
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Sunday, February 20, 2011
TÔN THẤT BÌNH - HÒ ĐỐI ĐÁP NAM NỮ BÌNH TRỊ THIÊN

Saturday, February 19, 2011
LỆ NHƯ - ĐIỆU HÒ BÊN DÒNG THẠCH HÃN

Đường vào làng Như Lệ
Friday, February 18, 2011
TRẦN HOÀNG TIẾN - HÒ SÔNG NƯỚC BẮC TRUNG BỘ

Theo hệ thống phân vùng địa lí Việt Nam, Bắc Trung Bộ là khu vực chuyển tiếp giữa Bắc Bộ và Trung Bộ, gồm 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế. Lịch sử cho thấy cư dân nơi đây có nguồn gốc chủ yếu là người Thanh Nghệ thiên di vào Bình Trị Thiên từ thời Lý Trần, do đó có thể nói rằng mối quan hệ của người Việt nơi đây liên quan, gắn bó với các sinh hoạt văn hoá dân gian nói chung.
Lối sống quần tụ dọc theo nguồn nước tạo nên nhiều làng xóm liên hoàn rất thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp. Hệ thống sông ngòi cùng chi lưu chảy theo trục từ phía tây Trường Sơn đổ ra biển Đông tạo nên mạng lưới tưới tiêu, đưa phù sa bồi đắp các tiểu vùng đồng bằng nhỏ, cuốn sách Quảng Bình qua các thời kì lịch sử trích dẫn từ Ô châu cận lục được Dương Văn An viết về Bình Trị Thiên như sau: “... sông hồ đầy nước, đi thuyền tiện lợi hơn đi bộ, đất quê màu mỡ, cấy lúa tốn ít sức người...". Môi trường tự nhiên đó đã tạo điều kiện cho nhiều loại hình dân ca phát triển, một trong số đó là thể hò sông nước.
Hò sông nước Bắc Trung Bộ là sản phẩm tinh thần, biểu hiện sự cố kết của cộng đồng người Việt. Những làn điệu hò lan toả trên một không gian rộng lớn. ở mỗi vùng lại có lối hò riêng biệt. Hò sông Mã xứ Thanh in đậm dấu ấn chèo, chống, vác, lái do năm trai đò điều khiển với năm chặng hò: rời bến, sắng đò ngược, vác thuyền (khi đò bị mắc cạn vào bãi cát giữa sông), xuôi dòng, cập bến, phản ánh chân thực cuộc sống của người dân gắn bó với dòng sông. Hàng trăm câu hò vẫn còn lưu giữ đến ngày nay tiêu biểu cho hình thức lao động chèo thuyền. Hò sông nước xứ Nghệ đầy ân tình, biểu lộ nội tâm như muốn gửi gắm tình cảm cá nhân vào trong lời ca, do đó trên những con thuyền chở khách sông Lam, sông La luôn có nhịp điệu chậm mang tính chất kể lể tạo ra sự hoà nhập cùng đồng cảm giữa người hò và người nghe. Sự hoà nhập, pha trộn các lối hát giữa hò, ví, giặm trong môi trường sông nước cho thấy âm điệu vùng này nhất quán, chịu tác động sâu sắc của hệ thống năm thanh điệu (không có thanh ngã). Quảng Bình nổi trội với tổ hợp sáu mái hò khoan Lệ Thuỷ đầy đủ mọi cung bậc tình cảm, sắc thái khi thể hiện, từ thăm hỏi, tìm hiểu lúc mở đầu cuộc hò đến nhịp điệu sôi nổi, cuốn hút của hò nện, hò lệ hố. Hò sông nước Trị Thiên nghe mượt mà sâu lắng, ý tứ lời ca được trau chuốt tỉ mỉ đến từng chi tiết làm lay động tất cả những ai đã từng nghe một lần. Điển hình nhất là những làn điệu của hò mái đẩy, mái ruỗi của những người làm nghề chở hàng, đánh bắt cá trên đầm phá mênh mông, nhưng nổi bật nhất vẫn là hò mái nhì, làn điệu hò gây xúc cảm sâu sắc, tạo ra diện mạo riêng biệt khó trộn lẫn, đồng thời đi vào ca Huế như một thành phần không thể thiếu.
Để đạt tới lối hát định hình (đường nét âm điệu, nhịp điệu hài hoà), hò sông nước Bắc Trung Bộ tiếp nhận cũng như chịu ảnh hưởng chi phối từ môi trường sản sinh ra nó từ thói quen đi thuyền của người Việt Bắc Trung Bộ. Khi lập xóm làng, các cư dân đã đem theo những làn điệu dân ca trong đó có hò sông nước vào đây. Có thể nhận định hò sông nước hình thành sớm hơn thời điểm Dương Văn An nhắc tới.
