Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, October 25, 2012

NÉT ĐẶC TRƯNG TRONG HỆ THANG ÂM - ĐIỆU THỨC CỦA HÒ NHƯ LỆ Ở QUẢNG TRỊ - Nguyễn Văn Khoa

Tóm tắt:
Hò Như Lệ ở Quảng Trị có những nét đặc trưng trong hệ thang âm – điệu thức Mi - Fa#non – La – Sigià - Rênon  ứng với ngũ cung (Hò – Xự#non – Xàng – Xêgià – Cốngnon) mang tính chất độc đáo trên môi trường diễn xướng riêng. Quá trình ấy là sự tiếp diễn và chuyển hóa từ hò Mái nhì Trị Thiên phát triển thành hò Như Lệ (hò Đò dọc, hò Giọng đò) sang hò Binh vận đến hò Cách mạng và hò Như Lệ nói chung của ngày nay (âm bậc V ở hò Như Lệ cổ điển từ Đô#non đã trở lại nâng lên thành Rênon tương ứng với thang âm ban đầu của hò Mái nhì Bình - Trị - Thiên trên sông nước) mà vẫn giữ được hệ thang âm điệu thức cơ bản mang nét đặc trưng.
Ngày nay, Hò Như Lệ được sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị chú trọng bảo tồn trở thành một di sản quý giá trên vùng đất Quảng Trị nói riêng và vùng đất Bình - Trị - Thiên nói chung.

1. Dẫn nhập
Mỗi vùng miền đều có những nét độc đáo đặc trưng riêng trong mỗi hình thức và nội dung hò[1]. Riêng ở miền Trung thì khu vực Bình - Trị - Thiên có hò Mái nhì được nhiều người không chỉ bản địa mà nơi khác biết đến một cách phổ biến. Bởi hò Mái nhì có sức thuyết phục lòng người một cách sâu sắc mỗi khi nghe đến. Với làn điệu[2] khi cao vút ngân nga, khi trầm lặng sao xuyến qua sự bộc bạch những tâm trạng cảm xúc hoặc là sự u hoài-khắc khoải ân tình trước sự mênh mông bát ngát của sông nước-đất trời.
Qua khảo sát thực tế cũng như trực tiếp tiếp cận với nhiều giọng hò tại làng Như Lệ, đồng thời căn cứ trên những thuộc tính căn bản của các làn điệu hò, chúng tôi có thể tái khẳng định hò Như Lệ thuộc làn điệu hò Mái nhì, một làn điệu rất phổ biến ở vùng Bình Trị Thiên. Tuy nhiên, sự thay đổi về môi trường diễn xướng cũng như chức năng biểu đạt thông qua ca từ đã làm cho điệu hò Mái nhì có sự chuyển biến nhất định về làn điệu để định hình nên một giai điệu mới. Song không vì thế mà mất đi những nét đặc trưng của làn điệu hò Mái nhì[3].




Hò Như Lệ[4] ở Quảng Trị có những nét đặc trưng trong hệ thang âm – điệu thức ngũ cung[5] mang tính chất độc đáo trên môi trường diễn xướng riêng. Quá trình ấy là sự tiếp diễn và chuyển hóa từ hò Mái nhì Trị Thiên phát triển thành hò Như Lệ (hò Đò dọc, hò Giọng đò) sang hò Binh vận đến hò Cách mạng và hò Như Lệ nói chung của ngày nay vẫn giữ được hệ thang âm điệu thức cơ bản mang nét đặc trưng trong hệ thang âm – điệu thức.
2. Nét đặc trưng trong hệ thang âm – điệu thức của hò Như Lệ ở Quảng Trị
Căn cứ vào các dữ liệu ghi chép và việc điền dã thực tế, bước đầu tôi nhận thấy:
Hệ thống thang âm – điệu thức trong hò Mái nhì ở các tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế đều có nét tương đồng trên hệ thống thang âm Mi - Fa#non – La – Sigià – Rênon ứng với ngũ cung (Hò – Xự#non – Xàng – Xêgià – Cốngnon). [Trong đó các âm bậc II, IV, V thường hay bị hò lệch. (Bậc II non, bậc IV già, bậc V non)].

