Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, January 23, 2023

NAM QUẬN, CHU DU, TRIỆU VÂN – Tạp ghi và phiếm luận của Chu Vương Miện


Chu Du (phải) và Gia Cát Lượng (trái).
 
Theo cẩm nang cuả quân sư Gia Cát Khổng Minh, Thường Sơn Triệu Tử Long tướng trấn thành Nam Quận và Di Lăng tự động thi hành giải quyết rồi báo cáo sau. Ngài cho mời tướng Trần Kiểu cuả Nhà Nguỵ Tào Tháo từ dươí điạ lao lên, cho tắm rửa sạch sẽ, ăn uống no nê rồi vào làm việc với ngài. Chừng một canh giờ thì đâu vào đó, kể cả hớt tóc và cạo râu. Triệu Tử Long mời Trần Kiểu  an toạ rồi nói:
 
- Thôi chuyện chiến tranh chiến trường nó có nhiều cái lôi thôi vô luân vô đạo đức lắm, kính mong tướng quân đại xá bỏ qua cho. Hôm nay bổn tướng có một vấn đề thiết thực gan ruột, muốn trao đổi với tướng quân. Kính mong tướng quân hợp tác cho thuận chèo xuôi mái.
 
Trần Kiểu ân cần:
- Xin Ân tướng có gì xin chỉ dạy. Tiểu tướng chỉ là vô danh tiểu tốt chuyên dùng để sai những việc vặt vãnh. Ân tướng có điều gì cần thiết thì xin chỉ dạy, tiểu tướng làm được thì xin làm ngay!
- Tướng quân nói vậy là quá khiêm tốn rồi. Làm tham tướng, đặc trách “binh phù” quân cơ là kẻ rất thân tín. Việc này đâu có thể ai cũng đặc trách được?

- Đa tạ ân tướng quan hoài. Cũng vì việc này mà bị tra khảo đến vãi cứt vãi đái ra, lại còn có tội nặng với triều đình nữa là đằng khác.
- Thôi với hai cái “Binh Phù” cuả tướng quân giao nạp. Quân nhà Thục đã chiếm gọn gàng hai thành Kinh Châu và thành Tương Dương không tốn một phát súng, một viên đạn, một mạng người.
- Vậy ân tướng cần gì ở nơi tiểu tướng?

- Theo lệnh trên, thì ta là tư lệnh toàn quyền cái thành Nam Quận và Di Lăng này. Toàn quân toàn tướng uýnh nhau nhiều năm  quá rồi, bây giờ cho phép ta đăng báo kêu nhà thầu bán đấu giá cái thành này, để lấy tiền chia cho binh sĩ nghỉ vocation mỗi người vài tháng để về thăm quê hương nguyên quán, gia đình, bạn bè v..v.. Vậy ta viết cho tướng quân một cái thư, tướng quân cấp ỳ kiếm đại tướng Tào Nhân, Tào Hồng là có nên nhận lại cái thành Nam Quận Di Lăng này hay không? Ta hẹn trong khoảng nửa tháng, nếu không hồi âm thì gạch ta bán theo gạch, gỗ bán theo gỗ, vũ khí thì bán cho lò rèn sản xuất cuốc xẻng, gạo thóc, lương thực bán hết. Xin nói thêm cái thành này tập trung được 10 ngàn quân và toàn bộ quân nhà Thục là ba vạn chín nghìn người.
 
Sau một tuần thì văn thư của Tào Tháo thừa tướng gửi “hoả tốc” đến cho Lưu Bị, nội dung như sau:
 
- Đồng ý cả hai chân và tay, và chuộc luôn thành Tương Dương nữa nếu được. Còn thành Kinh Châu thì Ba Thục tuỳ nghi. Cam kết y như cuộc mạn đàm với Quan Vũ trong mặt trận Huê Dung tiểu lộ bữa trước. Theo thiển ý toàn bộ quân cuả Ba Thục là 39000 người. Nhân danh thừa tướng nhà đại Hán, thân tặng mỗi đầu ngươì là một dật vàng tức là 24 lượng. Đường xá xa xôi, ngay lập tức nhận bằng ngân phiếu cho tiện và gọn. Nếu có gì nghe không thuận tai, đọc không thuận mắt xin hồi âm văn thư này càng gấp càng tốt. Nếu không nhận đựợc hồi âm trong một tuần, thì cứ vậy như trên mà thi hành.
 
Buổi họp sáng hôm đó, không có mặt cuả Hán Trung Vương Lưu Huyền Đức  mà chỉ có quân sư Khổng Minh Gia Cát Lượng truyền đạt khẩu dụ cuả ngài cho các khanh gia, tướng lãnh và binh tốt trân quí những điều sau đây:
 
- Quân đội chia ra làm hai phần, một nửa đi phép, đi chơi, đi đâu thì đi. Ai ít nhu cầu thì đi một tháng, ai nhiều nhu cầu đường đất xa xôi thì đi ba tháng. Nếu thấy thuận tiện có công ăn việc làm thì tự động cho là đã được giải ngũ, hoặc lúc nào muốn trở lại quân ngũ thì triều đình và quân đội rất là hoan nghênh.
 
-Một nửa quân đội còn lại thì chia nhau đi khai khẩn đất bỏ hoang vì chiến tranh để tự túc cải thiện đời sống. Việc binh bị thì chỉ cần một ngày từ 4 giơ đến 6 giờ mà thôi.
 
- Cứ thoải mái vui chơi. Chuyện với nhà Ngụy và nhà Ngô, triều đình đã có biện pháp ngăn ngừa chống giữ.
- Mỗi quân nhân nhận 2 dật vàng coi như món quà tặng tượng trưng cuả triều đình ban tặng.
- Và cầu chúc mọi người, mọi cấp thượng lộ bình an, hẹn ngày tái ngộ.
 
*
Gia Cát Khổng Minh vừa về đến đồi Long Trung, thì hôm sau Tư Mã Thuỷ Kính và Thạch Quảng Nguyên vùng Nam Chương (Dĩnh Nam) qua thăm thân hữu. Tư Mã Thuỷ Kính tiên sinh cưỡi lừa, còn Thạch Quảng Nguyên thì đi bộ. Chén chú chén anh một lúc thì Gia Cát móc trong túi ra hai dật vàng dúi vào tay mỗi người một dật.

Tư mã Thuỷ Kính không cầm hỏi lại:
- Vậy từ khi phò Lưu Huyền Đức đến nay cũng trên năm năm rồi, hiền đệ được hưởng bao nhiêu hiện kim  rồi?
- Không có một đồng xu  cắc  bạc nào. Đây là tiền chuộc thành Nam Quận, mỗi ngươi chia đều được một dật. Lưu Bị lấy trong kho cho thưởng thêm 1 dật nữa. Riêng tiểu đệ thì Lưu Bị cho luôn đệ phần ông ta, tất cả là bốn, hôm qua cho tiện nội 1, em trai Gia Cát Quân 1, còn hai thì mỗi huynh một.
 
Thạch Quảng Nguyên cười hì hì:
- Đệ năm năm chiến trường gian khổ, mức thu nhập chỉ có chừng đó. Hai huynh ở nhà cuốc đất trồng rau cũng hơn đệ đựợc một dật. Mỗi năm dư một dật, thôi trong thời gian nghỉ ngơi tại vùng Long Trung này, mọi chi phí tiêu dùng, hai Huynh đài thọ cho đệ. À mà cái chuyện đại thắng quân Tào ở sông Xích Bích, hai huynh chưa muốn nghe bây giờ. Vì dù sao cũng là công của Đông Ngô Chu Công Cẩn. Bây giờ hai huynh chỉ muốn nghe đệ thuật lại chiến thắng thành Nam Quận mà thôi.