Trong quá trình đó, di chuyển trên sông nước là hiện tượng phổ biến, một hình ảnh sinh hoạt quen thuộc ở nhiều nơi. Khi mọi người gặp nhau, từ thuyền này tới thuyền kia tiếng hát hò mau chóng trở thành hình thức giao tiếp hằng ngày bởi đây là môi trường trao đổi, thăm hỏi đầy giao cảm cộng sinh. Những nghệ nhân hò dần nổi bật lên bởi lối ca đặc sắc hình thành một lớp người tài năng nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng âm điệu, nhịp điệu khi hò có một số điểm bị biến đổi bởi dấu âm và giọng, mặt khác trong dân gian không quy định rõ ràng bài bản, chặt chẽ khi thể hiện, người ta chỉ nhớ chuỗi âm đặc trưng nhất của từng làn điệu và tự tuỳ hứng sáng tạo theo thẩm âm cá nhân, điều này đem lại cho hò những biến thể không đồng nhất về cấu trúc. Vậy điều gì tạo ra điệu hò này khác biệt (hoặc có hơi hướng gần giống) điệu hò kia mặc dù khi hát câu đầu mọi người có thể nhớ ngay giai điệu? Điều này phụ thuộc vào âm điệu và nhịp điệu từng điệu hò. Lối hát dân gian Việt Nam nói chung dùng phương thức truyền miệng, do đó tam sao thất bản sai lạc so với nguyên gốc từ một điệu ban đầu rất phổ biến, gây không ít khó khăn khi xác định nơi phát sinh. Hò mái nhì là một ví dụ, nhiều ý kiến cho rằng hò mái nhì là điệu hò thoát thai từ dòng sông Hương dựa trên các yếu tố mà hò thể hiện gắn bó chặt chẽ với môi trường này, nhưng ở Quảng Trị hò mái nhì là điệu hò cạn nổi tiếng được người dân yêu thích do tính chất dàn trải tự sự, trao đổi tâm tình. Lịch sử cho thấy thế kỉ XVI chúa Nguyễn lập dinh thự, thu hút nhân tài phía bắc vào sinh cơ lập nghiệp nơi đây trước và hát hò dân gian của người Việt tất nhiên được mang vào vùng đất này. Hò mái nhì Huế đặc sắc, nổi bật hơn hò mái nhì Quảng Trị. Tất nhiên không khó để nhận thấy hò mái nhì Quảng Trị và Huế là hai làn điệu giống về điệu thức, biến thể của nhau bằng âm điệu, nhịp điệu trong thể hiện. Tôn Thất Bình nhận xét: “... hò mái nhì trên sông nước Trị Thiên tuy chưa rõ nguồn gốc và thời điểm phát sinh, nhưng là tiêu biểu cho vùng đất này...”
Quảng Bình cũng có hò mái nhì nhưng qua tìm hiểu cho thấy đây là điệu hò trong hệ thống hò khoan Lệ Thuỷ có cấu tạo giai điệu khác Trị Thiên, gần như là họ hàng xa về âm điệu do đó chỉ thấy bóng dáng nhịp điệu để lại khi diễn xướng.
Từ điệu hò gốc bằng nhiều cách lan truyền trong không gian sinh hoạt theo vùng cư trú, thậm chí biệt lập với nhau bởi hai nơi không liền kề như hò đò đưa sông Mã chẳng hạn là biến thể làn điệu xe chỉ luồn kim của dân ca quan họ Bắc Ninh, hò làn văn xuất phát từ hát chầu văn. Điều này cho thấy âm nhạc dân gian lưu chuyển không có quy luật nhất định. Có thể đưa ra dẫn chứng về điều này: Đồng bằng sông Hồng, cái nôi sản sinh dân ca Việt Nam, tại đây một số điệu đò đưa theo thời gian mờ dần đi thì nơi khác lại phát triển mạnh mẽ, những điệu hò ở Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang... mất dần môi trường sử dụng, thay vào đó là hát giao duyên, hát thờ, tế lễ, xu hướng phát triển hội hát theo vùng. Ngược lại, ở Bắc Trung Bộ, hò được ưa chuộng và phát triển khắp nơi do môi trường tự nhiên lại đáp ứng yêu cầu làm tăng sự cố kết cộng đồng, gắn bó với nhau trong niềm cộng cảm bền chặt.