Trên cơ sở cùng với nhóm nghiên cứu hò Như Lệ thông qua việc khảo sát trên làn điệu của nhiều bài, nhiều giọng hò từ trước đến nay trên vùng đất Như Lệ và các vùng phụ cận trên dòng sông Thạch Hãn. Tôi đã cùng với nhóm nghiên cứu phân thành hai nhóm làn điệu chính của hò Như Lệ còn được lưu giữ đến ngày nay đó là làn điệu hò cổ điển và làn điệu hò cách tân để phân tích nhận diện những nét đặc trưng.

Trong giới hạn của bài viết, tôi sẽ đi sâu vào nét đặc trưng trong hệ thang âm – điệu thức của hò Như Lệ thông qua các làn điệu đi điền dã là chủ yếu.

a.      Hệ thang âm - điệu thức qua các bài bản làn điệu hò cổ điển:
Tìm thấy ở các bài hò Mái nhì dưới nước. Thông qua việc xem xét đối chiếu từ các bài hò Mái nhì Bình – Trị Thiên so với các bài hò ở Như Lệ chúng ta sẽ thấy có sự tương đồng trong hệ thang âm – điệu thức giữa hò Mái nhì và hò Như Lệ (còn gọi là hò Đò dọc hoặc hò Giọng đò). Tuy nhiên, hệ thang âm – điệu thức trong làn điệu của hò Như Lệ cổ điển có biến đổi ở âm bậc V so với hò Mái nhì Bình – Trị Thiên cổ điển. Sự biến chuyển linh hoạt ấy là sự chuyển lệch âm bậc V hạ thấp xuống dao động trong 1/8 đến 1/4 cent (Rênon xuống Đô#non), biểu hiện trên hệ thang âm Mi - Fa#non – La – Sigià – Đô#non .





Một vài câu trích hò Như Lệ có hệ thang âm liên quan
                              + Hò Như Lệ cổ điển:
Trích: Chuyện hò … Cây nứa…                             
                                   Giọng hò: Ngô Thị Hoãn
                                   Ký âm: Văn Khoa



                           + Hò Như Lệ cách tân (Hò Mái nhì trên cạn)
                     Trích: Chuyện hò … bắp Ba Lòng…

                            Giọng hò: Ngô Thị Huế
                            Ký âm: Văn Khoa





+ Hò Như Lệ cách tân tiếp theo (Hò Mái nhì trên cạn trùng thời gian với hò Binh vận). Trong đó cần lưu ý; có hệ thang âm – điệu thức trở lại giống như Hò Như Lệ cổ điển.
         Trích: Chuyện hò … nam nhi thà…

Giọng hò: Hoàng Thị Sự
Ký âm: Văn Khoa






Sự biểu đạt giai điệu cũng có những sự sóng sánh nhảy quãng tùy từng tính chất vùng miền hoặc chất giọng người hò. Trong việc nhận định về tông-giọng hò Mái nhì khu vực này người hò dễ bị nhầm lẫn cao độ cũng như âm chuẩn bởi sự nhảy quãng giữa phần xướng-phần xô và phần hò trả của phần xô.

(Nếu chuyện hò được người hò một mình thể hiện thì chúng ta cũng dễ dàng nhận ra tông-giọng, tuy nhiên cần phải phân biệt rõ ở những giọng hò ở các quãng nhảy).

            Sự tương giao và khác biệt ở hệ thang âm bậc V

Cũng diễn ra trên các dòng sông gắn với các động tác chèo thuyền khoan thai-thả hồn với giai điệu trữ tình, lững lờ sâu lắng. Các chuyện hò Mái nhì (cư dân ơ đây gọi là hò Đò dọc hoặc là hò Giọng đò) cứ tiếp nối thành những bức thông điệp chứa chan ân tình tiếng nói quê hương-tình yêu đôi lứa và cả những bộc bạch về hoàn cảnh đất nước vẫn vang lên xao động biết bao con người đồng cảm.