- Sau khi chiến thắng trận thuỷ chiến ở sông Xích Bích, quân Ngô thừa thắng xông lên. Thành chiến lược đầu tiên là Nam Quận phải chiếm dứt điểm. Đây là điểm chiến lược ngã ba biên giới do Thượng tướng Tào Nhân và Tào Hồng trấn giữ. Tào Hồng kiêm luôn ải Di Lăng. Hai điạ điểm cách nhau khoảng 50 dậm (là thế ỷ dốc) cấp cứu lẫn nhau. Chả biết cẩm nang mật cuả Tào Tháo để lại ghi những gì? Nghiên cứu sách vở nào chả rõ. Tào Nhân mật cho tướng Ngưu Kim ra chợ Nam Quận tuyển một lúc khoảng gần trăm người dân hàng tôm hàng cá vào quân ngũ, lương bổng khá cao, chỉ làm việc khi cần, còn không thì cứ đi bán cá. Trong một thơì gian ngắn, quân Ngô một nửa ở nhà dưỡng quân vơí Tôn Quyền. Chu đô đốc dẫn theo khoảng hai vạn và chừng 50 tướng lãnh, nào Tưởng Cán, Tưởng Khâm, Thái Sử Từ, Từ Thịnh, Đinh Phụng, Chu Thái, Lăng Thống… đánh nhầu, bất phân thắng bại. Chu Du nghĩ quân số gấp đôi mà không thắng nổi, đánh trầy vi tróc vẩy mà chả ra sao? Chả lẽ cuộc thuỷ chiến vừa rồi với 80 vạn quân Tào là cuội? Bất thần quân tế tác hồi báo “là quân Tào kẻ vác bao người vác gạo rút cấp tốc”. Chu Du cho lệnh khẩn cấp tấn công, bốn cửa thành mở toang hoác. Chu Du cưỡi ngưạ nghễng ngãng bước vào. Tướng Tào là Ngưu Kim huýt một tiếng còi, hai bên quân phục bắn tên ra như mưa. Chu Du lãnh một mũi vào sườn ngã xuống ngưạ chết giấc. Các tướng Đông Ngô liều chết lăn xả vào cứu mạng về. 


Đại phu thái y chữa bệnh nói rằng:
- Đầu mũi tên có tẩm thuốc độc, nên bệnh phải tĩnh dưỡng một thời gian ít nhất cũng 15 ngày mới khỏi, nếu nổi nóng thì bệnh sẽ trở lại. Tào Nhân, Tào Hồng, Tào Thuần ngày nào cũng dẫn một ít lính và bọn hàng tôm hàng cá, gắn loa vào cột tre, chõ vào doanh trại cuả Chu Du mà chửi tục, chửi đểu. Chu đô đốc biết là có người cuả quân Tào ngày ngày đến doanh trại cuả mình chửi đều đều dài dài, ngồi dậy tức quá thì lại hộc xì dầu ra, (tiếng bình dân gọi là tàu vị yểu).
 
Chịu không nổi Chu đô đốc mặc giáp mang kiếm cưỡi ngựa ra trận. Vừa ra tới nơi bọn hàng tôm hàng cá bu lại chửi tưới hạt sen, chửi vung xích chó:
- Cái thằng mặt trắng chó chết quân ăn hại kia? Công lao trận Xích Bích là cuả Khổng Minh Gia Cát Lượng , chớ công lao gì mày? Không có gió Đông Nam thì mày cũng chỉ là con rùa rút đầu mà thôi?
 
Nghe một lúc Chu Du xây xẩm mặt mày, ngay lúc đó thì lại trúng thêm một mũi tên vào má bên trái nữa, ngã ngay cu đơ xuống chân ngựa. Tướng tá phò chạy về quân doanh, thì Chu Du thều thào với chư tướng như sau:

- Tương kế tựu kế, cứ giả là cho ta đã chết. Cho một phần quân sĩ mặc áo trắng để tang ta và khóc cả ngày đêm. Cho người về Sài Tang thuê gấp bốn ban nhạc: nhạc Tây, nhạc Tàu tiếng Quảng, nhạc Tàu tiếng Tiều  nhạc Việt (kèm theo phường bát âm) và một xe đòn đám ma 16 người khiêng. Hôm sau thì bà con cô bác nhà họ Tào từ thành Nam Quận nhìn ra. Đi trước là hàng quân  cờ rũ, tiếp đến là hai ban nhạc Tàu, rồi đến xe đòn đám ma chở xác Chu Du giả,  kế đến là Phường Bát âm, ban nhạc Tây. Kẻ khóc người mếu, nhạc thì Cầu sông Quai. Giòng sông Xanh, máu nhuộm Bãi Thượng Hải, Lòng Mẹ... Thôi thì nhạc giao duyên hầm bà làng xắn cấu.
 
Nghe nhạc một lúc đã quá, Tào Nhân ra lệnh toàn bộ quân Tào tấn công. Quân bên Ngô đã phục sẵn, ào ra đánh nhầu một lúc thì quân Tào đại bại, nhắm hướng Hứa Xương mà chạy tuốt. Chu đô đốc điều quân ào ào nhào vào chiếm thành, thì cổng thành gài then cứng ngắc, trên địch lâu treo cờ nhà Thục và tướng trấn thành to mồm la tướng lên nghe rất chõi tai:
 
- Thường Sơn Triệu Tử Long là ta đây đã nhận lệnh Quân sư Khổng Minh Gia Cát Lượng chiếm thành này, xin có lời kính chào Chu Du đại đô đốc.

Đương ngồi trên ngựa, chưa kịp cười chiến thắng. Chợt nghe vậy, Chu Du hét lên một tiếng, hộc máu tươi ra và ngã xuống ngựa. Thế là quân lính Đông Ngô đặt đại đô đốc Chu Du lên xe hòm đám ma, mười sáu người khiêng cùng bốn ban nhạc Tây Tàu Ta hoà tấu cứ lọan xạ cả lên, nhắm phiá Sài Tang tiến phát.
 
chuvươngmiện

READ MORE - NAM QUẬN, CHU DU, TRIỆU VÂN – Tạp ghi và phiếm luận của Chu Vương Miện

Sunday, January 22, 2023

Chùm ành HOA XUÂN - Chu Vương Miện

 Bấm vào hình để phóng to.















READ MORE - Chùm ành HOA XUÂN - Chu Vương Miện

RỘN RÀNG XAY GẠO ĐÓN TẾT - Tản văn - Nguyễn Thủy


 

RỘN RÀNG XAY GẠO ĐÓN TẾT


Chỉ còn mấy ngày nữa là đến tết, không khí nhộn nhịp hẳn lên, đào quất để hai bên kín cả, đã qua ngày 23 tháng chạp rồi nê nhà nhà đã dựng nêu và trang trí đèn nháy thật đẹp vì vậy công việc cũng khẩn trương hơn.


Ở quê tôi có quan niệm rằng để đón được một cái tết trọn vẹn với những hy vọng năm mới sẽ được sung túc an nhàn hơn cần chuẩn bị tất cả mọi thứ cho ngày tết tốt nhất có thể. Trong đó công việc chuẩn bị lương thực cho người và vật nuôi là một việc làm không thể thiếu bởi vậy những ngày giáp tết các máy xay xát nhộn nhịp người; người thì xay gạo, người nghiền cám bã cho gà, lợn trâu bò...


 Ngày nay công nghiệp tân tiến nên chỉ cần đưa lúa đến máy xay xát rất nhanh là đã có gạo trắng nõn nà, nếu có đông người như ngày tết thì cũng không phải chờ thật quá lâu vì bây giờ có nhiều máy xay xát chứ không còn hiếm hoi như ngày xưa, ở mỗi làng cũng có vài ba cái máy nên việc xay xát dễ hơn nhiều.


  Nhớ lại ngày xưa mỗi dịp tết đến xuân về khâu chuẩn bị gạo là vất vả nhất, ngày đó chưa có máy xay xát nên chị em tôi phải xay lúa bằng máy thủ công, xay xong lại dùng cái nia để sàng sảy cho trấu ra bớt sau đó đổ vào cối giã,  giã đến khi nào sờ tay vào nghe man mát mịn màng, nắm tay lại mở ra mà gạo và cám thành nắm mới được. Giã gạo xong còn phải dùng dần dày để dần cho cám và gạo ra mỗi thứ mỗi nơi sau đó lại dùng sàng sưa để sàng gom nhặt những hạt lúa còn sót lại và dùng nia để sảy trấu nhỏ ra lúc đó gạo mới sạch được.


 Để giã được cối gạo cũng  mỏi rã rời chân rồi mà mỗi cối gạo chỉ được tầm vài cân thôi, huống chi chị em tôi phải giã hàng thúng gạo mới đủ ăn cho qua tết. 


Xã hội ngày càng phát triển, công nghiệp cũng dần tiến lên vậy là  máy xay xát gạo ra đời đỡ cho công việc xay giã vất vả. Lúc đó háo hức phải biết chúng tôi được xay gạo bằng máy, khổ nỗi hai ba xã một cái máy cho nên đi xay gạo là phải ghi danh sách theo thứ tự, chờ cho đến lượt mình cũng phải cả ngày thậm chí hai ngày ấy chứ. Mà máy xay lúc đó là máy xay xát ngang nên về nhà lại phải sàng sảy lại mới ăn được.