Những biến thể hò sông nước mỗi nơi đều tương hợp lối vận âm điệu, nhịp điệu, điệu thức... theo đặc điểm nổi trội tại vùng đó. Lệ Thuỷ, Quảng Bình mau chóng trở thành trung tâm diễn xướng hò thu hút mọi người tới nghe, thưởng thức. Các cuộc thi hò luôn tạo không khí sôi nổi hấp dẫn, từng làn điệu khi diễn xướng đều được nâng cao hơn về âm điệu, nhịp điệu, hoàn thiện lối hát, những biến thể cũ được bổ sung giai điệu, cấu tứ lời ca... và từ đây lan toả khắp mọi nơi, tái tạo lại theo cách hiểu, cảm nhận của mỗi người bằng nhiều hình thức khác nhau và hình thành các biến thể mới. Quá trình đó lặp đi lặp lại, mỗi điệu hò từ lúc ban đầu với âm điệu, nhịp điệu giản đơn hoặc có đường nét giai điệu đẹp dần dần biến đổi, lồng ghép thành nhóm hò đầy đủ cung bậc, giọng điệu, xu hướng nối dài liên làn điệu hò vẫn còn tiếp tục. Hò sông Mã trong quá trình phát triển, tiếp nhận nhiều làn điệu biến đổi dưới dạng tổ khúc hò. Mặt khác cùng với cuộc đi đò tới nhiều miền quê, bãi sông, bến chợ trên toàn bộ lưu vực đồng bằng sông Mã nên ta không thấy gì lạ khi thấy mọi người dân xứ Thanh đều hò được.
Như vậy, hò Bắc Trung Bộ là hiện tượng phổ biến qua phương thức truyền miệng dân gian. Sự điều chỉnh các làn điệu hò theo điều kiện sống tự nhiên vẫn đang tiếp tục. Điều này cũng tương tự như hiện tượng dị bản trong ca dao như bài Lí con sáo là một ví dụ, đến nay chúng ta đã sưu tầm được khoảng 11 biến thể làn điệu tại các vùng dân ca, khác nhau về kiểu hát như: lối ngân hơi, các nốt luyến láy, vị trí cao độ, âm vực hoặc điệu chuyển theo hơi bắc, hơi nam... rất điển hình cho âm nhạc dân gian. Lí con sáo Nam Bộ có cách hát cuốn hút, nhớ thương; ở Nam và Trung Trung Bộ lại mang tính chất đung đưa và đằm thắm; con sáo Huế bay bổng, uốn lượn; sáo quan họ trữ tình lưu luyến... Mỗi nơi âm điệu lí lại biến đổi theo điệu thức của vùng miền đó, điều này lí giải tại sao từ một làn điệu con sáo ban đầu đã sinh sôi nảy nở thành nhiều làn điệu đông đúc đủ màu sắc trong dân ca Việt Nam.
Tuy vậy biến thể làn điệu cần phân biệt những dạng khác nhau như dạng gần, dạng xa và thay hình dạng qua cấu trúc. Biến thể dạng gần tạo ra biến đổi đường nét giai điệu tại một số vị trí không phải là trục âm cơ bản, hoặc thêm vào đó tiếng đệm hơi, luyến láy. Hò mái nhì và hò mái đẩy Trị Thiên thuộc dạng gần, khi hát giai điệu hò mái đẩy vang lên âm điệu gốc của hò mái nhì, chỉ biến một chút phần mở đầu, cấu trúc âm nhạc giữ nguyên. Giữa hò mái nhì Huế và Quảng Trị là biến thể dạng xa vì đã thay đổi âm điệu, chỉ giữ trục âm cơ bản chính của điệu thức. Lối diễn xướng cùng môi trường sinh hoạt đã thay đổi hò mái nhì Huế với hò mái nhì Quảng Bình trong hệ thống hò khoan Lệ Thuỷ khác về hình dạng cấu trúc gồm hai biến thể gần như khác hoàn toàn, chỉ có âm hưởng nhịp điệu và tên gọi giống nhau.
Những căn cứ đã nêu ở trên cho thấy âm điệu, nhịp điệu có vai trò xác định biến thể hò sông nước lưu chuyển trong vùng không gian rộng lớn Bắc Trung Bộ. Mối liên hệ sử dụng nghệ thuật hò Nghệ Tĩnh với Bình Trị Thiên cho thấy giữa các vùng gần gũi về lối hát, phương thức diễn xướng... Dòng âm nhạc dân gian và cung đình cho dù làm chủ hơn một thế kỉ nhưng kiểu hát vẫn tạo cho người nghe mối giao cảm gắn bó về một thuở xa xưa. Nhiều thể ca định hình theo chuẩn mực thính phòng vừa tinh tế vừa nhuần nhuyễn (thành bài bản, luyện tập công phu) khác với Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh vẫn còn bảo lưu những âm điệu cổ, ít biến đổi.