Cũng từ hò Đò dọc ở vùng đất này cũng thêm một lần nữa người dân ở đây lại tự mình chuyển hóa giai điệu-ca từ phù hợp với tính chất, linh hồn của người dân nơi đây như là cơ sở để sau này tiếp tục cơ động trong một số hình thức biểu hiện. Đặc biệt ở hệ thang âm trong làn điệu của hò Như Lệ cổ điển có biến đổi ở âm bậc V so với hò Mái nhì Bình – Trị Thiên cổ điển là sự chuyển lệch âm bậc V hạ thấp xuống dao động trong 1/8 đến 1/4 cent (Rênon xuống Đô# non) biểu hiện chất liệu đặc trưng các chuyện hò trên hệ thang âm Mi - Fa#non – La – Sigià – Đô#non .


b.      Hệ thang âm - điệu thức qua các bài bản làn điệu hò cách tân:
Trích: Hò Binh vận (giai đoạn hoàn chỉnh 1953-1954)

Giọng hò: Ngô Thị Khuyến
Ký âm: Văn Khoa











Ra đời vào thời kì kháng chiến chống Pháp. Chủ yếu hò ở không gian trên cạn phục vụ ông tác hò Binh vận, phù hợp với bối cảnh lịch sử, điều kiện diễn xướng, mục đích biểu đạt... Hệ thang âm – điệu thức trở lại tương ứng với hò Mái nhì Bình – Trị - Thiên là Mi - Fa#non – La – Sigià – Rê#non

Trên cơ sở làn điệu hò Mái nhì và trực tiếp là lối hò Mái nhì trên cạn của vùng Triệu Phong, Hải Lăng, một số nghệ nhân ở làng Như Lệ phá vỡ khuôn khổ cổ điển, cách tân để hình thành một nhóm giai điệu mới. Đặc biệt Đội tuyên truyền lưu động: Dùng tiếng hò để kêu gọi anh em binh sỹ là những người Việt đi lính cho quân Pháp, trong các đồn bốt của địch quay súng trở về với nhân dân với cách mạng[6]. (Ca từ của làn điệu cách tân do lực lượng kháng chiến sáng tác và nhân dân ứng tác nếu thấy phù hợp thì được cấp trên duyệt cho phép thể hiện).

            Sự cơ bản của hò Như Lệ cách tân vẫn được thể hiện trở lại với hệ thống thang 5 âm là Mi - Fa#non – La – Sigià – Rê#non của hò Mái nhì. Khi thể hiện một số âm được nâng lên quãng 8 tạo thành những điểm nhấn với mục đích truyền tải rõ ràng nội dung của ca từ mà người diễn xướng cần biểu đạt. Do đó âm bậc V lại được nâng lên dao động trong 1/8 đến 1/4cent. Đồng thời tính chất luyến láy đã được rút gọn hơn, nhịp điệu phóng khoáng tự do trong một bố cục khá chặt chẽ nhằm chuyển tải rõ ràng đầy đủ nội dung nhưng không vì thế mà xem nhẹ yếu tính nghệ thuật.

            Một đặc điểm đáng được chú ý để nhận diện điệu hò Như Lệ, đó là ngoài việc sử dụng các tiếng đệm thông dụng của làn điệu hò Mái nhì như; hơ, hờ, ha, hi, hô, ơ, i, à, ơi,…, các nghệ nhân làng Như Lệ còn sử dụng những tiếng đệm khá riêng biệt như; hì, hi, hí, hà, hè, hờ, hợ, hới, hợi, hừ, hư, hùm, ư, ừ, chứ, chớ, chừ,… Đây cũng là yếu tố góp phần làm cho giai điệu của hò Như Lệ có những biến chuyển nhất định.