  Nay máy móc nhiều thuận lợi cho việc xay xát nhưng với tập tục chuẩn bị lương thực cho ngày tết đã thành một thói quen truyền thống rằng  sát tết mọi nhà mới chuẩn bị gạo tết  nên lượng người xay xát quá đông vì vậy các máy xay xát vẫn làm việc rất nhộn nhịp rất hối hả. Đúng là không khí của ngày tết.


Nguyễn Thủy

Mỹ Thành, Yên Thành, Nghệ An

<thuymnmt12@gmail.com>


READ MORE - RỘN RÀNG XAY GẠO ĐÓN TẾT - Tản văn - Nguyễn Thủy

Friday, January 20, 2023

“LÝ THẾ GIÃ, THIÊN GIÔ, TAM QUỐC CHÍ NGOẠI TRUYỆN – Chu Vương Miện



Phục Hoàng hậu (tức Lữ Hậu) vừa dứt lời thì Điều hợp viên Khổng Minh Gia Cát Lượng tiếp theo:
 
- Xin trân trọng hoan hỉ kính mời các vị hào kiệt lên phát biểu cảm tưởng tiếp, nếu trong một phút không có vị nào lên diễn đàn, thì hoạt náo viên là tại hạ sẽ có đôi lời, vì hiện giờ có quá dư thì giờ mà giờ ăn trưa chưa tới, nếu trong các vị có ai lên nói thì tại hạ sẽ nhường ngay micro. Bây giờ để trám chỗ trống tại hạ xin được phép bày tỏ đôi lời “cái Thế và Cơ trong trời đất lúc nào cũng có, kẻ bắt đúng thời cơ là kẻ tuấn kiệt. Bắt hụt, hoặc thời cơ tới, gà mờ để thời cơ xổng vó đi qua mất, thì đúng là chỉ còn có cơ húp “cháo rùa”. 

Đây nói về chữ Thời, thời đây là thời gian, và Cơ là lúc Cơ hội. Cơ hội không phải lúc nào cũng có. Trời đất tạo ra cũng có hoàn cảnh tạo ra cũng có, mà con người tạo ra cũng có. Chả hạn như thời nhà Tây Hán, đánh nhau một số năm, hầu như ai cũng thấm mệt, kể cả ngựa trận, còn trâu bò có mệt hay không thì không thấy ai nói tới bàn tới? Hạng Võ thì khỏi cần phải nói, ai cũng hiểu rất rõ ràng là người học không nổi, chán cả Văn và chán cả Võ, nóng nẩy tính khí hung bạo, tàn nhẫn đa sát nhưng lại Quân Tử Tàu. 


Còn phần Hán Lưu Bang thì sử gia Nguyễn Hiến Lê hạ bút phê nhẹ như sau:
- Cao Tổ (Lưu Bang) vốn là một nông dân vô học, làm đình trưởng (như cai trạm) thời nhà Tần, nhờ bọn mưu sĩ Tiêu Hà, Trương Lương, Hàn Tín, Trần Bình, Anh Bố, Bành Việt... mà thắng được Sở Bá Vương (Hạng Võ) cho đó toàn là công cuả mình, có thể không dùng tới họ nữa có lần mắng Lục Giả rằng:
“Ta ngồi trên mình ngưạ mà được thiên hạ, đâu cần đọc Thi, Thư ‘thậm chí lột mũ của bọn nho sinh, liệng xuống đất rồi đái vào’.”
 
Nhưng rồi ông cũng phải nhận ra rằng có thể ngồi trên lưng ngưạ mà chiếm thiên hạ, chứ không thể ngồi trên lưng ngựa mà trị thiên hạ, nên phải nghe lơì Thúc Tôn Thông, Lục Giả, Lịch Tự Cơ theo phép tắc thời trước mà đặt ra triều nghi, từ đó triều đình mới có trật tự, có vẻ tôn nghiêm.
 
Tuy nhiên ông vẫn cấm đạo Nho, vẫn không bỏ hiệp thư (lệnh đốt sách Nho) mà cũng như Tần Thuỷ Hoàng... (Sử Trung Quốc Nguyễn Hiến Lê trang 184 quyển 1).
 
Tam Tề Vương Hàn Tín

Người thứ ba là Tam Tề Vương Hàn Tín kiếp này là Tào thừa tướng, vị này có học, không rõ học ít hay nhiều, vì ngài có tài làm toán (Hàn Tín Điểm Binh) thì đúng hết xẩy. Không hiểu vì lý do nào mà ngài thường xuyên thất nghiệp, đi câu cá đô nhật, nếu không được cá thì ngài bèn đi ăn bám xin cơm bà Phiếu mẫu (là ngươì đi giặt thuê). Ngày thường ngài vẫn đeo lủng lẳng một thanh kiếm trên vai đi lang thang trong chợ ngoài thành. Thấy tư cách thảm hại cuả ngài như thế lão đồ tể Đỗ Trung bán thịt ở trong chợ không hài lòng bèn vờí ngài tới, nói thẳng với ngài rằng: “Thằng hèn hạ kia! Tư cách như mày mà cũng mang gươm trên vai, không biết thế nào là xấu hổ ư ? Nếu mày ngon thì chém cho tao một nhát đầu lìa khỏi cổ chết đi cho rảnh, còn không làm được điều đó thì vui lòng chui qua háng cuả tao đây! Suy nghĩ một chút Hán Tín khom người bò xuống đất từ từ chui qua háng Đỗ Trung. Từ đó thì Hàn Tín biệt tăm biệt tích giang hồ. Nguyên do là vầy, ngài mua đựợc bộ da thuộc của Dã Nhơn ngoài thị trấn. Ngài mặc vào người rồi trà trộn nhẩy vào chuồng Dã Nhơn trong sở thú. Trong sở thú thì quá nhiều loại thú, và quá nhiều chuồng, lại quá nhiều công việc, có nhiều ca làm việc ca ngày và ca đêm, thành ra không ai biết gì đến sự có mặt cuả ngài. Tuy nhiên, có một vị bác sĩ Thú Y rất quan tâm tới ngài. Lý do ngài mặc bộ da con Dã Nhơn Cái, mà loại Dã Nhơn này hiện nay trên trái đất rất ít coi mòi sắp diệt chủng tới nơi. Thế là ngày ngày con Dã Nhơn Đực cứ làm tình với Ngài hoài. Hành động này lại được sự đồng tình khuyến khích cuả vị đại phu nữa! Lắp đít mãi đau rát quá chiụ không thấu, nhân có nhân viên mở cửa chuồng cho thú ăn. Ngài lanh chân zdoọt chạy tưới hạt sen ra phiá cổng trước vưà chạy vưà kêu S.O.S. Thế là thợ dọn vườn, người canh gác, bảo vệ vội vã chạy theo vồ lấy ngài dẫn vào văn phòng giám đốc để làm việc. Cụ học giả giám đốc (tức Vương tiên sinh) hiểu ngay sự vụ, bèn giữ ngài ở lại làm việc trong Sở Thú. Cụ Vương bèn biếu ngài bộ Binh Thư Võ Học của Tôn Võ Tử thời Chiến Quốc để ngày đêm ngài gối đầu giường nghiền ngẫm, và có một số năm nuôi thú và dậy thú (Thú Sư) ngài rất có kinh nghiệm về thuật dùng người, thuật dùng thú. Còn về chiến thuật chiến lược, binh pháp quân sự tác chiến thì kể như thiên hạ vô địch.  
 
*
Sau khi thắng được bạo Tần Hạng Võ lên ngôi lấy tên là Tây Sở Bá Vương, định đô ở Bành Thành, phong Vương và phong Hầu đủ thứ cho các chư hầu theo mình. Bái Công tức Lưu Bang được phong làm Hán Vương đất phong là Tứ Xuyên (tức Ba Thục). 

Vì không muốn mọc sừng và mọc đuôi chết già trong xứ tù đày đó, thế là qua sự đề bạt cuả Trương Tử Phòng, Hàn Tín một mình một ngưạ vào đất Xuyên, ngàn năm một thủa được đặc cách thăng từ Chấp Kích Lang lên ngay một phát Đại Nguyên Soái phá Sở. Nghe tin Hàn Tín làm tới đại nguyên soái có người vì cười vỡ bụng mà thác, có người cười méo cả quai hàm không bình thường được nưã, có người cười đến nỗi không ngậm mồm lại được, thành ra miệng có tật méo luôn. 