Hò sông nước là hình thức sinh hoạt đặc sắc của cư dân Việt Bắc Trung Bộ, khởi đầu từ lao động, tiếng hò vang tạo nên niềm phấn khích, trở thành sợi dây gắn kết tất cả mọi người. Mỗi làn điệu đều có tên gọi đặc trưng cho từng hoạt động nhất định, ví dụ hò rời bến xuất hiện khi đò đón khách tại các bến dọc theo sông Mã, hò mái nhì do người ở vị trí tay chèo thứ hai trên thuyền hát lên, hoặc hò kéo thuyền, hò mái đẩy, mái ruỗi... tất cả đều mang nội dung cũng như âm hưởng riêng. Nhưng sức lan toả của mỗi điệu hò đi khắp nơi giúp hò sông nước bay đi rất xa, tới đâu cũng được người dân ghi nhớ, tái tạo cho phù hợp với hệ thống dân ca từng địa phương. Do đó những biến thể mới từ điệu gốc đã xuất hiện, lưu truyền rộng rãi tuỳ thuộc vào khả năng sáng tạo lúc sử dụng, cứ như vậy hò sông nước được người Việt Bắc Trung Bộ hoàn chỉnh theo thời gian tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ đối với những ai nghe hò và trực tiếp tham gia.
Trần Hoàng Tiến
nguồn:vae.org.vn
PHAN BÙI BẢO THY - DÒNG SÔNG CỦA NHỮNG CHUYỆN TÌNH

Sông Ô Lâu (còn có tên khác là sông Thu Rơi; sông Mỹ Chánh; sông Thác Ma) được bắt nguồn từ vùng núi Tây Trị Thiên hùng vỹ, rồi uốn lượn quanh co hiền hoà qua bao triền đồi bazan bỏng rát, âm trầm chảy qua các xã Hải Sơn, Hải Chánh, Hải Tân, Hải Hoà... thuộc huyện Hải Lăng nằm ở cực Nam của tỉnh Quảng Trị nơi tiếp giáp với các làng Mỹ Chánh, Mỹ Xuyên, Kế Môn, Đại Lược, Phước Tích... của tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Từ xa xưa cho tới tận bây giờ, người đời vẫn quen gọi dòng sông Ô Lâu bốn mùa nước trong văn vắt này là dòng sông của những chuyện tình riêng đau, nên con nước dẫu đã nghìn năm vẫn cứ mãi phân vân xuôi chảy về biển Đông một cách lặng buồn như nước mắt của những người con gái...
Là người Quảng Trị, nên từ những năm tháng còn cắp sách đến học chữ ở trường làng, đôi lần tôi đã được nghe những người lớn tuổi kể về dòng sông Ô Lâu. Dòng sông mà trong ký ức hiểu biết của tôi bao giờ cũng mềm mại đáng yêu như một bức tranh thủy mặc, hiền hòa lưu giữ những vàng son, quê kệch của làng xưa thăm thẳm đến vô cùng...
Thế rồi, cho đến chiều nay, một buổi chiều bình yên, gió xào xạc rung từng đợt buồn lên mặt sóng của dòng Ô Lâu xanh thẳm, tôi mới có dịp về đứng bên dòng sông này trong đoàn những người đi điền dã để khảo sát về những làng nghề xưa nằm dọc theo dòng sông Ô Lâu đẹp như nước mắt...
Đêm. Giữa một ngôi làng nhỏ bé nằm về phía tả ngạn của dòng Ô Lâu, chúng tôi được dịp nghe một vị cao niên của làng kể lại câu chuyện tình buồn thương của một cô gái chèo đò ngang bên dòng Ô Lâu xưa với một anh học trò nghèo xứ Nghệ.
Chuyện kể rằng, một ngày xưa lắm, có anh học trò nghèo ở đâu tận miệt Quỳnh Lưu xa lắc, trên đường vào ứng thí ở Kinh đô. Khi đi qua bến đò ngang trên dòng Ô Lâu thì phải lúc ốm đau, trong tay không còn một đồng chinh lộ phí. Thương cảm trước cảnh ngộ của một đấng nam nhi có chí sách đèn, cô gái chèo đò bên sông Ô Lâu năm ấy đã e ấp giúp chàng trai kia từ bữa cơm dưa cà cho qua đận đói, cho đến mấy đồng lộ phí giắt lưng để tiếp tục hành trình mải miết chờ ngày ứng thí ở chốn Kinh đô.
Đáp lại tấm lòng thơm thảo của cô gái bên sông, anh học trò nghèo xưa cũng bùi ngùi gửi lại biết bao lời thề non hẹn biển. Họ ước nguyện sau khoa thi năm ấy, chàng sẽ quay về bên bến đò xưa để tìm gặp lại người con gái yêu thương đã chiếm giữ trái tim mình. Thế nhưng, sau cái bận đưa khách sang sông ấy, người học trò nghèo xứ Nghệ cũng theo tháng theo năm mà biệt vô âm tín... Bên bến sông quê, với cây đa, bến nước, con đò, người con gái cứ mỏi mòn chống sào chờ đợi trong nỗi tuyệt vọng đớn đau. Rồi đến một ngày khi sức cùng lực tận, người con gái chèo đò bên bến Ô Lâu đành phải gửi lại nỗi chờ trông cùng cây đa, bến nước... mà xuôi tay về chốn cửu tuyền.