            Đồng thời, để chuyển tải rõ ràng, mạnh mẽ nội dung của ca từ nên có những âm khi thể hiện được nâng lên quãng 8. Điểm nổi bật của của hò Như Lệ là người hò đã vận dụng hơi để cho tiếng hò vang xa, nhưng không vì thế mà đi quá xa so với hệ thống thang âm chung của làn điệu hò Mái nhì là Mi - Fa#non – La – Sigià – Rê#non . Không những thế hò Như Lệ còn được biểu hiện qua tính biến dụng rất linh hoạt về môi trường diễn xướng trong môi trường lao động, một đặc điểm cố hữu của thể điệu hò, vừa có thể linh hoạt chuyển đổi chức năng cũng như mục đích biểu đạt rất cụ thể.

            Ngày nay, các nghệ nhân kế cận hò Như Lệ đã vận dụng sáng tác nên những bài bản mới nhưng vẫn giữ được hệ thang âm điệu thức của hò Như Lệ giai đoạn hò Binh vận. Tuy nhiên, làn điệu mới có nét phóng thoáng tự do hơn:

Trích: Chuyện hò …Hải Lệ quê tôi…xóm làng mừng vui…

                                                                                                                               
Giọng hò: Ngô Thị Thời
Ký âm: Văn Khoa




Trích: Chuyện hò …Hải Lệ quê tôi…đang còn vấn vương…
Giọng hò: Ngô Thị Huế
Ký âm: Văn Khoa







3. Kết luận:
Hò Như Lệ phát triển trên cơ sở thang âm - điệu thức hò Mái nhì. Với hệ thống thang âm – điệu thức biểu hiện là Mi - Fa#non – La – Sigià - Rênon ứng với ngũ cung (Hò – Xự#non – Xàng – Xêgià – Cốngnon). Hò Như Lệ có kết cấu giai điệu gãy gọn, tầm âm rộng (âm bậc V ở hò Như Lệ cổ điển từ Đô#non đã trở lại nâng lên thành Rênon tương ứng với thang âm ban đầu của hò Mái nhì Bình - Trị - Thiên trên sông nước. Với sự chuyển hóa cách tân thành hò Binh vận đến hò Cách mạng và hò Như Lệ nói chung mà vẫn giữ được hệ thang âm điệu thức cơ bản mang nét đặc trưng độc đáo trên môi trường diễn xướng riêng) đang được nghệ nhân và đông đảo nhân dân Như Lệ - Quảng Trị yêu mến hò hằng ngày và hò trong các ngày liên hoan-lễ hội sâu rộng.
Ngày nay, Hò Như Lệ được sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị chú trọng bảo tồn trở thành một di sản quý giá trên vùng đất Quảng Trị nói riêng và vùng đất Bình - Trị - Thiên nói chung.

 Ghi chú:
1. là một hình thức của ca, được xướng-xô theo những làn điệu đặc thù trong môi trường diễn xướng cụ thể nhằm thúc đẩy cho công việc tiến triển, hay thể hiện các sắc thái tình cảm của con người để giao ứng giữa chủ thể biểu đạt và khách thể tiếp nhận. – Điều tra khảo sát di sản hò Như Lệ (bản tóm tắt nội dung), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị - Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế (thực hiện), 2012, tr 2.
2.  Làn điệu và giai điệu là hai khái niệm có nội dung tương đương nên lắm lúc được dùng lẫn lộn. Trong lĩnh vực âm nhạc Việt Nam, giai điệu thường để gọi nhạc bản và ca khúc sáng tác theo nhạc lý phương Tây; còn làn điệu là thuật ngữ dùng trong lĩnh vực âm nhạc dân tộc, các ca khúc truyền thống dân tộc, nhất là dân ca. Trong rất nhiều bài viết của giáo sư Trần Văn Khê về âm nhạc dân ca, tác giả thường dùng thuật ngữ làn điệu. Theo giáo sư Tô Vũ thì làn điệu khác với giai điệu. Bởi giai điệu là những âm thanh phát ra nối tiếp nhau có hệ thống và hoàn chỉnh về hình thức lẫn nội dung. Giai điệu có tính ổn định và chuẩn xác về thang âm điệu thức vì ngôn ngữ đa âm không có thanh điệu. Làn điệu tương đương giai điệu, nhưng những âm thanh có thể thay đổi theo thanh điệu vì tiếng Việt có sáu thanh tương ứng với các dấu không, sắc, hỏi, huyền, nặng, ngã. - Lê Văn Chưởng, Đặc khảo Hò Huế, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2005), tr 65-66.
3. Hò Như Lệ, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị - Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế (thực hiện), (Hà Nội: Nxb Thông tin truyền thông, 2012), tr 61- 62.
4.  Xuất phát ở làng Như Lệ kéo dài – lang tỏa trên dòng sông Thạch Hãn và một số vùng lân cận huyện Triệu Phong, Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
5.  Hệ thang âm – điệu thức ngũ cung (5 âm) ở trong hò Như Lệ là chuỗi âm thanh được tính trong mỗi chuyện hò (hoặc mỗi bài hò) không hạn định thời gian âm thanh làn điệu vang lên từ âm đầu đến âm cuối thuộc điệu thức Bắc-cộng sinh âm hưởng Nam ai.
6. Điều tra khảo sát di sản hò Như Lệ (bản tóm tắt nội dung), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị - Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế (thực hiện), 2012, tr 5 - 6.

