Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, May 28, 2016

MỘT MÙA DÂU - Thơ Quang Tuyết





MỘT MÙA DÂU

Ôi! Mùa Dâu lại về. Mùa Dâu Da
Người ta chở tuổi thơ tôi đi qua 
Theo từng con đường lạ
Vòng xe quay tròn hối hả 
Mang cả hồn xưa theo những trái dâu vàng 
Bóng mẫy mịn màng
Chua ngọt hoà tan
Như mối tình xưa của thời chưa biết nhớ

Dưới gốc Dâu Da
Bỗng nghe hồn mở ngõ
Hái chùm dâu xinh bỏ vào ngăn vở chia đôi
Tay chạm tay rồi
Cho má đỏ cong môi
Mắt nguýt chua ngoa, ửng màu mắc cở
Anh xuýt xoa
Ừ! Anh đã lỡ
Đền cho em
Nguyên một gốc dâu da

Nay Mùa Dâu lại về
Tình đã rất xa
Hai đứa chia tay khi quê vào chinh chiến
Cũng mùa dâu
Chuyến tàu đêm đưa tiễn
Sân ga lặng buồn 
Anh bỗng hoá xa xôi

Chỉ một lần thôi
Nếm vội đôi môi
Chỉ một lần - chua ngọt vị dâu tươi
Mà đau thắt mỗi mùa dâu đến...
Bởi chuyến tàu duyên không đưa người về bến
Mặn đắng nụ hôn đầu - thao thiết một mùa dâu

                                              Quang Tuyết
                                                    2016

READ MORE - MỘT MÙA DÂU - Thơ Quang Tuyết

HƯƠNG TRẦM - Thơ Trần Mai Ngân






HƯƠNG TRẦM

Nguyện hương trầm sám hối
Tội bi lụy trần gian 
Cứ lầm ngỡ thiên đàng
Tôi một đời lạc lối...

Phật Chúa nào trên ngôi
Xin vì tôi cứu rỗi
Trái tim lỡ nguyện thề
Nhớ người cả trăm năm...

Dẫu biết là xa xăm
Muôn đời không đoạn kết
Tôi gọi người ăn năn
Đọc lời tôi xưng tội !

Hương trầm ơi... bay vội
Thoang thoảng tình xa đâu
Sao xam xám một màu
Như câu kinh đã bạc...

Nguyện hương trầm sám hối
Tội bi lụy trần gian !