Oái oăm thay, khi trên nấm mồ của người con gái chèo đò bên bến sông kia cỏ chưa kịp xanh thêm, thì người học trò nghèo năm xưa nay công thành danh toại, võng lọng xênh xang tìm đường trở lại. Lặng yên đứng bên nấm mồ của người mình thương nhớ, chàng học trò nghèo năm xưa khóc thương cho đến cạn khô nước mắt. Rồi chàng khắc mấy vần thơ dang dở buồn đau đặt lên nấm mồ cô quạnh bên sông. Cũng từ đó, những câu thơ trên nấm mồ của người con gái bên dòng Ô Lâu được người đời nối tiếp nhau truyền tụng cho đến tận bây giờ:
" Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa, bến cũ con đò khác đưa
Con đò đã thác năm xưa
Cây đa, bến cũ còn lưa bóng người"
Ở làng Câu Nhi, huyện Hải Lăng (Quảng Trị) tôi còn được nghe kể một cách khá tường tận về câu chuyện tình của bà Nguyễn Thị Bích - vợ thứ hai của Hoàng đế Quang Trung. Bà Bích cũng là một người con gái được sinh ra ở ngôi làng nhỏ nằm ngay bên dòng sông Ô Lâu xanh mát. Một ngôi làng mà trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc đã sản sinh ra nhiều người con tài đức để phụng sự cho Tổ quốc như vị tiến sỹ đầu tiên trong làng quan lại phong kiến ở miền Trung - Bùi Dục Tài, Tướng công Nguyễn Chánh, Đô đốc Phúc Long Hầu, Tham tướng Hoàng Bộ, Tống sứ Phạm Duyến, nhị vị Thượng thư Nguyễn Tăng Doãn - Bùi Văn Tú, danh y Trần Mậu... thời hiện đại sau này thì có nhạc sỹ - cựu Bộ trưởng Bộ VHTT - Trần Hoàn, Thượng tướng - Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an - Nguyễn Khánh Toàn... với hơn 400 tiến sỹ, thạc sỹ và cử nhân hiện đang sinh sống và làm việc ở nhiều nơi trong và ngoài nước.
Theo sự chỉ dẫn của một người cao niên thuộc tộc Nguyễn trong làng, chúng tôi được tiếp xúc với hậu duệ của cụ Hồ Tranh - một con người rất am tường cổ sử. Ông Hồ Tranh là con trai của ông Hồ Tiểu Viện, một ông quan huấn đạo dưới triều vua Tự Đức. Ông Tranh từng kể cho con cháu nghe rằng: Cha ông thi đỗ tú tài năm 34 tuổi (1899), đến năm 41 tuổi (1906) thì thi đỗ cử nhân rồi được bổ làm quan huấn đạo tỉnh Bình Thuận. Hồi ông Tranh còn nhỏ, mỗi lần dạy học cho con, ông Viện thường kể cho con trai mình nghe về bà Nguyễn Thị Bích.
Theo hiểu biết của ông Hồ Tranh thì bà Bích là con thứ 16 của ông Nguyễn Cảnh - một ông quan danh tiếng dưới thời các Chúa Nguyễn. Bà Bích là một người con gái hiền thục, tài hoa, được ăn học tử tế. Khi lớn lên, bà theo cha vào làm quan ở Bình Định và cũng ở đó bà đã gặp rồi nên duyên cùng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Theo ông Tranh thì bà Bích dù là vợ thứ hai của Nguyễn Huệ nhưng lại trước công chúa Lê Ngọc Hân. Những năm tháng chung sống với người anh hùng này, bà Bích đã sinh hạ được một người con trai. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Nguyễn Huệ thường xuyên xông pha nơi trận tiền ác liệt, chứ chẳng mấy khi được an nhàn ngơi nghỉ ở chốn bình yên. Những lúc người anh hùng áo vải mải mê với vó ngựa trường chinh nơi biên thùy lửa khói, bà Bích vẫn một lòng một dạ ôm con chờ chồng nơi biên ải xa xăm. Nhưng, phận số của những người đàn bà nhan sắc thường rất đỗi đa đoan và cuộc đời của bà Bích cũng không là một ngoại lệ. Nguyễn Huệ không bỏ mình nơi chiến trường dưới làn tên mũi đạn của quân thù, mà ông đã chết khi chỉ mới vừa ngồi lên ngôi báu.