Tài liệu tham khảo:
1. Dương Viết Á, Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn Văn hóa, (Hà Nội: Nxb Âm nhạc, 2005).
2. Dương Văn An, Ô châu cận lục (Văn Thanh, Phan Đăng dịch & chú giải), (Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, 2009).
3. Tôn Thất Bình, “Thử tìm hiểu nguồn gốc làn điệu hò Mái nhì”,(Tạp chí Dân Tộc học, số 2, 1986).
4. Tôn Thất Bình, Dân ca Bình Trị Thiên, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 1997).
5. Tôn Thất Bình, Những đặc trưng của Hò Trị Thiên, (Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ, 2006).
6. Thân Trọng Bình, Hò Khoan Sáu Mái, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2006).
7. Lê Văn Chưởng, Đặc khảo Hò Huế, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2005).
8. Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, mục Âm tự, (Sài Gòn, tập II, quyển 4, 1972).
9. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, (Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội, tập I, 1997).
10. Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (Phan Đăng dịch, chú giải và giới thiệu), (Huế: Nxb Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, 2005).
11. Tuấn Giang, Giá trị nghệ thuật của diễn xướng dân gian Việt Nam, (Hà Nội: Nxb Văn hóa thông tin, 2006).
12. Lê Văn Hảo, Vài nét về hò, dân ca miền Trung và miền Nam, (Huế: Tạp chí Đại học, 1968), số 35-36.
13. Nguyễn Minh Hiến , Chữ nhạc dân tộc Việt, (Hà Nội: Nxb Âm nhạc, 2005)
14. Trần Hoàn, Tuyển tập Văn hóa và Âm nhạc, (Trong tổng hợp các Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam năm 2007, Hà Nội: Nxb Văn hóa, 1997).
15. Trần Hoàng, Tìm về Văn hóa - Văn học dân gian một miền quê trung bộ, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2000).
16. Trần Hoàng, Trần Thùy Mai, Ca dao dân ca Bình Trị Thiên, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 1988).
Võ Thế Hùng, “Còn đó một điệu hò Như Lệ” (Báo Quảng Trị, 2006).
17. Đào Việt Hưng, Tìm hiểu điệu thức dân ca người Việt Bắc trung bộ, (Hà Nội: Viện Âm nhạc, Nxb Âm nhạc, 1999).
18 Trần Văn Khê, Văn hóa với Âm nhạc dân tộc, (Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Thanh niên, 2000).
19. Trần Văn Khê, Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, (Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ, 2004).
20. Nguyễn Văn Khoa, Kiến thức Nhạc lý và Hòa âm thực hành, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2006).
21. Thụy Loan, Lược sử Âm nhạc Việt Nam, (Hà Nội: Nxb Âm nhạc, 1993).
22. Phạm Phúc Minh, Tìm hiểu dân ca Việt Nam, (Hà Nội: Nxb Âm nhạc, 1994).
23. Trần Việt Ngữ - Thành Duy, Dân ca Bình Trị Thiên, (Hà Nội: Nxb Văn học, 1967).
24. Tú Ngọc, Tìm hiểu giai điệu dân ca Việt Nam, (Hà Nội: Tạp chí Âm nhạc, 1976).
25. Nguyễn Thi Nhung, Các dạng cấu trúc đoạn trong dân ca Người Việt, (Luận án PTS, 1981).
26.Trần Hữu Pháp (1996), Nhạc cổ truyền Huế, Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế, Nxb Thuận Hóa.
27. Vĩnh Phúc, Âm nhạc cổ truyền qua báo chí nửa sau thế kỷ XX, (Huế: Nxb Thuận Hóa, 2001).
28. Minh Phương - Quách Mộng Lân, Vài nét về dân ca Quảng Bình, (Huế, Nxb Thuận Hóa, 1998).
Lê Văn, “Hò Bình Trị Thiên” (Tạp chí âm nhạc, số 4, 1979).
29. Văn Thanh, Tìm hiểu về ca Huế và dân ca Bình Trị Thiên, (Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên xuất bản, 1989).
30. Nguyễn Hữu Thông, Lê Đình Hùng, “Từ tập hồi ký của một người di dân – nhận diện vùng đất Thuận Hóa đầu thế kỷ XV”, (Nghiên cứu Văn hóa Miền Trung, Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế, số tháng 3, 2009).
31. Văn Quang, “Hò địch vận và kháng chiến chống Pháp” (Tạp chí Cửa Việt, số 7 tháng 12, 1994).
32. Phan Thiện Quốc, “Hò Quảng Trị”, (Tạp chí Cửa Việt, số 36, tháng 9, 1997).
33. Nguyễn Viên, “Về một bài dân ca mới: Hò Hải Thanh” (Tạp chí Âm nhạc, số 1, 1979).
34. Phan Vĩnh Yên, “Người giữ điệu hò Như Lệ”, (Báo Công an Nhân dân, 2010).
35. Điều tra khảo sát di sản hò Như Lệ (bản tóm tắt nội dung), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị - Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế (thực hiện), 2012.
36. Hò Như Lệ, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị - Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế (thực hiện), (Hà Nội: Nxb Thông tin truyền thông, 2012).
37. Maricia Herndon, “Diễn xướng hát”, (Trong Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan chủ biên, Folklore -Một số thuật ngữ đương đại, Nxb Khoa học xã hội, 2005).
38. Li Tana, Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế – Xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 (Nguyễn Nghị dịch), (Nxb Trẻ Tp Hồ Chí Minh, 1999).
39. http://thuvienquangtri.gov.vn/baiviet.aspx?id=294&nhom=1