Cũng may là thiên tài quân sự đánh đâu thắng đó, đánh lớn thắng lớn đánh nhỏ thắng nhỏ, không đánh cũng thắng. Giang sơn nhà Sở cuả Hạng Võ teo dần dần, teo đến mực độ không thể chấp nhận được nữa. Hạng Võ mới sai ngươì mang quà cáp vàng bạc đi biếu xén Tam Tề Vương Hàn Tín và đề nghị giải giáp chia đôi thiên hạ (có nghiã là dẹp cha cái thằng Lưu Bang đi chỗ khác chơi) là chủ soái hành binh bố trận bách chiến bách thắng thì có thừa tài ,(chỉ có cái tài cuả thằng người ở, nô tài), chủ sai đâu thì sốt sắng hoàn tất nhiệm vụ, bất thấn Thời Cơ tới tay thì lại không biết xoay sở quyết đoán thế nào. 

Ngay lúc đó tại hạ ở đó khuyên Tam Tề Vương chịụ điều kiện đó đi, vì lúc bấy giờ Hàn Tín ở thế thượng phong, nghiêng về Sở thì Sở thắng, nghiêng về Hán thì Hán thắng, mà chia ba thiên hạ thì cũng chả mèo nào ngán mỉu nào? Đúng là ngàn năm một thủa, cờ đã đến tay. Nhưng lòng dạ cuả Tam Tề Vương quá tủn mủn, y như đàn bà lo việc nội trợ bếp nước, cho rằng Lưu Bang có lòng với mình, có cặp mắt xanh nhìn mình, mà nếu không có Lưu Bang thì mình cũng chỉ làm Chấp Kích Lang suốt đời suốt kiếp. 

Danh vọng như vậy là tuyệt đỉnh rồi, an phận thủ thường. Chuyện chia ba thiên hạ coi như không có. Đúng là như vậy, cây muốn lặng gió chẳng muốn ngừng. Thế là số phận cuả nước Sở như chỉ mành treo chuông? 

Mọi miền đất thu gom vào làm một. Hán Vương khoái quá, bèn bàn riêng với Lã Hậu là chặt đẹp những kẻ công thần, bắt đầu từ Trương Lương, Hàn Tín... Thực ra Hàn Tín không có lòng nào phản lại Lưu Bang, nhưng một khi kẻ trên muốn giết thì kẻ dưới cũng đành dơ đầu ra mà chiụ. Chả hạn tướng nước Sở là Chung Ly Muội, chạy người không đến ở nhờ Hàn Tín, mà cho là âm mưu tạo phản? Nếu muốn phản thì phản từ khuya rồi, đâu phải chờ đến bây giờ, mà Chung Ly Muội không có quân, lấy lực lượng gì mà làm phản. Còn chuyện làm tay trong cho Trần Hy cũng chỉ là gán ghép, Hàn Tín là tù nhân bị giam lỏng, không có một tên quân, ai mà kỳ vọng giao phó trọng trách cho được? Mà làm tay trong cái gì? Chẳng qua là muốn giết thì đẻ ra biết bao nhiêu thứ? 

Tại hạ lúc bấy giờ chán ngán quá, không ngờ bao nhiêu năm mình đi phò một thằng Ngu thằng Khờ làm chủ nhân, nói hết hơi như nước chẩy đầu vịt, thôi cũng đành chờ một ngày nào đó đi nhận xác cuả Hàn Tín về chôn cho nó đủ tình trọn nghĩa!
 
chuvươngmiện

READ MORE - “LÝ THẾ GIÃ, THIÊN GIÔ, TAM QUỐC CHÍ NGOẠI TRUYỆN – Chu Vương Miện

HƯƠNG VỊ TẾT XƯA - Tuỳ bút - Nguyễn Thuỷ

 



HƯƠNG VỊ TẾT XƯA

Nguyễn Thuỷ


Những ngày cuối cùng bận rộn của tháng chạp cũng dần qua để nhường chỗ cho năm mới. 

Cả nhà hôm nay quây quần bên nhau gói bánh tết. Giờ là thời đại mới, rất nhiều nhà họ không còn gói bánh nữa mà chỉ mua vài cặp bánh để thờ tết. Riêng gia đình tôi vẫn giữ gìn theo nếp truyền thống là mỗi năm cứ đều gói và nấu bánh. Có những năm mấy nhà hàng xóm còn đem nếp đến mấy chị em gói chung rồi nấu bánh, hát hò vui lắm. Trong lúc người lớn gói bánh, mấy đứa nhỏ cũng quanh quẩn đòi tập gói và chờ để được để mẹ gói cho những cái bánh nho nhỏ xinh xắn. 

Cứ nhìn bọn trẻ lăng xăng chạy đi chạy lại, bỗng ký ức trong tôi chợt ùa về. Cái thuở đó nhà nghèo lắm, mà cũng không riêng gì nhà tôi, cái nghèo chung của xã hội. Thường ngày bố mẹ phải vất vả ngược xuôi tất bật lắm để kiếm củ khoai, củ sắn độn thêm vào để ăn qua bận, thức ăn thì chỉ họa hoằn lắm mới được  mẹ mua cho một bữa mắm lá cam hay cá hổi, nói đến thịt và cá ngon thì hiếm lắm. Chính vì vậy anh chị em chúng tôi rất mong tết đến bởi chỉ tết đến, dù khó khăn đến đâu, đi vay mượn hay đổi chác, thì bố mẹ cũng cố gắng để có vài cân thịt, trước là để cúng ông bà tổ tiên, sau là con cái và gia đình được thưởng thức, thêm nữa còn được bố mẹ mua cho quần áo mới.  

Nhà tôi đông người, bố rất nghiêm khắc với con cái. Tuy nhiên, những ngày sắp tết trở sang năm mới thì con cái phạm lỗi bố không bao giờ trách phạt mà chỉ nói rằng: Nếu không phải năm hết tết đến thì bố sẽ phạt nặng.    

Vào những ngày cuối năm, bố mẹ luôn bận rộn bởi lo gieo cấy cho kịp vụ, mà cái thời đó còn nuôi trâu hợp tác nên việc cày bừa cũng chia phiên, vì vậy khi được đến lượt mình thì dù rét mướt đến đâu  bố cũng dậy sớm giục trâu ra đồng làm đất cho kịp mùa vụ. Còn mẹ thì sau khi ra đồng lo phát góc đắp bờ cùng bố. Khi về, dù đã chiều muộn, vẫn tranh thủ ra vườn nhổ su hào vào để chuẩn bị hàng bán chợ tết sáng mai.     

Mẹ chọn những củ su hào to tròn nhổ lên cắt bỏ gốc rễ, cắt bỏ lá già chỉ chừa lại hai ba lá non cắt lửng rồi rửa sạch, sao cho nhìn sáng bắt mắt, sau đó sắp xếp cẩn thận vào một góc sân cho ráo nước. Những chiếc lá su hào già thì mẹ đem phơi héo và cho vào muối lên dùng làm thức ăn dự trử cho cả nhà. Phiên chợ cuối năm mẹ thường hay cho chúng tôi đi cùng. Những khi như thế chúng tôi hào hứng lắm. Mặc dù chợ rất xa nhà, phải dậy đi từ mờ đất, nhưng mấy đứa vẫn tích cực dậy sớm cùng mẹ xếp su hào vào gánh, xong xuôi mẹ gánh chạy trước, mấy chị em lon ton chạy theo sau, khi đến nơi thì chợ cũng đã đông kín người, đúng là chợ ngày tết, cái gì cũng có, đặc biệt là hàng hoa quả bánh kẹo rực rỡ đủ sắc màu. 

Chợ ngày càng đông, tiếng người bán kẻ mua, ồn ào hết cả một khảng không gian lớn. Các hàng đồ chơi trẻ nhỏ, quần áo, thịt cá la liệt, các hàng ăn, hàng bánh đua nhau tỏa mùi thơm phức. 

Non trưa, mẹ đã bán hết hàng và mẹ con cùng dạo chợ, mẹ mua một số thứ cần thiết cho ngày tết, còn quần áo cũng có năm thì bố mẹ có tiền mua cho mỗi đứa một bộ quần áo mặc tết, nhưng đa phần là bố mẹ chỉ mua cho anh chị lớn, còn em nhỏ có thể mặc đồ của anh chị sửa lại. 

Nhưng năm nào cũng vậy, mẹ thường cho mỗi đứa mấy đồng để chúng tôi được mua một vài thứ theo ý thích. Tất nhiên là chỉ những thứ tiền in ít thôi và có một việc không bao giờ thiếu đó là mua bánh về biếu các ông bà cao niên trong dòng họ và láng giềng, không phải là cao sơn mỹ vị mà chỉ mỗi người chục bánh tẻ hay cái bánh gói gọi là vậy để tỏ với lòng hiếu thảo với các bậc bề trên mà thôi. Sau buổi chợ mặc dù mệt lả nhưng vẫn thấy vui.  