                Trần Mai Ngân

READ MORE - HƯƠNG TRẦM - Thơ Trần Mai Ngân

HAI CÂU THƠ VẪN LÀ CỦA XUÂN DIỆU - Chử Văn Long


         
          Nhà thơ Chử Văn Long



               HAI CÂU THƠ VẪN LÀ CỦA XUÂN DIỆU

Không thể tin bài viết của Trần Đăng Khoa “Về hai câu thơ của Xuân Diệu”(1):
Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung
là của Huy Cận!
Dù bài viết đã được dàn dựng, che chắn, sắp xếp lớp lang như một vở diễn, vẫn để lại những sơ hở, mâu thuẫn rất dễ nhận ra cái tâm không thực ở người viết: Mở đầu, Trần Đăng Khoa vừa nhận Xuân Diệu là thầy dạy nghề của mình với lòng trân trọng và ngưỡng mộ sâu sắc, vừa đem hai câu thơ trên ca ngợi hết lời… kéo cả Lý Bạch, Đỗ Phủ, R.Tagor, Nguyễn Du, A.Pushkin, Walt Witman… vào so sánh, nếu mỗi thi sĩ chỉ được chọn ra hai câu thơ, có lẽ tất cả các thiên tài nhân loại kia đều phải ngả mũ trước Xuân Diệu! Ngoắt một cái Khoa quay lại đưa ra những lời tóm tắt hết sức bỗ bã: “Đời thơ Xuân Diệu, trước cách mạng là rạo rực yêu đương và sống cuống quýt bay bổng… Sau cách mạng ông kéo thơ về mặt đất cần lao và cố gắng đưa thật nhiều thực tế đời sống vào thơ, đọc chỉ thấy quý tấm lòng của ông đối với công việc sản xuất, còn bài thơ thì đã chệch ra khỏi văn chương và trượt xuống việc bốc đất bốc đá hay kỹ thuật muối dưa chuột!”. Liệu có ai tin đây là chân dung một đời thơ Xuân Diệu, lại do nhà thơ phó chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Trần Đăng Khoa vẽ ra để tưởng niệm trên tờ văn nghệ số kỷ niệm một trăm năm ngày sinh Xuân Diệu?
Vì sao có sự ngoắt ngoéo làm vậy? Người đọc mẫn cảm sẽ thấy đây là thao tác đã được tính toán để Khoa gài cắm “cái thước lý luận do Khoa tự chế” khi khen hai câu thơ là “rất điêu luyện đưa thực tế đời sống vào thơ” để so sánh với thơ Xuân Diệu do Khoa tóm tắt: “sau cách mạng ông đưa thật nhiều thực tế đời sống vào thơ… nhưng đã chệch ra khỏi văn chương, trượt xuống việc bốc đất bốc đá hay kỹ thuật muối dưa chuột”, để nói “Xuân Diệu không có tài đưa thực tế đời sống vào thơ”, không phải là người làm hai câu thơ tuyệt vời ở trên mà Khoa đã “linh cảm” từ thuở viết “Chân dung đối thoại” đã thấy “nó bay ra ngoài quỹ đạo thơ Xuân Diệu”, nó nhuốm “màu Huy Cận” có “hơi Huy Cận”! Mục đích bài viết không dừng lại ở việc tước đi hai câu thơ của Xuân Diệu để trao cho Huy Cận, để hạ bệ Xuân Diệu. Nhưng cũng không nhằm đề cao Huy Cận, mà nhằm để tự tôn vinh cái tài “linh cảm, thần đồng” của Khoa, người nhìn ra được hai câu thơ tột đỉnh của nhân loại, lại tìm ra được tác giả chính thức sau gần cả thể kỷ đã mang tên Xuân Diệu! Đọc dòng văn dưới đây trước khi kết thúc bài viết, ta như nghe tiếng thở phào của Khoa sau những vật lộn, chắp nối một bài viết vừa ảo vừa thực: (Đến lúc ấy tôi mới biết cái “linh cảm” của tôi đã không phản tôi). Nhưng sao liền ngay đó Khoa lại hạ bút: “Kể lại với bạn đọc điều này tôi nghĩ mình cũng chẳng làm điều gì phương hại đến uy tín của Xuân Diệu”. Phải chăng sau khi bằng mọi giá đạt được mục đích của mình trái tim nhà thơ lại đưa Khoa về với những buồn vui phải, trái. Một cậu học trò lột mũ áo của thầy trước bàn dân thiên hạ, ngày cả nước đang kỷ niệm cuộc đời và nhân cách văn chương của ông, làm sao không chút ân hận. Rồi việc hai câu thơ ấy Xuân Diệu viết từ thời thơ mới, trước cách mạng, Khoa lại cố tình đào xới thơ Xuân Diệu viết sau cách mạng để so sánh chỉ thấy thơ ông “bốc đất, bốc đá và kỹ thuật muối dưa chuột”. Khoa thông minh, làm sao không biết thơ trước cách mạng của Xuân Diệu có nhiều câu mang bút pháp tư duy, những gợi cảm hình thức rất gần với hai câu thơ đem bàn.
Khi ví (trái đất với nước mắt) thật gần gũi với nhìn (trăng thành vú mộng). Hình ảnh “Trái đất đi như giọt lệ giữa không trung” gợi ta nhớ ngay tới “Trăng khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn”… cố tình tước đi hai câu thơ Khoa cho là hay nhất ở Xuân Diệu như là phủ nhận cả đời thơ Xuân Diệu, nên người đọc càng không tin ngay cả lời khen của Khoa về hai câu thơ hay, nó sâu sắc và ôm chứa, nhưng dùng từ “kỳ vĩ” khen một câu thơ có khác gì chỉ đây là đỉnh núi Hy-ma-lay-a. Thơ hay không chỉ đo bằng chiều cao, chiều rộng còn tiếng rung của sợi tơ đồng vọng mãi ngàn năm. Ngoài hai câu thơ ấy Xuân Diệu còn bao câu hay khác làm nên Xuân Diệu – ông Hoàng thi ca một thuở. Cả chặng sau cách mạng vẫn có những bài, những câu thật cuốn hút, mãi mãi say đắm, trẻ trung như “Đến tan cả đất trời/ Anh mới thôi dào dạt”. Khi đọc tới câu “Kỹ nghệ điêu luyện đưa thực tế đời sống vào thơ” được mệnh danh là “cái thước đo thơ tự chế của Khoa” nó đưa người đọc đến với hình dung một thứ lý luận thơ ngồ ngộ, pha trộn bằng khái niệm của nền sản xuất công nghiệp ở những nước phát triển, kỹ nghệ luyện thép, kỹ nghệ hóa dầu, ở trình độ cao là chế tạo máy bay, làm tàu vũ trụ chứ làm gì có “kỹ nghệ đưa thực tế đời sống vào thơ”. Thơ là sản phẩm tinh thần đơn chiếc, dù rèn luyện đến đâu cũng không thể tạo nên một kỹ nghệ sản xuất thơ. Thời làm thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa từng có câu thơ thật sự thần đồng: “Trăng bay như quả bóng/ Đứa nào đá lên trời”! Thơ thiếu nhi Việt Nam chưa có câu nào đặt ngang so sánh. Lúc ấy Khoa đâu đã có khái niệm “kỹ nghệ đưa thực tế đời sống vào thơ”!
Nước cờ chủ chốt khi Khoa kết thúc bài viết là rất táo bạo, dẫn lời Huy Cận: “Câu thơ ấy đúng là của mình. Mình viết năm 1940 ở Huế”, hẳn Khoa yên chí không ai còn dám tranh luận với mình. Nhưng Huy Cận đã không còn, ai tin được đây là lời Huy Cận. Về lý người ta có thể hỏi: “Sao Trần Đăng Khoa không công bố khi Huy Cận còn sống? Và cả trường hợp được nghe chính Huy Cận nói ra lời này thì vẫn còn thiếu lời của Xuân Diệu đã yên nghỉ ở cõi gió mây. Nên hai câu thơ “Trái đất ba phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung” mãi mãi chỉ là của Xuân Diệu.