Tai họa lại ập xuống đầu bà từ sự truy lùng trả thù vô cùng dã man của triều đại Gia Long. Bà Bích vì thế mà đã phải cải dạng ăn mày, bồng con khăn gói trốn về quê nhà bên bến sông Ô Lâu để lánh nạn. Nhiều lần nghĩ quẩn, bà đã định bụng ôm con trầm mình xuống dòng sông đã tắm mát cho suốt tuổi thơ của bà để quyên sinh. Nhưng để bảo trọng giọt máu của hoàng đế Quang Trung nên nhiều cận thần Tây Sơn đã tìm cách đưa bà cùng con trai của mình trở lại Bình Định. Ở đó, bà đã sống những năm tháng cuối đời mình trong cảnh cơ hàn, ẩn dật cho đến khi nhắm mắt xuôi tay ở thôn Vĩnh An, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Còn có một câu chuyện tình bi thương khác nữa, cũng của một người con gái được sinh ra và lớn lên bên bến sông này, đó là câu chuyện tình của bà Dương Thị Ngọt. Bà Ngọt là con gái của ông Dương Quang Xứng, ông Xứng làm quan dưới triều nhà Nguyễn, ông từng được giữ chức viên ngoại lang ở Nha Thương trường. Năm 1885, sau cuộc chính biến ở Kinh đô Huế và tiếp đến là "kinh đô thất thủ". Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi ra căn cứ Tân Sở. Thống tướng De Coucey đày Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật và Tôn Thất Đính sang đảo Haiti, đồng thời sai ông De Champeaux lên Khiêm Lăng yết kiến đức Từ Dũ, xin lập ông Chánh Mông là Kiến Giang Quận Công lên làm vua lấy niên hiệu là Đồng Khánh.
Dưới thời Đồng Khánh, ông Xứng được thăng chức Lang Trung. Đến năm 1894, dưới thời vua Thành Thái, ông Xứng giữ chức Thái Bộ Tư khoanh rồi đến giữ chức Bố Chính tỉnh Khánh Hoà. Trên con đường hoạn lộ, dù làm gì, ở đâu ông Xứng cũng mang cô con gái rượu theo cùng, bà Ngọt càng lớn lên càng đẫy đà xinh đẹp. Vì vậy mà vua Thành Thái đã chọn bà để làm bà phi thứ 9. Sử sách kể lại rằng, bà Ngọt là một bà phi được vua Thành Thái hết mực thương yêu và sủng ái, vì vậy mà những bà phi khác trong cung hết sức ghen ghét với bà. Nhân một lần vua Thành Thái cắt tóc ngắn... vậy là các bà phi trong cung đã bày mưu tính kế để hại bà Ngọt, họ đã đánh lừa để cắt mất của bà Ngọt một nắm tóc, rồi tìm cách báo cho vua hay. Thấy vậy, vua Thành Thái gán cho bà mắc phải trọng tội khi quân nên đã xử chém bà. Thế nhưng, sau khi bà Ngọt chết, vua vẫn cho làm lễ mai táng bà hết sức chu đáo, đúng theo nghi lễ triều đình, xứng đáng với cái chết của một bà hoàng phi. Quan tài của bà được đưa xuống thuyền rồng rồi theo đường sông về bên bến Ô Lâu, với làng quê yêu dấu của bà ở thôn Hội Kỳ, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng (Quảng Trị).
Lăng mộ của bà được xây cất rất cẩn thận, trên bia mộ có khắc dòng chữ: "Hoàng triều cửu giai tài nhân thụy thục thuận Dương thị chi tẩm. Thành Thái thập tam niên bát nguyệt cát nhật tại". Sau khi xây cất lăng xong, vua còn cho 4 người từ phu túc trực trông coi lăng bà, cả 4 người này đều được nhà vua cấp phát ruộng đất và miễn tất cả các loại sưu thuế cho đến trọn đời. Tương truyền, sau cái chết oan uổng của bà Ngọt, vua Thành Thái vì thế mà muộn phiền nhiều hơn rồi ông giả điên để mưu đồ kháng Pháp. Nếu điều tương truyền ấy là sự thật, thì chắc bà Ngọt cũng sẽ mãi ngậm cười nơi chín suối vì cái chết của mình cũng hữu ích cho vận mệnh của quốc gia.
Xã Hải Sơn giáp với làng Hội Kỳ của bà Ngọt là quê hương của bà Trần Thị Dương, người đàn bà đã xin phép chồng để đội tang đi lấy đầu của hai nhà chí sỹ yêu nước Thái Phiên - Trần Cao Vân bị Pháp tử hình ở cống chém An Hoà (TP Huế) mang về chôn cất ở một ngọn núi gần chùa Từ Hiếu bây giờ.