 Thả quang gánh mẹ lại tất tả ra đồng, chị được giao nhiệm vụ rửa lá dong để chuẩn bị gói bánh, còn lại mấy đứa thì quét dọn nhà cửa sân cổng cho sạch sẽ. Tất cả mọi thứ phải được tươm tất để đón một năm mới trọn vẹn, với hy vọng mọi điều sẽ được tốt đẹp hơn. 

 Ngày đó thịt lợn cũng không có tiền mua mà chủ yếu là vay thịt đổi thóc, cứ đổi một yến hơi thịt là 70 kg thóc đến mùa mí trả. Thường thì nhà tôi hay vay đổi tầm 5kg, tương đương 3,5 kg thịt. Đáng lẽ số thịt này là để đơm tết nhưng do lâu ngày không được ăn thịt nên chúng tôi thèm nhỏ dãi cứ xuýt xoa. Vậy là bố mẹ đành lường đủ thịt làm mâm còn thì bớt ra một ít nấu cho chúng tôi ăn một bữa trước gọi là. 

 Vãn công việc ngoài đồng , bố về lau dọn sửa soạn ban thờ, mẹ vò nếp, chuẩn bị hành thịt gói bánh, cả nhà quây quần cùng làm, mẹ gói bố buộc lạt còn chị em tôi đứa thì tập gói, đứa ngồi xem đứa chạy lăng xăng vậy cái này cái nọ. Bánh gói xong mẹ xếp vào cái nồi lớn nhóm lửa để nấu, ngọn lửa tỏa ra ấm áp cả ngôi nhà, khi bếp than rực đỏ, chị em tôi lại đem khoai lang lùi vào đó ít củ mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa thể quên được cái hương vị của nó vừa thơm thơm ngòn ngọt và bùi bùi. 

Bánh chin, mẹ vớt ra mâm ép nước sửa sang cẩn thận rồi xếp ra đĩa cặp bánh để lên ban thờ cũng là lúc giao thừa vừa đến, tiếng pháo bắt đầu râm ran xa gần. Hồi đó chưa cấm pháo nên mỗi nhà đều mua vài dây pháo nổ với mong muốn đuổi xua đi cái kém may mắn đón vận đỏ về khi năm mới đến. Đặc biệt nhà nào mà có rể mới thì pháo nổ nhiều phải biết.  Giao thừa đã qua lâu rồi, mà nghĩ đến việc ngày mai được mặc áo đẹp, chị em tôi không thể nào ngủ nổi, cứ thao thức mong cho trời nhanh sáng. 

 Rồi ngày mới, năm mới cũng sang. Hôm nay không phải như mọi ngày, ngủ dậy không phải quét dọn, không phải làm các việc vặt trong nhà như mọi khi vì đã làm trước từ hôm qua và cũng không phải đi học, chỉ việc thay quần áo mới rồi chơi, tết đúng là thích thật vậy mà người lớn cứ không thích tết lạ nhỉ.     

Mẹ đã sắp xếp các phần quà để làm lễ chúc tết cho ông bà nội ngoại và các bậc cao niên hai bên sẵn sàng. Nhưng mẹ dặn mình đi muộn tí để cho mọi nhà có người xông đất trước đã và rồi cũng đến giờ chúng tôi được tung tăng ra khỏi nhà đi chúc tết, phải nói là niềm vui không kể xiết khi đến ông bà và các cô các bác chúc tết được nhận lì xì khi thì cái kẹo khi thì đồng tiền rồi về mấy đứa lại đem ra khoe với nhau…. 

Mọi chuyện về ngày tết thuở còn thơ của chúng tôi cũng như vừa mới đây thôi vậy mà thoắt cái bây giờ đã mấy mươi năm rồi, mỗi mùa tết đến cũng vẫn rất bận rộn vừa việc mùa vụ vừa việc tết núc. Mặc dù thời đại bây giờ đã khác xưa nhiều rồi, cày bừa thì đã có máy lo, lương thực thực phẩm không còn túng thiếu như ngày xưa nữa, thịt cá hằng ngày cũng được ăn thưởng xuyên … . Nhưng mà sao tôi vẫn có cảm giác nhớ hương vị tết của ngày xưa nhiều đến thế, để mỗi khi nghĩ lại thấy vui vui nhưng cũng có một nỗi buồn man mác như đang mất mát hay thiếu đi một thứ gì đó. 

30/12/2022

Nguyễn Thủy

<thuymnmt12@gmail.com>

Nguyễn Thị Thuỷ

Mỹ Thành, Yên Thành, Nghệ an.

READ MORE - HƯƠNG VỊ TẾT XƯA - Tuỳ bút - Nguyễn Thuỷ

Thursday, January 19, 2023

LƯU BỊ TAM CỐ THẢO LƯ – Tạp ghi và phiếm luận của Chu Vương Miện



Theo như lời dặn dò cuả Từ Thứ Đan Phúc lúc từ biệt ra đi và lời khuyên bảo của Tư Mã Thuỷ Kính tiên sinh, Lưu Dự Châu cùng hai em kết nghiã là Quan Vân Trường và Trương Dục Đức ba người, ba ngựa lên đồi Long Trung để cầu Khổng Minh Gia cát Lượng. Trời muà đông, gió thổi như cắt thịt, tuyết bay lả tả trên vòm trời như những chiếc lông ngỗng, mây xám xịt. Ba vị Lưu Quan Trương hỏi thăm nhà. Tới nơi thì trước sau cửa đóng then cài, ngay cái quả nắm mở cửa thì treo một miếng bìa cứng đề vỏn vẹn hai chữ “đi vắng”. 

Ba anh em tự động rút lui, đi khoảng trăm trượng đến một góc đồi, thì thấy một tiên sinh, phong thái phiêu hốt từ từ trong đó đi ra. Lưu Bị bèn xuống ngưạ vái dài chào:
- Tiên sinh có phải là Khổng Minh Gia Cát Lượng?
- Tại hạ là bạn cuả Khổng Minh, tên là Thôi Châu Bình người ở vùng Bắc Lăng cũng gần đây thôi. Sứ quân có lẽ kiếm Gia Cát huynh vì công vụ?
 
Hai người bèn ngồi xuống tảng đá gần đó nói chuyện, còn Quan và Trương thì đứng hầu đằng sau. Lưu Huyền Đức nói:
- Lưu Mỗ là hậu duệ cuả Trung Sơn Tĩnh Vương nhà Đại Hán, hoàn cảnh đất nước bây giờ đại loạn, nay đến cầu kiến tiên sinh Khổng Minh về giúp dật.
 
Thì Thôi Châu Bình phân tích như sau:
 
- Nhân tình thế thái và các triều đại tuy không phải là toán học, cơ học, nhưng vô hình chung là có một định luật. Nước có khi mạnh khi ròng, ngườii có lúc già lúc trẻ, triều đại có khi thịnh khi suy nhưng tương đối có thời gian. Nhà Tây Hán cuả Lưu Bang cường thịnh được 200 năm thì suy vi. Vương Mãng làm loạn cướp ngôi, là từ bình tới loạn. Sau đó thì Hán Quang Vũ dẹp Vương Mãng lập lên nhà Đông Hán, từ loạn tơí trị. Nhà Đông Hán kéo dài tới nay gần 200 năm, bây giờ bắt đầu suy vi, lại là từ trị tới loạn, từ đó tới giờ mới khoảng 5 năm. Thời gian quá ngắn để chuyển từ Loạn qua Trị, dù tài cán đến mức nào đi chăng nưã cũng không thể  xoay chuyển càn khôn mau chóng lại cho được kể cả Khổng Minh Gia Cát Lượng?
- Vậy kính mong tiên sinh về Tân Dã giúp cho kẻ hèn này một tay một chân?
- Ta ấy à? Ta chỉ là một gã hủ nho xó núi, toàn nói phét nói lác cho nó đã cái miệng thôi! Không làm được trò trống gì đâu? Vậy không nên làm mất thì giờ quí báu cuả sứ quân. Theo tại hạ thì khoảng nửa tháng nữa thì Gia Cát Khổng Minh mới về.
 
Đoạn chia tay, Trương Phi bàn thêm:
- Gia Cát thì không gặp, lại gặp cái thằng lẻo mép, nói ba lăng nhăng, bốn lăng nhăng chả ra làm sao?
 