                 Vạn Phúc, ngày 30 tháng 04 năm 2016
                 CHỬ VĂN LONG
                 Địa chỉ: Thôn 2, Vạn Phúc, Thanh Trì, Hà Nội.     
Điện thoại: 01658818263

READ MORE - HAI CÂU THƠ VẪN LÀ CỦA XUÂN DIỆU - Chử Văn Long

Friday, May 27, 2016

NHỮNG NGÀY BIỂN CHẾT - Thơ Nguyễn An Bình





NHỮNG NGÀY BIỂN CHẾT
  *Tặng anh Đặng Châu Long

Còn đâu những chuyến thuyền về
Khoang đầy cá nặng bốn bề sóng vui
Mắt nhìn đau đáu trùng khơi
Từ ngày biển chết lòng người lạnh căm.

Còn đâu! Mưa bão mù tăm
Con thuyền neo bến sóng ngầm vì đâu?
Dân chài ngơ ngác nhìn nhau
Bãi trơ hoang vắng vết đau không lành.

Còn đâu những chuyến hải hành
Ngồi trơ ngóng biển tóc tang rợn người
Xóm nghèo lặng ngắt tiếng cười
Mảng thuyền úp ngược bùi ngùi em ơi.

Còn đâu biển bạc ngày vui
Nỗi đau hụt hẫng tàn hơi lâu rồi
Chỉ còn sóng đánh tả tơi
Mộ thuyền ngút gió ngàn khơi nặng tình.

                                Nguyễn An Bình 

READ MORE - NHỮNG NGÀY BIỂN CHẾT - Thơ Nguyễn An Bình

VÀI SUY NGHĨ VỀ TỔNG THỐNG MỸ OBAMA - Tạp bút của cụ Hoàng Đằng


                               
                                    Tác giả Hoàng Đằng 


           VÀI SUY NGHĨ VỀ TỔNG THỐNG MỸ OBAMA

Tổng Thống Mỹ Obama vừa có chuyến thăm Việt Nam theo lời mời của Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang.
Tổng Thống Obama đến Việt Nam tối 22/5 và rời Việt Nam trưa 25/5/2016.
Mục đích chính của chuyến thăm Tổng Thống là hội đàm với Lãnh Đạo Việt Nam về nhiều vấn đề từ chính trị, an ninh, kinh tế, môi trường, nhân quyền, hậu quả chiến tranh ...

