, hoạt bát trong các mối quan hệ xã hội nhưng lại quá ngớ ngẩn trong ứng xử gia đình. Giữa hai người phụ nữ (mẹ và vợ), anh cư xử như một thằng “trẻ con”: Không chính kiến, không suy nghĩ, không hành động.
Mâu thuẫn giữa mẹ và vợ đã đẩy đến điểm đỉnh. Cuộc chiến giành giật “quyền sở hữu” Tuấn - (theo chữ của Nguyễn Kiên là “vùng khuất trong tiềm thức (...) có ẩn ức sinh lý”) - từ hai người đàn bà đã ở mức quyết liệt, một mất một còn mà hành động của Tuấn vẫn chỉ là: Luống cuống quỳ xuống chân mẹ, khóc rưng rức, van xin. Hành động “đáng kể” nhất của anh, được Phạm Hoa viết: “May thay, hóa ra Tuấn lại tỉnh táo hơn cả”, là kéo vợ chạy khỏi nhà, chạy ào ra đồng.
Giữa hai người phụ nữ yêu thương của mình, Tuấn không biết phải làm gì (mà đúng ra anh chẳng chịu làm gì cả). Anh bị họ giằng xé, đun đẩy. Anh là cái cớ để họ bám víu, để họ quyết chiến sống còn nhưng anh vẫn bàng quan, vô cảm. Với họ, anh chỉ là con xúc sắc xinh xinh, đẹp mắt cần phải độc chiếm. Với anh, họ là người thân yêu như ngàn vạn người khác ngoài xã hội. Phạm Hoa đã lột tả tất cả sự nhu nhược, ươn hèn và ích kỷ trong tâm lý và tính cách của Tuấn, chỉ qua một đoạn ngắn: “Tuấn cảm giác rõ sự hết lời của mình. Giới hạn cuối cùng của cuộc xin xỏ đã hết. Chợt anh mỉm cười mềm yếu và dễ dãi. Anh không thể chặt xác Loan ra làm ba được. Anh bỗng thấy lạnh run người. Anh im lặng đứng dậy, nước mắt cũng thôi chảy. Vừa đi ra ngõ, anh vừa thấy loáng thoáng ý nghĩ. Thôi mẹ muốn thế nào cũng được. Anh sẽ ra đi vậy. Để cho các người ở lại giành giật, cắn xé lẫn nhau. Một khi đến yêu mà vẫn không biết yêu thì tồn tại sao nổi. Chính lúc đó, trong con người anh như diễn ra cuộc biến đổi dữ dội. Anh cảm thấy cô đơn, lạnh vắng, như đang lững thững bước trên miền đất nào đó rất xa lạ.” Vâng! Tuấn đã “biến đổi dữ dội” (!) để nhận ra sự cô đơn, vô vị, bất lực của mình nhưng anh vẫn không làm gì, ngoài hành động bỏ trốn. Người đọc cảm mến anh ở những trang đầu bao nhiêu thì nay bực tức anh bấy nhiêu, thậm chí lên án anh vì hành động trốn chạy, vô trách nhiệm của mình.
Ích kỷ và nhu nhược phải chăng là tính cách tạo nên con người Tuấn? Thằng đàn ông có dáng dấp mạnh mẽ, thành đạt của anh chỉ là vỏ bọc của một tâm hồn yếu đuối, bạc nhược, của suy nghĩ rất con trẻ chẳng biết làm gì và thật xa lạ với xã hội, đại diện cho những “cậu ấm” suốt ngày quẩn quanh bên mẹ, yêu mẹ bằng sự tôn thờ tuyệt đối. Kết thúc truyện, hay kết thúc bi kịch cuộc đời Tuấn là sự tan vỡ gia đình, là bước đi vô định của anh giữa màn đêm cô tịch, để mãi mãi không còn ai thấy sự tồn tại của anh trên cõi đời này.
Có lẽ Phạm Hoa đã gặp không ít người đàn ông kiểu như Tuấn trong cuộc sống nên đã xây dựng nhân vật Tuấn trong ĐÙA CỦA TẠO HÓA rất đặc trưng cho những chàng công tử chỉ được cái mẽ người “hào hoa và diêm dúa” nhưng vô tích sự ở đời. Qua tác phẩm của mình, Phạm Hoa cảnh báo: Nếu tình yêu của người mẹ dành cho cậu con trai theo kiểu “độc chiếm yêu thương” sẽ biến con mình trở thành người đàn ông nhu nhược, yếu đuối và ích kỷ, hay còn gọi là người đàn ông “nửa vời”, bị “cắt xén”. Sự ra đi của Tuấn là cần thiết cho cho sự chấm dứt hình ảnh người đàn ông “trẻ con” yếu đuối về tâm hồn, nhu nhược về tính cách đang có chiều hướng gia tăng trong xã hội hiện đại.