Lưu Bị chặn họng:
- Nói được như lão cũng không phải là ai cũng có trình độ nói ba lăng nhăng được như vậy đâu?
 

Nghỉ ngơi một tuần, ba ngươì lại đi nữa, mưa tuyết lai rai, trời lạnh kinh khủng. Ba ngườì đi bộ, gần đến chân đồi thì ghé vào quán rượu làm vài ly xay chừng cho đỡ lạnh. Vào thì gặp hai tiên sinh, hình dung tiêu sái, đang ngồi ngâm thơ và cùng cười toáng cả lên với nhau. 

Lưu Bị xá một cái và hỏi:
- Trong hai vị có vị nào là Khổng Minh Gia Cát Lượng chăng?
 
Hai vị tiên sinh mời ba anh em Lưu, Quan, Trương ngồi an vị đâu đó và nói rằng:
- Tại hạ là Thạch Quảng Nguyên người Dĩnh Châu, còn đây là Mạnh Công Uy, người Nhữ Nam cũng đều là bạn thâm giao với Gia Cát Khổng Minh cả. Lúc nẫy chúng tôi có tới nhà cuả Khổng huynh, nhưng tiên sinh đi xa chưa về, mà trời lạnh quá, đành vào quán kiếm chén. Không ngờ lại gặp sứ quân tới đây,  âu cũng là vạn hạnh cho anh  em chúng tôi.
- Nếu hai tiên sinh nhàn nhã ở không thì về thành Tân Dã dậy bảo cho Bị này (ổn định thiên hạ) thì quí lắm.
 
Hai tiên sinh cùng loạt đứng dậy xá dài:
- Bọn lão phu là thứ quê mùa, làm sao mà giúp sứ quân làm việc lớn thiên hạ được. Chắc chỉ có Khổng Minh giúp được mà thôi. Xin sứ quân đừng nói thêm phí lời.
 
Nói xong hai tiên sinh biến mất. Lưu, Quan, Trương lại nhắm nhà cuả Khổng Minh mà tiến tới, gặp ngay một người. Người này lại là Gia Cát Quân em út cuả Khổng Minh. Lưu Bị mượn giấy bút viết đôi giòng và lấy hẹn một ngày đẹp trời sẽ trở lại. Vừa đi được một thôi đường, thì thấy một lão tiên sinh đầu đội mũ len, choàng áo lông cừu, cưỡi trên lưng lừa đi tới. 

Lưu Bị chắp tay xá và nói:
- Chắc tiên sinh là Khổng Minh ? Ông già vội vàng xuống lừa, chắp tay xá lại, thì ngay lúc đó Gia cát Quân đứng đằng sau la lớn lên rằng:
- Đây là Hoàng Thừa Ngạn, nhạc trượng cuả anh tôi Khổng Minh đó.
 
*

Khổng Minh trải tấm bản đồ bằng giấy bồi Trung Quốc ra bàn rồi lấy tay chỉ:
- Cái thế chia ba chân vạc tuy có hé mở ra, nhưng phải thiệt là chân mệnh thiên tử mớí tranh lại được thiên cơ này. Tào Tháo tuy là gian hùng, tham công tham việc, nhưng cũng là một thứ đại anh hùng hào kiệt, ổn định lại triều cương, vẫn tôn phù Hán thất, cai quản 6 phần đất nước thịnh vượng trù phú giầu có. 

Phiá Tây Lương cuả Mã Đằng, Hàn Toại một phần tự trị. Còn lại hiện giờ thì còn ba phần, Tôn Quyền ổn định 1 phần ½ là từ Hồ Nam và một nửa Kinh Châu. 

Phần tướng quân là ½ Kinh Châu và trọn Ích Châu “Tứ xuyên”?
- Đó là mơ hay thực, quân số cuả Bị hiện giờ ở Tân Dã chỉ có trên dưới ba ngàn, tiên sinh nói làm Dự Châu này hoang mang lắm!
- Cái chuyện làm chủ một phần đất nước thì không lấy gì làm khó. 

Ngày xưa Lưu Bang Hán Cao Tổ vào sinh ra tử cũng chỉ được Tây Sở bá vương Hạng Vũ phong cho đất khỉ ho cò gáy này mà thôi, và cũng chỉ nhậm tước Hán Vương là cùng. Đêm đêm Khổng mỗ nhìn thiên văn trên giải Ngân Hà mà thở dài thườn thượt, nhân tài hàng hàng lớp lớp, lấy xe bắt chó hốt đi không hết. Tào Tháo cả triệu quân, tướng tá cả văn lẫn võ cả ngàn. Phiá Đông Ngô dựa vào điạ thế sông Trường Giang, bên kia Hồ Bắc là Hồ Nam, sau lưng là vùng Lưỡng Quảng.Tào Tháo chả đánh chác làm đựợc gì. Chỉ có mỗi tướng quân là vất vả, chưa có đất cắm dùi.

- Theo như tiên sinh Tư Mã Thuỷ Kính nói, phần đất Tân Dã Nam Tương Dương này nhân tài hào kiệt nhiều nhiều lắm lắm, sao tiên sinh không mời họ giúp cho đại sự chúng ta một tay?

- Họ là bạn thân cuả Khổng mỗ cả. Họ đều có tài vương tá, làm thứ sử, quận thú đều đựợc cả. Nhưng hiện giờ thì cái tài đó chưa dùng đến được, vì chúng ta có mảnh đất cắm dùi nào đâu? Thời này là thời loạn, những nhân vật đó chưa phải nhân tuyển phù hợp nên Tào Tháo có biết đến có nghe danh, nhưng cũng để cho tất cả lêu lổng cà lơ phất phơ chơi, chả mời thiên tài nào cả.

- Vậy theo tiên sinh thì trong cái đám đại thiên tài vĩ đại ấy, có ai tiếp tay với chúng ta đựợc chăng?
- Được một người nưã là Bàng sĩ Nguyên tức Bàng Thống Phượng Sồ.
- Theo như Tư Mã tiên sinh Thuỷ Kính nói thì được một trong hai người Ngọa Long, Phượng Sồ thì sẽ đựợc cả thiên hạ. Mà nay được một lúc cả hai mà chỉ có 1 ½ đất nước mà thôi sao?

- Đó là lời cuả Thuỷ Kính tiên sinh, chứ đâu phải lời cuả thiên hạ, với nữa phước phận tổ tiên hiện tại cuả sứ quân chỉ có chừng đó, mai sau trời đất nhìn lại thì chưa biết sẽ vinh hiển như thế nào?
 
Nói xong, vào nhà trong dặn dò phu nhân và chú em Gia Cát Quân, rồi thu dọn quần áo khăn gói quả mướp đi theo sứ quân Lưu Huyền Đức về thành Tân Dã .
 
chuvươngmiện

READ MORE - LƯU BỊ TAM CỐ THẢO LƯ – Tạp ghi và phiếm luận của Chu Vương Miện

NGƯỜI YÊU DẤU MANG TÊN MỘT LOÀI HOA - Nhạc Phạm Anh Dũng - lời Vĩnh Phúc - Ngọc Quy hát, - Quang Đạt hòa âm


Nhạc buồn gợi nhớ tên em một loài hoa
Loài hoa thanh khiết anh yêu không phai nhòa
Ngày nào gặp gỡ, đôi ta đi chung lối
Phút ấy đã qua rồi, tìm em trong giấc mơ thôi

Yêu nhau trong thuở ban đầu
lòng anh khắc sâu
kỷ niệm xưa yêu dấu

Quỳnh ơi!
trên đường muôn lối
bóng em xa vời
anh nâng niu trọn đời

Gọi người em gái mang tên một loài hoa
Loài hoa thanh khiết anh yêu không phai nhòa
Giờ này em có hay chăng anh thương nhớ
Có biết anh đang gọi tên người yêu dấu, Quỳnh ơi!   


phamanhdung1@gmail.com
READ MORE - NGƯỜI YÊU DẤU MANG TÊN MỘT LOÀI HOA - Nhạc Phạm Anh Dũng - lời Vĩnh Phúc - Ngọc Quy hát, - Quang Đạt hòa âm

ĐÊM GIAO THỪA – Thơ Nguyên Lạc





ĐÊM GIAO THỪA
 
Có được gì đời lưu vong đất khách?
Ngoài vết thương sâu kín giấu trong lòng
Năm mới về nhức nhối lắm biết không?
Bao năm nữa? Quê hương bao năm nữa!
 