        Chủ tịch nước Trần Đại Quang hội đàm với Tổng thống Obama 
                            Chủ Tịch Trần Đại Quang tiếp Tổng Thống Obama

Theo tôi nghĩ, còn một mục đích nữa, có lẽ thứ yếu, là tìm hiểu dân tình Việt Nam.
Một điều lạ gây ngạc nhiên cho mọi người là Tổng Thống đi đâu, lúc nào, làm gì đều được dân chúng chờ đón, nghênh tiếp hớn hở.
Dân Việt Nam, qua lần đón Tổng Thống Obama này, đã cho thế giới biết lòng hiếu khách ấy như thế nào. Tối 22/5/2016, nghe tin Tổng Thống đến, dân Hà Nội, thay vì nghỉ ngơi sau một ngày lao động mệt nhọc, dắt dìu nhau ra đứng hai bên đường chờ đoàn xe đưa Tổng Thống từ sân bay về khách sạn; Tổng Thống ngồi trên xe, dân chẳng thấy Tổng Thống, nhưng Tổng Thống thấy dân; sau đó, cảm động, Tổng Thống phát biểu: “Sự thân thiện của Việt Nam đã chạm tới trái tim tôi.”
Mấy ngày qua, tôi có theo dõi, tôi thấy đúng là dân chúng háo hức bày tỏ tình cảm mến mộ Tổng Thóng chứ không phải hiếu kỳ như có tờ báo nào đó đưa tin.

 Nguoi Ha Noi chao don Tong thong Obama hinh anh 4
                          Dân Hà Nội đón TT Obama

Mỗi năm, Nhà Nước ta đón tiếp khá nhiều vị lãnh đạo nước ngoài tới thăm; chưa lần nào tôi thấy (dù chỉ thấy trên TV) thái độ hiếu khách của nhân dân biểu tỏ đến mức ấy: người vẫy tay, người bắt tay, người xích gần chụp ảnh, người reo hò, người tiếc nuối vì lỡ cơ hội thấy mặt …
Hồi đêm (26/5/2016), qua chương trình hội luận: “Obama và cơn sốt Việt Nam?” trên BBC tiếng Việt, tôi nghe một số chuyên gia chính trị phân tích nguyên do gây ra “cơn sốt”, tôi là một người bình dân thấy mình có một số ý kiến khác họ, nên ngồi viết ra, mời các bạn đọc cho vui.

Việt Nam ở sát Trung Quốc; trước đây, trong tình đồng chí và tình láng giềng, Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam thống nhất đất nước. Khổ nỗi là từ khi chiến tranh mới chấm dứt đến bây giờ, Trung Quốc đối xử tệ với Việt Nam: lấn chiếm lãnh thổ, gây hiềm khích giữa Việt Nam và Campuchia, tranh giành và cưỡng chiếm biển đảo, lủng đoạn kinh tế … Do vậy, Việt Nam cần thân thiện với Mỹ, dù Mỹ là cựu thù, để đối trọng với Trung Quốc vì theo kinh nghiệm lịch sử, Mỹ không có tham vọng lãnh thổ và từng giúp đỡ những nước cựu thù sau chiến tranh (Nhật, Đức) phát triển ngoạn mục. Nói rõ ra là dân Việt Nam quá lo sợ Trung Quốc bành trướng ăn hiếp rồi đô hộ nên mong ước kết thân với Mỹ; sự mong ước ấy thể hiện qua nghênh tiếp Tổng Thống Obama tới thăm.
Tháng 11 năm 2000 và tháng 11 năm 2006, Tổng Thống Bill Clinton và Tổng Thống George W. Bush đã lần lượt đến thăm Việt Nam, dân chúng Việt Nam cũng dành cho 2 vị sự hiếu khách đặc biệt nhưng không sánh với lần này được. Lần này, Tổng Thống Mỹ được nhân dân Việt Nam đón tiếp như một người thân đi xa về.

Tình thân thiện ấy đến từ đâu?

Tình thân thiện ấy nhờ màu da của Tổng Thống; ông có nước da không trắng hồng, bóng láng mà ngăm đen, trông gần gũi, không khác chi đa số người lao động Việt Nam - nông dân hay công nhân - dầm mưa dãi nắng.