NGUYỄN VẮN KHOA
Học viên Cao học Văn hóa học - Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
vankhoa3@gmail.com



-----------------------------------------------------

XIN BẤM CHUỘT TRÁI VÀO HÌNH ĐỂ XEM TO VÀ RÕ HƠN (Ghi chú của Admin)








READ MORE - NÉT ĐẶC TRƯNG TRONG HỆ THANG ÂM - ĐIỆU THỨC CỦA HÒ NHƯ LỆ Ở QUẢNG TRỊ - Nguyễn Văn Khoa

Wednesday, October 24, 2012

ĐƯỜNG BÔNG TÍM - Thơ: Xuân Lợi - Nhạc: Quỳnh Hợp - Biểu diễn: Lý Hạo Nhiên







TÍM

Thơ XUÂN LỢI

Nắng ửng hồng dừng xe vội vã
Bóng trưa lối hẹn gót sen về
Bằng Lăng rưng rức đầu ngọn tím
Thoảng gió hoa rơi lửng vĩa hè

Hàng xóm kề bên len lén nhìn
Ngại ngần thẹn thùng chiều trước ngõ
Ngờ ngợ e mắt mình không rõ
Dáng thanh thoáng màu áo nhẹ tênh

Trưa và chiều điệp nhớ ngỡ quên
Hoa Cà níu chân ngày lang bạt
Đồi Sim chuyện tình nên khúc hát
Áo tím xưa mượn lời thuỷ chung!