Bông tuyết trắng rơi rơi ngoài song cửa
Đêm giao thừa gió luồn lạnh qua khe
Rượu lữ thứ tay nâng mừng năm mới
Sao đắng môi? Lại lỗi hẹn câu thề!
 
Đã bao năm kể từ ngày dâu bể
Người xa người bỏ lại mảnh tình quê
Đời luân lạc đêm ba mươi nâng chén
Ta chúc ta sao lòng bỗng não nề!
 
Đêm đất khách giao thừa trời tuyết lệ!
Nhớ nắng xưa hồng thắm Tết quê nhà
Cố nhân ơi! Đón xuân nơi xứ lạ
Người phương nào? Lệ tuyết trắng thiết thê!
 
Dòng đời đó biết khi nao quay lại?
Cố hương ơi! Chờ ta nhé... ngày về!
 
                                   Nguyên Lạc
 
READ MORE - ĐÊM GIAO THỪA – Thơ Nguyên Lạc

ĐẦU NĂM ĐI LỄ -Thơ: Quách Như Nguyệt - Nhạc: Angel Mai Phạm - Ca sĩ: Huỳnh Lợi -Hát bè: Hợp Ca Nắng Mới



Đầu năm đi lễ

Nắng ấm mây xanh

Chim vui chuyền cành

Vỗ cánh bay nhanh             

 

Sáng nay đi chùa

Nghe thầy giảng pháp

Giảng về từ bi

Chợt thấy nhu mì

 

Bài pháp thật hay

Từ bi hỷ xã

Xin người thứ tha

Tội  lỗi con đầy

 

Đầu năm dâng hương

Kính cẩn cúng dường

Nguyện chẳng sát sanh

Tránh dữ làm lành

 

Đầu năm đi chùa

Sao thấy thanh tao /Tránh chốn lao xao  

Phật ngồi  trên cao

Phật quá nhân từ  

 

Đầu năm lễ chùa

Nhàn nhã thảnh thơi

Cuộc đời rong chơi

Chả tội gì buồn               

 

Sáng nay đi chùa

Hớn hở vui tươi

Phật ở trên cao

Nhìn xuống mĩm cười 

Như Nguyệt

 
nhunguyet9963@gmail.com
READ MORE - ĐẦU NĂM ĐI LỄ -Thơ: Quách Như Nguyệt - Nhạc: Angel Mai Phạm - Ca sĩ: Huỳnh Lợi -Hát bè: Hợp Ca Nắng Mới

LỤC XUẤT KỲ SƠN, NGỤY DIÊN –Tạp ghi và phiếm luận của Chu Vương Miện



Tư Mã Ý là nguyên soái cuả quân Tào Ngụy, đón sứ giả của Thục quốc rất là trọng thể. Sứ giả đưa thư và một gói đồ của Gia cát Khổng Minh. Trọng Đạt mở thư và đồ ra coi. Thư thì có ý coi thường không dám xuất quân nghinh chiến, còn đồ là một bộ quần áo đàn bà và các vật gia dụng guốc dép son phấn. Tư Mã Ý khen ngợi thừa tướng Khổng Minh không hết lời rồi nói với sứ giả:

- Ba cha con cuả Tư Mã Ý này, mà Gia Cát thừa tướng chỉ ban cho có một bộ quần áo, thì ai mặc ai đừng? Kỳ sau tôn sứ có qua, xin cho thêm hai bộ đồ mới nữa.
 
Nói rồi kêu người ra đo thước tấc cho Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu, giao tận tay và dặn sứ giả:

- Thừa tướng mang quân đi đánh quân Nguỵ Tào là quyền cuả thừa tướng. Còn trấn giữ ở Kỳ Sơn cửa ngõ cuả Hán Trung là trách nhiệm cuả ta. Vậy vần đề đánh hay giữ là quyền cuả người làm tướng, giữ làm sao mà không mất thành cũng là tạm được rồi.
Sứ giả nhà Thục Hán kiếu từ ra về, tuần sau lại qua ngay, mang theo hai bộ đồ đàn bà cùng son phấn giầy dép nữa. Hai bộ sau này lòe loạt hoa hòe hoa sói hơn bộ trước  nhiều. Tư Mã Ý mở tiệc khoản đãi, trong tiệc Tư Mã Ý hỏi sứ giả:

- Chắc thừa tướng Gia Cát Lượng làm việc mệt nhọc lắm?
 
Sứ giả trình bày:

- Nhập gia tuỳ tục, nhập giang tuỳ khúc. Thực ra kẻ hèn này cũng có theo đòi nghiên bút, nhưng thực ra làm quan cho nhà Thục Hán trên hai mươi năm nay. Tại hạ cũng chả hiểu ất giáp gì cả, nước thì chia ra làm hai phần, đại thừa tướng ngoại vụ là Vũ Hương Hầu Khổng Minh Gia Cát Lượng lo việc đánh dẹp, bình định. Còn Phó thừa tướng nội vụ là Vú Anh Hầu Triệu Tử Long, kiêm nhiệm Cửu Môn đề đốc và Ngự Lâm Quân. 

- Nhiệm vụ cuả đại thừa tướng thì Ý này tạm hiểu, nhưng nhiệm vụ cuả phó thừa tướng thì Ý này đành khoanh tay mà chịu thôi!

- Trước đây trên hai mươi ba năm, Tôn phu nhân về Đông Ngô thăm nhà, thăm Ngô Quốc Thái, thăm huynh trưởng, dẫn theo tiểu chủ là Á Đẩu. Quân sư Khổng Minh, tướng Triệu Vân, tướng Trương Dục Đức dùng chiến thuyền đoạt tiểu chủ về. Từ đó tướng Triệu Vân được đặc trách chăm nuôi tiểu chủ. Sáng nào cũng vậy, tướng quân Triệu Tử Long đổ sữa lon con chim ra chai bằng thuỷ tinh, đổ nước sôi vào, lắc lắc lên mấy cái, rồi cho tiểu chủ Ả Đẩu uống. Uống xong màn sữa thì ăn qua chè lục tàu xá, ăn thêm chén chí mà phù rồi uống hồng trà. Có khi còn xi cho tiểu chủ đi đái nữa. Cứ nội vụ thì Vú Anh Hầu Triệu Tử Long lo. Đôi khi ngài đau hoặc nghỉ phép thường niên hoặc vì một công vụ đặc biệt nào đó, thì công việc cao quí thân thiết này lại đích thân đại thừa tướng Khổng Minh lo. Thành ra dù có gần ba mươi tuổi, thì Hậu Chuá Thục Hán cũng chỉ là “xô lộc cố” mà thôi. Ngoài uống sữa, ăn bánh màn thầu, dào cháo quẩy, uống thanh hồng trà, moị việc Hậu chúa giao khoán cho hai vị chánh và phó thừa tướng khanh gia lo liệu cả!

- Thế thì cũng tốt thôi?

 *
Phái đoàn Thục Hán ở chơi vài ngày ở quân doanh Tư Mã Ý nguyên soái. Ngày hôm sau thì Tư Mã Ý theo sứ giả qua trại của Khổng Minh diện kiến, Tư Mã Ý chỉ thị cho hai con trai như sau:
- Tư Mã Sư ở lại giúp cha giữ thành, còn Tư mã Chiêu lấy một nửa quân số nơi đây mang về giao cho Bộ Quốc Phòng ở Hứa Đô để lập thủ tục cho giải ngũ, vì cha thấy nhu cầu chiến trận Kỳ Sơn không còn cần thiết cho lắm.
Hôm sau thì cứ y như vậy mà thi hành. Đoàn quân cuả Tư Mã Chiêu đi khỏi. Tư Mã Ý bèn mặc nguyên con bộ quần áo bà ba đàn bà mà thừa tướng Khổng Minh ban cho, kèm theo guốc cao gót, bóp đầm, dù Tây nữa, y như Cô Thắm về làng vậy, cùng đi với sứ thần Thục Hán. Thừa Tướng Gia Cát cùng toàn bộ tướng lãnh trấn thủ Kỳ Sơn hiếu kỳ ra tận đàng xa đón rước. Thừa tướng ra lệnh cấp kỳ làm tiệc chiêu đãi. Rất tiếc trong buổi tiệc này không có mặt tướng Nguỵ Diên vì có việc quân ở xa. Trong quân doanh thì ngoài Gia Cát tiên sinh ra còn có trưởng sử Dương Nghi, Đại tướng Khương Bá Ước, Mã Đại…
 
Tư Mã Ý lên tiếng trước:

- Thưa niên trưởng thừa tưởng, tiểu đệ vốn là cháu goị Tư Mã Thuỷ Kinh là bác (giòng trên) còn phụ thân của tiểu đệ là Tư Mã Thuỷ Ngân giòng dưới, nhưng không cùng sinh sống ở vùng Nhã Nam Tương Dương này, thành ra nghe tiếng huynh và các danh nhân lẫy lừng vùng Tân Dã  như sét đánh bên tai, rất là ngưỡng mộ, cũng may là tiểu đệ mới đựợc Nguỵ Vương Tào Duệ cho về chăn gà cũng trên 10 niên rồi!