Tình thân thiện ấy nhờ vóc dáng của Tổng Thống; ông không béo úc núc, mặt bự, bụng phệ, tóc nhuộm đen nhánh, chải chuốt như thử mới từ một thẩm mỹ viện ra mà cao, gầy, thẳng, khỏe, mạnh, nhanh nhẹn, tóc điểm bạc, pha chút phong sương - dáng vẻ người lao động; hình ảnh này gợi nhớ hình ảnh Chủ Tịch Hồ Chí Minh mỗi lần Người đến thăm nhà máy hay nông trường trước đây.

Tình thân thiện ấy nhờ cách trang phục của Tổng Thống. Chỉ trừ những lúc làm việc, ông phải bận veston, cà-vạt, còn thì áo sơ mi xắn tay hay áo khoác xuềnh xoàng như một người bình dân Việt Nam.
Tình thân thiện ấy nhờ thái độ ứng xử đối với giới trẻ và dân chúng của Tổng Thống. Ông dùng ẩm thực Việt Nam không phải tại các nhà hàng sang trọng có ghế tựa êm mà ăn bún chả ở một quán bên đường ngồi trên ghế đẩu nhựa; ông vào một quán nước ở Mễ Trì Hạ (Hà Nội) thăm dân dưới trời mưa mà không hề báo trước. Hình ảnh hoàn toàn hòa đồng với quần chúng.

 {keywords}
                             Obama ăn bún chả ở Hà Nội


            Một giờ 'mất tích' của Tổng thống
              Obama chụp ảnh với dân ở quán nước tại làng Mễ Trì Hạ (Hà Nội)

Tình thân thiện ấy nhờ nụ cười của Tổng Thống. Trong làm việc với đối tác cũng như khi tiếp xúc với dân chúng, ông không cười gượng để lấy ảnh mà cười do niềm vui trong lòng thúc đẩy – nụ cười tự nhiên; mỗi lần ông cười bộ răng trắng phô ra, rất dễ mến!

Tình thân thiện ấy nhờ tài ăn nói của Tổng Thống; ông nói tự nhiên khi làm việc với đối tác cũng như khi chuyện trò với dân chúng; không bao giờ thấy ông đọc chăm chú vào giấy mà luôn đảo mắt khắp khán thính phòng để xem phản ứng của người nghe; cách nói nồng nhiệt, tự tin, không rề rà; nhịp độ nói  khi nhanh khi chậm pha biểu cảm tùy theo ý diễn đạt; đề tài nói thỏa mãn điều mà người nghe mong muốn.

Tình thân thiện ấy nhờ vốn kiến thức rộng và tính chịu khó học hỏi của Tổng Thống; ông tìm hiểu kỹ về lịch sử, văn hóa, danh nhân… của Việt Nam trước chuyến thăm; trong phát biểu, ông đã dẫn thơ Lý Thường Kiệt, thơ Nguyễn Du, nhạc Văn Cao, nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc Trần Lập … để minh họa cho thông điệp muốn chuyển tải; ông cũng có vốn kiến thức về nghệ thuật, về thể thao… Khi giao lưu với thành viên Sáng Kiến Thủ Lĩnh Trẻ Đông Nam Á (trưa 25/5/2016) – viết tắt là YSEALI (Young SouthEastAsian Leaders Initiative), ông đã làm giới trẻ khâm phục bằng những giảng giải tác dụng của âm nhạc cho khán thính giả như một giáo sư trước sinh viên.

Tình thân thiện ấy còn nhờ tính dí dỏm trong lúc nói chuyện của Tổng Thống. Khi nói chuyện, ông không nghiêm nghị, lạnh lùng, dáng vẻ chỉ thị, dạy bảo mà vui tươi, hòa đồng. Nói chuyện mà thiếu dí dỏm cũng như nấu ăn mà không bỏ gia vị. Để khỏi mang tiếng xúc phạm người khác, khi chứng minh sự thành đạt dành cho những người biết quan tâm và đam mê công việc, ông khôn ngoan lấy chính tuổi thơ của mình ra làm ví dụ: nào là thiếu vắng cha, nào là lêu lỏng không thích học hành, nào là mê gái … và từ một cậu bé không hoàn hảo, nhờ quan tâm rồi đam mê công việc cộng động, ông dấn thân để bây giờ đạt danh vọng tột đỉnh là làm tổng thống Mỹ.