                                                  ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN "ĐÙA CỦA TẠO HÓA" - Đặng Xuân Xuyến

GIỌT BUỒN - Thơ Nhật Quang


           Nhật Quang



GIỌT BUỒN

Anh thả vào tim em
Từng giọt buồn... nỗi nhớ
Những đêm dài trăn trở
Chập chờn giấc chiêm bao...

Nhặt tiếng lòng xuyến xao
Gom vần thơ kỷ niệm
Tâm tư chùng lưu luyến
Bao hoài niệm mênh mang

Chiều gót bước thênh thang
Phố buồn vương nhạt nắng
Sương giăng trầm lẳng lặng
Hương đêm buốt bờ vai

Mơ em trong vòng tay
Ôi ! Tình yêu lạc lối
Nhuốm loang màu lỗi tội
Rưng rưng mặn bờ môi

Đêm gối mộng đôn côi
Nghe sầu dâng da diết
Nỗi lòng anh ai biết ?
Tan nát cả hồn thơ

Yêu em chỉ là mơ...
Tình trái ngang, dâu bể
Thôi tình này,em nhé !
Ngàn đời mãi nhớ thương.

                  Nhật Quang
                   (Sài Gòn)

READ MORE - GIỌT BUỒN - Thơ Nhật Quang

Thursday, April 7, 2016

NGÚT HỒN THU KON TUM - Thơ Tâm Nhiên


                       Tác giả Tâm Nhiên

                   
NGÚT HỒN THU KON TUM

Bỗng dưng mà chạnh se lòng
Khi dừng gót đẫm màu phong sương này
Đã bao lần ghé về đây
Say tình thơ ngát rộn đầy xốn xang

Xuôi con phố nhỏ mơ màng
Vàng hoa nắng trổ đóa nhan sắc ngời
Phương ngàn xanh mắt thu phơi
Ơi chao ! Rạo rực đêm bồi hồi qua

Sông Đak Bla sóng giao hòa
Nhòa mông lung giữa E Va quán chiều
Cùng em truyền cảm phiêu diêu
Trong từng nhịp thở lặng dìu dặt nghe

                                      Tâm Nhiên

READ MORE - NGÚT HỒN THU KON TUM - Thơ Tâm Nhiên

RƯỢU NẾP - Thơ Trần Mai Ngân



RƯỢU NẾP

 

Có gì đâu

           chỉ là chai rượu nếp

Cậu một ly

          thì tớ cũng một ly

Đã rất buồn

        phân biệt để mà chi 

Là con gái

       ai bảo không say được...


Có gì đâu

           chỉ là chiều không nắng

Tớ chông chênh

           gọi cậu vậy mà thôi

Hai tâm hồn giông giống nét đơn côi

Giữa náo nhiệt mà lẻ loi đến tội !


Có gì đâu

         rượu cạn... rót cạn rồi

Sầu vẫn vậy 

         vẫn đầy tràn lấp cả...

Tớ đã say

          Sao trên trời nghiêng ngả

Ta về thôi...

         Đêm của mỗi riêng mình !


                TRẦN MAI NGÂN

READ MORE - RƯỢU NẾP - Thơ Trần Mai Ngân

KHÚC THƠ RƠI - Thơ Đình Xuân



                             Tác giả Đình Xuân




KHÚC THƠ RƠI

Đôi khi muốn vò nát những hoa khô
Thả theo gió chiều đông bắc
Rất tiếc chiều rất nhiều màu mà không chở nổi
Cái màu riêng của tận khát khao

Đôi khi nhìn hình thù của mây ngỡ như dáng người tình
Là lúc thả hồn đi hoang
Là nơi hẹn hò từ muôn kiếp
Ru nhau từng giấc ngủ vùi

Đôi khi tìm một bóng người giữa chợ đời muôn lối
Cùng kết giao để vẽ khúc tâm mơ
Và bóng, họ đi theo đường bóng
Và để có người ngông ruổi đường thơ

Đôi khi vỡ nát con tim nào ai biết
Một giấc mơ hoa nào ai thấy
Và đôi khi vô tình nhặt được
Khúc thơ ai rớt giữa chiều...