Khổng Minh Gia cát Lượng nói:

- Thôi, đường đất quá xa xôi, gặp nhau nơi này thì rất tốt. Vậy xin hỏi hiền đệ là tài cuả huynh chả thua thằng tây đen nào cả, mà hai mươi bẩy năm này muá may quay cuồng đủ thứ mà chả đựợc một cái tích sự gì cả nguyên nhân do đâu? do người? do trời?

- Trước đây 27 năm, Thôi Châu Bình đã trả lời Lưu Huyền Đức rồi. Tiểu đệ không lặp lại những câu nói đó làm gì cho mất thì giờ. Thì như huynh đã rõ “thiên thời, điạ lợi, nhân hoà” cái chuyện huynh thất bại là cái chuyện chung chung, sách vở mưu lược thì quanh quẩn cũng trong Tôn Ngô binh pháp mà kẻ thành người bại. Xin trình bày vài ý kiến thô thiển cuả tiểu đệ về trường hợp cuả huynh. Đây nói về điạ dư nhân văn vùng Vân Nam đi xuống là nước Lão Qua (Ai Lao). Dân tộc này có liên hệ gần xa với nước Thái Tạng, đời sống giản dị. Buổi sáng, gia đình nấu một chõ xôi, chia ra cho đủ mỗi người một gói. Đàn ông đàn bà ra rừng, ra ruộng, làm tà tà, trưa ăn xôi, uống nước, hút thuốc lào, nhìn trời nhìn đất, tối về nhà ngủ khỏe ru. Sau đó họ bị nước lớn chia họ ra làm hai nước, phát súng đạn cho họ rồi bảo họ “bắn nhau”. Họ đều mang vũ khí đạn dược ra “Cánh đồng Chum” quăng cả xuống đó. Đấy nói về vùng đất Vân Nam, đất này cho đến bây giờ thời Tam Quốc vẫn là vùng đất bỏ hoang, không ai làm chủ và chiếm hữu. Hiện sống rải rác trên vùng đất này có khoảng cả 100 dân tộc thiểu số, đa số là người Miêu và Bà Di, nhưng có rất nhiều loại thảo mộc cực độc và nhiều loại mãng xà cực độc. Dân chết dài dài, ngay cả Ngũ Độc Giáo chuyên trị về độc mà đôi khi chết gần hết cả giáo phái. Ngay đất Tứ Xuyên tức Ba Thục ngày nay là vùng đất khỉ ho cò gáy, ngày xưa nhà Hạ nhà Thương, nhà Chu chỉ dùng làm chỗ đầy aỉ tù nhân. Vùng đất ngang dọc cả 2 ngàn dặm thời tiết khắc nghiệt, đường xá khó khăn, phải dùng tới 300 dặm sạn đạo. Dân cư nghèo khó vất vả nhất là tính hiền hoà “lại không ưa đánh nhau?” Làm sao mà huynh trưởng mang sở trường và sở đoản sở học ra mà thi thố nơi chốn này cho được. Nói tóm lại, nói nôm na như vầy cho nó rõ nghĩa:

- Dân Phi Châu, bình thường tóc đã quăn tít thò lò, thì bất cứ ai có nghề “cúp tóc” sang bên đó hành nghề thì cũng đành bó tay! Cũng như dận Ả Rập, toàn quấn vải trên người hoặc xà rông... thì cái nghề may sang đó cũng đành chiụ! Tài cuả huynh thì chả thua ai, hơn xa cả Khương Thượng Tử Nha, ăn đứt cả Trương Tử Phòng! Nhưng nhân hoà thì chỉ như thế đó. Làm sao mà vận động lên được? Với nưã theo di mệnh cuả TàoTháo và Tào Duệ luôn luôn để yên mặt phiá Tây (tức Ích Châu) cho giòng dõi Lưu Bị làm đất cắm dùi. Chẳng qua cũng vì nể mặt huynh, bao giờ huynh kéo quân ra Kỳ sơn, thì quân Bắc Ngụy mang quân ra chặn, chứ tuyệt đối không dám đánh lại, đánh giữ chừng vài tháng quân Ba Thục hết lương thực thì tự động  rút lui. Với nữa, cuộc chiến Tam Quốc là cuộc chiến “nhuận vận” câu giờ để chuyển qua chế độ khác!
 
*
Theo đúng bài bản, kịch bản đã học thuộc lòng thì ngôi sao bản mệnh cuả Khổng Minh Gia Cát Lượng khi mờ khi tỏ, nhưng ánh sáng yếu lắm, sau đó thì rụng xuống cái đạch. Gia Cát ngỏm ngay ở đồi Ngũ Trượng Nguyên, thuộc điạ phận Kỳ Sơn thọ 54 tuổi. Xác thật thì được Khương Duy và Dương Nghi bỏ vào trong một cái quan tài bằng gỗ, hộ tống mang cấp kỳ về kinh đô Ba Thục để làm ma chay. Còn Nguỵ Diên thì mang pho tượng gỗ cuả Khổng Minh để trên cái xe bốn bánh thường nhật đẩy ra trận. Cha con Tư Mã Ý, Tư Mã Sư mặc quần áo liền bà, mang dép nhật, ngồi trên lưng ngưạ thấy vậy bèn nhẩy phăng xuống đất, nhìn pho tượng gỗ Khổng Minh rồi quì xuống lậy mỗi người bốn lạy. Lạy xong lên ngựa ngoắc tay ra hiệu cho quân Tào Ngụy tháo rút lui tức thì...
 
chuvươngmiện

READ MORE - LỤC XUẤT KỲ SƠN, NGỤY DIÊN –Tạp ghi và phiếm luận của Chu Vương Miện

VẼ XUÂN – Thơ Trần Mai Ngân


 
 

VẼ XUÂN
 
Ai vẽ mùa Xuân trong mắt em
Để hương thêm ngát, ngày thêm ngoan
Để tôi quay gót đường lữ thứ
Về lại quê nhà Xuân ấm êm
 
Ai vẽ Xuân hồng trên môi xinh
Nụ cười hoa nắng tỏa lung linh
Để tôi mê mãi lòng bất tận
Yêu đến mây trời như ngưng trôi...
 
Tôi vẽ mùa Xuân còn xa xôi
Cho gần thêm chặt gắn đôi môi
Ngậm lấy cả Xuân và mật ngọt
Xuân gần... ở mãi lại bên tôi...
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - VẼ XUÂN – Thơ Trần Mai Ngân

ĐÔI MẮT MÙA XUÂN – Thơ Đan Thụy




 
ĐÔI MẮT MÙA XUÂN
 
Em yêu núi Bà Đen*
Tinh mơ mờ mây phủ
Hoàng hôn sương huyền ảo
Quyện hương trầm, chuông ngân
 
Quê em ở Tây Ninh
Miền Đông không có biển
Chỉ có núi và sông
Cảnh đẹp như trong tranh
 
Rừng cao su bạt ngàn
Dâng cho đời nhựa trắng
Bàn tay em nho nhỏ
Ôm giấc mơ rất đầy
 
Gió sớm vương hương chanh
Lung linh từng sợi tóc
Yêu mình nhé bé ơi!
Thanh xuân chẳng hai lần
 
Em níu xanh tim tôi
Dấu vào trong đôi mắt
Câu thơ tình góp nhặt
Chẳng bao giờ nhạt phai
 
Nắng mùa xuân như hát
Reo trên tầng lá xanh
Đôi mắt huyền long lanh
Chứa nồng nàn nắng quái
 
Khoảng trời xanh như lá
Vương vương nỗi nhớ người
Ước mình thành hạt nắng
Cho ngày…
đời thênh thang…

P/S: Núi Bà Đen* có độ cao 986 mét, là ngọn núi cao nhất Nam Bộ.
 
                        Đan Thụy

*
Bút danh: Đan Thụy      
Tên thật: Đàm Thị Hải

READ MORE - ĐÔI MẮT MÙA XUÂN – Thơ Đan Thụy