Tôi viết bài này với mong ước cung cấp cho các bạn trẻ muốn thành lãnh đạo một tấm gương đáng soi.
Trước đây, tôi quan niệm người làm lãnh đạo phải có Mạng, Uy, Tầm, Tâm.
Bây giờ, qua trường hợp Obama, tôi muốn bổ túc thêm: Vui Tính, Gần Gũi, Biết Diễn Xuất tùy trường hợp.
Bạn đọc có nghĩ như tôi không?

                                                       Hoàng Đằng
                                                     25/5/2016 (19/4/Bính Thân)

READ MORE - VÀI SUY NGHĨ VỀ TỔNG THỐNG MỸ OBAMA - Tạp bút của cụ Hoàng Đằng

CÀ PHÊ MỘT MÌNH - Thơ Nhật Quang


           Nhật Quang



CÀ PHÊ MỘT MÌNH

Lung linh nắng sớm mai hồng
Sài Gòn e ấp... ươm nồng sắc hương
Mênh mang kỷ niệm còn vương
Cà phê Góc Phố, giọt thương bên lòng

Tình xưa ngơ ngác đợi trông
Môi hồng, dáng liễu, bềnh bồng tóc bay
Bây giờ người hỡi có hay ?
Mình tôi đếm giọt tháng ngày bâng khuâng

Lắng nghe khúc hát trầm ngâm
Lả lơi cung phím lạc vần yêu xưa
Chơi vơi nhớ mấy cho vừa
Xôn xao ký ức... đong đưa, bồi hồi...

Cà phê vị đắng đầu môi
Tôi tìm em giữa đơn côi phố buồn.

                              Nhật Quang
                               (Sài Gòn)

READ MORE - CÀ PHÊ MỘT MÌNH - Thơ Nhật Quang

Thursday, May 26, 2016

HUYNH MUỘI - Hai bài thơ Chu Vương Miện



Chu Vương Miện


Thơ Chu Vương Miện

HUYNH MUỘI


1

Tình cảnh của Muội
6 bó dư
Mẹ góa con côi
Lây lất 40 năm
Gia đình cả bên nội (và bên ngoại)
4 năm 7 người chết vì ung thư
Đủ thứ!

2

Tình cảnh của Huynh
7 bó gập
Sống lừ đừ
Và chết từ từ
Vừa giải phẫu 2 mắt
Thêm đầu gối
Giờ đi cà nhắc
Thêm bệnh gout
Thêm đái đường
Nói chuyện bình thường
Cũng quá buồn!


                   CVM






TÌNH NGƯỜI QUẢNG TRỊ

“Một đi nhớ bến thương bờ
Hai về sóng vỡ dật dờ trường giang”
                             Thơ Định Giang, Hoa 10 Phương, 1960.