Sông Ô Lâu vẫn thế, suốt bốn mùa con nước mãi xanh trong, ai đó bảo nước sông đẹp như nước mắt của những người con gái, phải chăng câu ví von ấy được phát xuất từ những cuộc tình bi thương, khắc khoải của những người con gái đã được sinh ra, được tắm mát và đã lớn lên trên bến sông này. Biết bao nhiêu cuộc đời lụa là gấm vóc rồi cũng trở về với vĩnh hằng cát bụi, chỉ còn lại với đời những câu chuyện tình yêu đớn đau, tiếc nuối khôn nguôi... Rồi con nước Ô Lâu vẫn sẽ cứ nghìn năm mải miết, cứ nghìn năm thì thầm vào ngàn khơi vô tận của tình yêu.
Phan Bùi Bảo Thi (CAND)
.
TRẦN BÌNH TUẤN - MAN MÁC ĐIỆU HÒ XỨ SỞ
BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ
CÂU HÒ QUẢNG TRỊ
HÒ SÔNG NƯỚC BẮC TRUNG BỘ - Trần Hoàng Tiến
ĐIỆU HÒ BÊN SÔNG THẠCH HÃN
HÒ ĐỐI ĐÁP NAM NỮ- Tôn Thất Bình
DÂN CA BÌNH TRỊ THIÊN NỬA SAU THẾ KỶ XX - Vĩnh Phúc
ĐIỆU TRỐNG QUÂN CỔ LÀNG ĐIẾU NGAO
TIENG QUANG TRI - Trần Hữu Thuần
TAI TRÍ NGƯỜI QUẢNG TRỊ QUA ĐỐI ĐÁP DÂN CA - Văn Quang
ĐAN HÀ - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ

Nếu có dịp đạp xe ngang qua những cánh đồng vào mùa cấy, mùa làm cỏ lúa, mùa gặt... , bạn sẽ nghe văng vẵng những điệu hò mái nhì êm ái. Vào buổi trưa hè, bạn sẽ nghe những điệu hò ru con dịu dàng từ những mái tranh nghèo hòa cùng tiễng võng kẻo kẹt. Nói không ngoa, Quảng trị là xứ sở của những điệu hò, nhờ đó, người Quảng trị quên đi cái mệt nhọc, cái nóng nực, cái khó nghèo để vẫn bám trụ nơi chôn nhau cắt rốn, với mồ mả cha ông. Người Quảng Trị dù bất cứ nơi đâu vẫn không quên những điệu hò quê hương.
"Người đi, mang dân ca tiếng hò miền Trung. Về miền Nam, cho nhau nghe những lời thở than..."
Tiếc thay, chưa có công trình nào sưu tập những điệu hò trên đất Quảng Trị để truyền lại cho thế hệ sau bởi vì tiếng hò dần dần sẽ không còn được nghe trên cánh đồng vào mùa vụ, thay vào đó là tiếng máy cày , máy cấy phành phạch khô khốc.
VNQT xin giới thiệu bài viết của một cây bút trẻ nặng tình với điệu hò quê hương, đồng thời, mời bạn đọc gởi những bài viết cùng đề tài.
TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA - ĐÊM ĐÔNG

Đêm đông
Lạnh
Cầm cập run
Ngoài kia gió bấc,
mưa phùn rơi rơi.
Lần tìm hơi ấm
người ơi!
Lòng nghe mặn chát,
tả tơi lệ nhòa.
Tuột rồi.
Choàng mớ chăn hoa
Ủ cùng
đắp đối
cho qua tháng ngày.
Xa rồi.
Đâu hỡi vòng tay?
Xa rồi.
Đâu nữa nồng say
rượu tình!
Bây giờ
cô lẻ một mình
Cầm lòng sao đặng
khi bình minh lên?
T.T.H.N
ĐÊM ĐÔNG - MỘT BÀI THƠ CẢM ĐỘNG
Lời bình: LÊ BÁ DUY
Trong bốn mùa Xuân- Hạ-Thu - Đông, mùa nào cũng là đề tài cho thi sĩ làm thơ giải bày tâm trạng. Nhiều thi sĩ viết về mùa Xuân với nhiều cung bậc tình cảm; nhiều nhà thơ viết về mùa hạ với nỗi nhớ mong cháy lòng và cũng nhiều tác giả viết về mùa Đông với khát vọng yêu thương ấm áp chân thành. Tôi đã đọc không ít thơ viết trong mùa Đông, nhưng khi vào trang "Đất Đứng" đọc đến bài "Đêm đông" của tác giả trẻ Trương Thị Hằng Nga, tôi thật cảm động, và những cảm xúc ấy dâng trào ra mà khó có những ngôn từ diễn tả cho hết được!
Đêm đông
Lạnh
Cầm cập run
Ngoài kia gió bấc,
mưa phùn rơi rơi ...