                ĐÌNH XUÂN

READ MORE - KHÚC THƠ RƠI - Thơ Đình Xuân

ĐỌC “CÁNH VÕNG TRƯỜNG SƠN” THƠ HỒ VĂN CHI - Châu Thạch


 
                    Châu Thạch


Đọc "Cánh Võng Trường Sơn", Thơ Hồ Văn Chi


                                                                          Châu Thạch

CÁNH VÕNG TRƯỜNG SƠN
Tựa chiếc thuyền con, nhuốm gió sương
Đung đưa gợi nhớ cảnh quê hương
Nâng niu giấc ngủ qua đêm lạnh
Gìn dưỡng đôi chân vượt dặm trường
Một mảnh trăng liềm, tràn cảm xúc
Hai đầu đất nước, nặng tình thương
Rời xa cuộc chiến nhiều năm tháng
Nghĩ đến ngày xưa lại vấn xương./.
                                  11/5/2015
                                 Hồ Văn Chi

LỜI BÌNH: Châu Thạch

Tôi không phải là người đi Trường sơn trong cuộc chiến trước đây nhưng không vì thế mà bài thơ “Cánh Võng Trường Sơn” của Hồ Văn Chi không đem đến cho tôi nhiều cảm xúc. Với tôi thơ hay là thơ hay, nó chỉ phụ thuộc vào tâm hồn tác giả và chữ dùng trong đó mà thôi, mọi cái khác đều là trung tính. Bài thơ “Cánh Võng Trường Sơn” trích trong tập thơ cùng tên của Hồ Văn Chi chứng tỏ tác giả tâm đắc nhất bài thơ nầy. Đọc cái đầu đề bài thơ ta liền cảm giác có sự bay bổng khi “chiếc võng Trường sơn” được hoá thân có “cánh”, nghĩa là nó đã thành chim, hay đúng hơn nó là cánh đại bàng. Chỉ một chữ “cánh” thay chữ “chiếc” làm cho người đọc liên nghĩ đến sự tung bay, đến bầu trời cao rộng, đến sự hữu dụng của một chiếc võng bình thường. Chiếc võng bây giờ đã thành như tấm thảm bay đưa con người đến chân trời ước vọng xa xôi.
Vào đề bài thơ tác giả đã cho “cánh võng Trường sơn” biến hoá ngay thành một con thuyền bập bềnh trên sông nước:

Tựa chiếc thuyền con, nhuốm gió sương
Đung đưa gợi nhớ cảnh quê hương

Ai đã từng đi đò dọc mới cảm thụ được tất cả sự so sánh thuyền và võng trong hai câu thơ nầy vừa chính xác, vừa thi vị làm sao. Con thuyền bấp bênh như cánh võng đung đưa. Phong cảnh quê hương xuất hiện hai bên thuyền cũng màu xanh như phong cảnh núi rừng trường sơn hai bên cánh võng, gợi cho người nằm trên võng nhớ đến quê hương. Hai câu thơ lồng cái cảnh quê hương bát ngát trong khung cảnh âm u của núi rừng làm cho người đọc cảm nhận được hết cả tâm trạng của người đi trường sơn trên chiếc võng trường sơn. Mặt khác, nó có tác dụng làm cho tiếng thơ trở nên êm ái, không còn sự u trầm của không khí núi rừng bưng bít bốn bên.
Hai câu trạng của bài thơ nói lên công dụng hữu ích của cánh võng Trường sơn và cũng nói lên ít nhiều sự gian khổ của người đi Trường sơn:

Nâng niu giấc ngủ qua đêm lạnh
Gìn dưỡng đôi chân vượt dặm trường.