Hiện chừ Huynh ở vào tuổi 7 bó gập
Sống cũng chỉ chờ ngày chôn xuống đất
Muội cũng ở vào chặng 6 bó dư
Bỏ dứt luôn cái nghề ca hát
(Đeo đẳng mãi mần chi cho nó mệt)
Chúng ta thời xưa ở vào hai đầu đất nước
Năm 54 Huynh 14 tuổi di cư vào miền Trung
Lúc đó (bấy giờ) Muội mới làm giấy khai sinh
Cho tới giờ này Huynh vẫn là Huynh
Muội hiện đại vẫn còn là Muội
Trên 60 năm chúng ta chả gặp nhau
Đường đời lắm ngả toàn xơi cơm chấm muối
Huynh ở Mỹ Quốc phía Tây
Muội ở Giao Chỉ phía Đông
2 xứ 2 nơi cách 1 biển trùng trùng
Tiếng quan thọại gọi là Pacific
Huynh không về vì người quá già quá mệt
Hết bệnh này tiếp đến bệnh kia
Muội không qua vì gió thốc tứ bề
Rặt là gió heo may cùng gió chướng
Nơi quê cũ ngày xưa ôi là đất nạn
Cổ thành Quảng Trị nát như tương
Trường cũ người xưa mỗi nẻo mỗi đàng
Đường lên thiên thai đường về âm phủ
Đại lộ kinh hoàng đạn rơi pháo nổ
Chả còn cái gì, nguyên trú quán bi thương
Thôi chiến tranh cuộc chiến vô thường
Cong cũng thác và ngay cũng chết
Lớp học ngày xưa nửa phần chết thiệt
Lớp bỏ quê nhà cầu thực lang thang
Thành phố Châu Ô xưa gạch ngói hoang tàn
Bao con phố bây chừ toàn đá vụn
Có những con đường có đi có đến
Đâu có giống như sông Thạch Hãn
(Chẩy mãi về Triệu Phong)
Ôi Sải thân yêu bờ đê tiếp tre làng
Xa thăm thẳm xuôi dòng về cửa Việt
Tình văn nghệ văn gừng ôi chao
Sao mà da da diết diết
Đọc thơ Định Giang 55 năm qua
Bây giờ mới thấm mệt
“Về không về sang không sang
Cầm bằng lỡ chuyến đò ngang cầm bằng”
Ôi một đời người biết mấy cố nhân
Kẻ cho leo cây kẻ thì lừa đảo
Chuyện thường ngày ở huyện
Vẫn là thớ cơm tô cháo
Vẫn tô mì Quảng tố phở trà xanh
Chúng mình bây chừ tạm gọi em anh
Chuyện Văn Nghệ Văn Gừng Văn Nghẽo
Ôi thì kiếp sau gắng mà đi qua Sạn Đạo
Vào Tứ Xuyên Ba Thục gặp nhau
Kiếp này đây dù đi khắp địa cầu
Huynh một nơi muội thì một nẻo
Ôi cái tình văn chương bạc bẽo
Biết ra răng mà biết nói sao chừ?
Huynh ậm ờ giữa hai nẻo tê mô

Chu Vương Miện




READ MORE - HUYNH MUỘI - Hai bài thơ Chu Vương Miện

CHỈ CÓ VẦNG TRĂNG - thơ Phương Hà




CHỈ CÓ VẦNG TRĂNG
     
Một người, một tách, một bình trà
Trăng đã nhạt nhoà, đêm sắp qua
Rỉ rả côn trùng trong bụi cỏ
Còi tàu văng vẳng khúc quanh xa

Dã quỳ đến hẹn lại đơm hoa
Mộc mạc, đơn sơ chẳng mượt mà
Sao gợi lòng em bao nỗi nhớ
Áo vàng thuở ấy nắng vàng pha

Hai đứa che chung một chiếc dù
Sương rơi nhè nhẹ tựa lời ru
Êm đềm sánh bước trên đồi vắng
Lạo xạo chân trần dẫm lá thu

Bao nhiêu nhung nhớ bấy năm trời
Bảo Lộc đêm buồn sương vẫn rơi
Em trở về đây tìm kỷ niệm
Rưng rưng mắt lệ nhạt môi cười

Từng khắc thời gian lặng lẽ trôi
Sương rơi ướt đẫm ghế em ngồi
Núi đồi hờ hững trong đêm vắng
Chỉ có vầng trăng an ủi thôi...
                        
                          Phương Hà
                         ( 25/05/2016 )







READ MORE - CHỈ CÓ VẦNG TRĂNG - thơ Phương Hà

CHIỀU NGOẠI Ô - thơ Phan Thạch Giang



Phan Thạch Giang


CHIỀU NGOẠI Ô


Chiều ngoại ô tôi làm thân 
mây trôi
Nẳng chiều dần tắt
bóng tôi rơi
Hạ đã về ve sầu đang khóc
Vì đâu tôi buồn
vì đâu phượng ơi

Tôi cố quên ngày xanh ấy 
qua rồi
Áo ai mỏng quá lạnh thơ tôi
Chao ôi ly biệt mùa Thu ấy
Một kẻ chơi vơi suốt một đời.


Lâu lắm chưa về thăm
Quảng Trị
Ngắm hàng phượng vỹ nở
bên sông
Ngược dốc La Vang ôm 
gió lạnh
Nhìn lúa vàng thơm
trĩu hạt trên đồng.