Hai câu thơ mở đầu với thể lục bát tách ra 5 dòng gợi trường liên tưởng thời tiết se lạnh của thiên nhiên thường gặp vào mùa đông giá buốt! Chủ thể tiếp nhận cái lạnh thiên nhiên thấm vào da thịt, cầm cập, run rẩy đối lập với tự nhiên bên ngoài "gió bấc" thổi và "mưa phùn rơi rơi". Cái hình ảnh này chúng ta bắt gặp trong đời thường của biết bao người, nhưng đi vào trong thơ Hằng Nga tự nhiên như dòng chảy nhẹ nhàng mang cái buốt giá đêm đông. Trong cái lạnh của thiên nhiên, lẽ thường con người ta tự tìm đến cái ấm để chống chọi với cái rét khắc nghiệt của thời tiết. Do vậy câu thứ 3 và 4 ra đời như một lẽ tự nhiên vốn có: "Lần tìm hơi ấm người ơi! Lòng nghe mặn chát, tả tơi lệ nhòa..." Tại sao "mặn chát"? Tại sao "tả tơi lệ nhòa"? Phải chăng cảnh cô đơn đến xót xa của người phụ nữ khát khao hơi ấm không tìm được trong cái lạnh. Ngay cả trong cái chăn ấm người tìm ấp ủ "cho qua tháng ngày" cũng "tuột" ra ngoài. Nhường cho những hoài niệm, những dòng tâm trạng tuôn trào như dòng sông chảy về biển cả tình yêu ngọt- đắng:
Xa rồi.
Đâu hỡi vòng tay?
Xa rồi.
Đâu nữa nồng say - rượu tình!
Tình cảm con người thật kỳ lạ! Những người đang sống bên nhau thì có thể chưa nhận ra hạnh phúc cạnh mình cứ mãi kiếm tìm nơi chân trời góc bể, những người xa nhau mới cảm thấy hết nỗi cách xa thương nhớ, để tình thương yêu dâng lên với khát khao ấm áp! Thèm cụng nhau chén "rượu tình" chếnh choáng men say trong vòng tay say đắm, trao nhau yêu thương nghìn năm vốn có. "Xa rồi. Đâu rồi hỡi vòng tay?" Hai câu trong một câu lục, nói lên hai điều: Trước hết là khẳng định "Xa rồi"- Nghĩa là tình yêu quá khứ đã không còn nữa hoặc có thể "chia xa" - Có lẽ trắc trở trong tình duyên, một sự trắc trở không ít của các cặp vợ chồng trong cuộc sống...Nhưng có thể khẳng định rằng nhân vật trữ tình trong bài thơ thật sự cô độc. Ý thứ hai trong câu này là một câu hỏi tu từ! "Vòng tay" "không còn" không phải hỏi mà khẳng định! Điệp ngữ "xa rồi" vừa nhấn mạnh vừa khẳng định kết quả cuộc chia tay, không phải tiếc nuối mà là xót xa, quặn thắt!
Ý thơ trải dài, lời thơ cô đọng, tình thơ mênh mang pha chút xót xa chua xót! Hai câu kết khiến người đọc không thể không "cầm lòng" cuốn hút theo tâm trạng tưởng chừng lơ lửng của người thơ: " Bây giờ cô lẻ một mình/ Cầm lòng sao đặng khi bình minh lên ?" Lại kết thúc bằng câu hỏi tu từ nhưng lần này khác với tâm trạng trước. Chính câu hỏi kết bài này giúp bài thơ nâng tầm tư tưởng, hướng niềm cô đơn khát khao cháy bỏng trở nên tích cực hơn, ấm áp hơn. "Khi bình minh lên" chính là lúc mặt trời xua đi giá lạnh, mang lại sự ấm áp cho vạn vật, có cả con người. Và hy vọng mặt trời anh cũng mang lại ấm áp cho tình yêu!
Bài thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, đằm thắm nhưng để lại trong lòng người đọc có nỗi buồn xa xót, có tin yêu về tương lai, có hạnh phúc đợi chờ, có bình minh ấm áp của cuộc sống! Với tôi, đây là một bài thơ hay đáng trân trọng!
10.01.2010
L.B.D
Thursday, February 17, 2011
MAI THANH TỊNH - VIẾT CHO NGÀY VALENTINE

Tặng: người tôi thương
Se se hơi lạnh muộn mùa
Vòng tay chưa khép bụi mưa rũ chiều
Valentine ngày tình yêu
Ta hôn lên gió thật nhiều gửi em
Cội mai mắc rét dưới thềm
Chơi vơi mấy nụ buồn lem sắc vàng
Hẹn ngày rộn gió vui trăng
Trao nhau môi ấm nồng nàn khát khao
Tìm trong hơi thở ngọt ngào
Hương tình chín rộ vườn nhau ngỡ ngàng
M.T.T