Nhiều bài thơ viết về trường sơn đã cố ý tả cho hết, cho tận sự gian khổ, vì vậy nó biến thành một bài thơ kể lể và khóc lóc. Cái hay trong hai câu thơ nầy là chỉ nói lướt sự khó nhọc qua công dụng của chiếc võng Trường sơn. Điều đó làm cho người đọc thấy sự thư thái trong tâm hồn người đi trường sơn, thấy cái đẹp, cái thi vị trong lý tưởng của con người nằm trên võng, thấy cái đêm trường êm ái  và biến cánh võng trường sơn thành đôi tay ru giấc ngủ,  bồi bổ sức lại cho đôi chân vượt dặm trường.
Bước qua vế luận tác giả mở ra một khoảng bao la để cho thấy cái đẹp của đất trời quanh võng và qua đó thấy cả quê hương;

Một mảnh trăng liềm, tràn cảm xúc
Hai đầu đất nước, nặng tình thương 

“ Một mảnh trăng liềm, tràn cảm xúc” biến mảnh trăng thành có hồn của con người. Đọc câu thơ ta thấy người cảm xúc mà trăng cũng cảm xúc. Trăng cảm xúc thì biến động trong hồn người mà người cảm xúc thì lan rộng dưới trăng. Từ cái cảm xúc dưới trăng đó, nhà thơ đã đưa cái cao cả nhất của tâm hồn mình là tình thương đất nước đặt hai đầu cánh võng. Vế thơ chất chứa cái lý tưởng trọng đại của mình đầy ắp sự lãng mạn của trăng và của thơ: “Hai đầu đất nước, nặng tình thương”. Vế thơ cũng cho ta thấy sự trăn trở  của con người nằm trên cánh võng. Đó là chiếc võng như trở thành cái đòn gánh, gánh nặng tình thương ở hai đầu đất nước. “Mảnh trăng lưởi liềm” cũng là một hình ảnh chủ ý của thơ, không bày tỏ sự trọn vẹn như một mảnh trăng tròn, mà ở đây tâm tư đương nhiên phải có nhiều thiếu hụt khi xa nhà, trong cảnh vắng lặng núi rừng.  Một mảnh trăng lưỡi liềm, một cảm xúc tràn lan. Từ cảm xúc vì vẻ đẹp đêm trăng núi rừng đưa đến cảm xúc nặng tình thương ở hai đầu đất nước quê hương. Cái cảm xúc của người thi sĩ lãng mạn trong thơ không vu vơ theo phong cảnh mà đặt vào lý tưởng. Cảm xúc ấy làm tôn vinh nhân cách của thi sĩ, là người không than mây khóc gió, là người dùng sự lãng mạn kía để tô thắm cho đời .  
Hai câu kết rất nhẹ nhàng bày tỏ sự vấn vương về một quá khứ đã xa:

Rời xa cuộc chiến nhiều năm tháng
Nghĩ đến ngày xưa lại vấn vương.

Hai câu kết thật là đơn sơ nhưng chắc nó không đơn sơ trong lòng mỗi người đã từng gùi chiếc võng trên lưng đi dọc Trường sơn, đã từng nằm trên chiếc võng để suy tư về gia đình, về đời trai, về đất nước phân ly. Người đọc sẽ thấy hai câu kết như một cơn gió thoảng đến, đem hương vị quá khứ làm mát rượi tâm hồn mình. Sẽ không có khắc khoải, sẽ không có dằn vặt bi thương, không có ta với địch, hận với thù chỉ làm cho đời mới bớt niềm vui, mà vẫn giữ trăng vàng trong ký ức của những ngày gian khổ đã qua. 

Với tôi “Cánh Võng Trường Sơn” là một bài thơ dễ hiểu và dễ loang trong lòng người  những cảm xúc, gợi nhớ một thời đã qua có bi, có hùng, có gian khổ, có niềm vui và còn lại một phần đậm đà trong ký ức là vẻ đẹp của chiếc võng đơn sơ, hành trang của một thời trai trẻ, của một lớp người đi dọc Trường sơn. Bài thơ Đường không dùng Hán tự, âm điệu trôi như con nước, bay như gió nhẹ. Đọc nó thấy một khu rừng trăng mà cũng thấy dòng sông quê hương, và cũng thấy tình thương bao la làm xao xuyến tâm hồn ./.

                                                                         Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “CÁNH VÕNG TRƯỜNG SƠN” THƠ HỒ VĂN CHI - Châu Thạch