Mẹ ạ!
Nơi Mẹ yên nằm rêu đã lên xanh
Mộ Cha năm tháng cỏ 
xây thành
Con đến ngoại ô cùng hoa
màu tím
Thằp nén nhang thơm
khóc một mình


Như bến không đò
phượng ơi phượng ơi
Thôi làm mây bay cho hết
một đời
Làm vỏ ốc buồn
nắm nghe sóng vỗ
Vừa thiếu quê nhà
vừa dư xa xôi


Trường cũ còn đâu để về thăm
Tôi đi như một kẻ qua đường
Ai nhuộm chiều hôm
màu tím nhạt
Cho Quảng Trị tôi
khóc Nguyễn Hoàng


Chiều ngoại ô
Vườn nhà ai vắng quá
Chạnh lòng tôi nhớ
quê cũ Nhan Biều
Ngày ấy tôi đi
Cũng cổng vuờn Mẹ khép
Dưới mái hiên buồn
Mẹ ngồi vá áo
dấu thương yêu


Dấu dòng nước mắt sau tay áo
Bên chiều nghe gió khóc
đìu hiu
Chị cũng giả đò vui
xểp chồng sách
em học dang dở
Nước mắt lưng tròng
đứng lặng ngắm mây chiều


Em tôi cỏn nhỏ hồn nhiên quá
Chẳng biết ngày còn được
bao nhiêu
Cô gái láng giềng xóm bên
Tiễn tôi ra đầu ngõ
Gửi tặng ánh mắt
để tôi mang theo
Đôi mắt ấy ngây thơ
Đã cháy lòng tôi thành nỗi nhớ
Những nỗi nhớ vơi đầy
Trên đỉnh hoàng hôn 


Chiều ngoại ô
Vùng ký ức thời gian
nhạt nhòa màu phượng đỏ
Tôi chợt gọi tên mình
chợt gọi tiếng quê hương
Chợt nhớ thương ai
Thương cả những con đường
Tôi ẩn mình sau câu thơ


Chiều ngoại ô tha phương
Co ro buồn. Buồn chi lạ
Tôi khắc khoải ép chút tình
trong lá
Hãn giang ơi! Sông mãi miết
chảy về đâu


Chiều ngoại ô tôi làm thân
mây trôi
Nắng chiều dần tắt
bóng tôi rơi
Hạ đã về. Ve sầu đang khóc
Vì đâu tôi buồn
Vì đâu phượng ơi


Phan Thạch Giang




READ MORE - CHIỀU NGOẠI Ô - thơ Phan Thạch Giang

Wednesday, May 25, 2016

PHỐ XA NGƯỜI - thơ Huy Uyên



PHỐ XA NGƯỜI

Phía con đường 14 em đi
Nắng ngủ trên những hàng phượng đỏ 
Ban-Mê chiều mùa hè
Núi rừng treo quanh nỗi nhớ.

Những ngôi nhà đồi xa tít
Pha sắc sương tím xẩm màu lam
Ban-Mê lung linh hồ Lak
Thuyền trôi đậu kín nỗi buồn .

Những ngày em bỏ phố xa người
Con suối đầu nhà biết nhớ
Gọi người về Dray Sap, Dray Nur
Bạc trắng ngang trời thác đổ.

Tình em xuôi dòng Serepôk
Ngày con gái, con trai Buôn Đôn
Hồng môi lời ca hội lúa
Em mắt đen má thắm rượu cần.

Hai mắt bi ve, giáo-đường Thánh-Tâm
Em quỳ khấn, chuông cùng lời nguyện
Em trần tắm mát Ea Knin
Ea Kao xanh màu mắt biển.

Về Ako Dhong gọi tình buôn lũng
Thoáng giọng khèn đỏ đất bazan
Chư-Yang-sin vườn người cao rộng
Tim ai reo, đập nhịp đại-ngàn .

Em quay về rừng xưa Yok Don
Thăm người cũ Eđê, Lào, Thái
Ngợp lòng theo nhịp T'rưng
Phố ngũ tình rừng nhớ mãi.

Đồi cà-phê xanh, hoa trắng
Xao xuyến tình ngát tỏa sắc hương
Bướm ong đầy vườn bay lượn
Đẹp quá đi thôi một dải cao-nguyên.

Ấm tình ai ngày tháng Ban-Mê
Chiều bên hồ lộng gió
Đã xa tay ai vẩy xa người
Bóng dài theo từng con đường nhỏ.

Huy Uyên


READ MORE - PHỐ XA NGƯỜI - thơ Huy Uyên