Những con đường đợi mùa bông tím
Vờn một đời bãng lãng mây bay...

                             Đầu hè -2009

Xuân Lợi

READ MORE - ĐƯỜNG BÔNG TÍM - Thơ: Xuân Lợi - Nhạc: Quỳnh Hợp - Biểu diễn: Lý Hạo Nhiên

MỘT THOÁNG HỒI ỨC - Khaly Chàm


Tác giả KHALY CHÀM


hư vô miền gót chân xưa
cát khàn giọng gọi ngày mưa đâu rồi?
bàn chân nứt nẻ, em tôi
đầu xanh đội nước lên trời hỏi mây
mẹ ngồi trên núi vẫy tay
xin chào tháp nắng trắng ngày hồng hoang
hoa xương rồng chuyển màu than
uống sương đứng hát giữa ngàn chiêm bao
nhà nghiêng ngửa mắt nhìn sao
tuổi thơ tiếng hú vang vào đèo xa
nâng niu kí ức vỡ òa
ước mơ… vỗ cánh bay qua đỉnh hồn

Tây Ninh 10/2012
KHALY CHÀM
khalycham@yahoo.com

READ MORE - MỘT THOÁNG HỒI ỨC - Khaly Chàm

Tuesday, October 23, 2012

BẦY RẮN VÀ NGƯỜI - Huy Uyên


Chiêm bao em về muộn
trên môi đậu kín nụ cười
đường dài chi mà sầu chưa kịp xuống
phố xá xa rồi xin em ở lại thôi.

Tôi còn gì mà đứng đợi chờ
cơn mưa đầu mùa đã nhạt phai theo ngày trước
nơi em đã từng vờ bước
rồi đứng ngậm ngùi.

Em bây giờ có buồn chi tôi
thả trái phá vào thẳm sâu hang động
thả linh hồn lên trời
đứng hoài đọc kinh
dỗ dành hai ta ngày đêm cô đơn chiếc bóng.

Bên ngoài hình như mưa xuống
tóc em rối sợi sao khuya
chôn đời nhau trong mắt của người
nhìn nhau bỏ đi mà lòng bỗng sửng .

Những nụ hôn vội vàng
bờ môi rưng rưng se lạnh
bầy rắn và người bò quanh
mối tình đã cầm lòng rao bán.

Biết đâu em khi xa
ngồi nhìn bóng mình vùi sâu vực xoáy
người phiêu du theo mùa vàng đốt cháy
lặng buồn hát bài thánh ca.

Quay lại nhìn chốn xưa
anh một mình bò dài lên bờ dốc
em buồn chi mà chẻ hoài con tóc
tiển đám tang người đi dưới cơn mưa.

Huy Uyên
lesinh.lesinh@yahoo.com
READ MORE - BẦY RẮN VÀ NGƯỜI - Huy Uyên

CHÍ PHÈO DIỄN CA (2) - Nguyễn Tường



TIẾP THEO KỲ TRƯỚC: CHÍ PHÈO DIỄN CA 1


2.

Nhưng kìa cụ ông cũng đã về.
Cụ cất tiếng rất sang: “Cái gì?
Tại sao mà đông người thế chứ?”
Chỗ nầy, chỗ kia tiếng “lạy cụ”,
người ta kính cẩn giãn cho xa,
và Chí Phèo bỗng nằm dài ra,
bất động, rên khẽ như gần chết.
Thoáng nhìn, cơ sự đã hiểu hết.
Làm lý trưởng, chánh tổng lâu ngày,
nay lý trưởng con cụ lên thay,
những việc thế nầy cụ không lạ.
Cụ quát các bà vợ trước đã,
cái thói xưng xỉa chực tâng công:
- Các bà đi vào nhà được không?
Chỉ lôi thôi, làm việc thêm hỏng.
 Quay lại người làng, cụ dịu giọng:
- Các ông bà nữa, về đi thôi!
Có gì mà phải xúm lại coi?
Không ai nói gì, họ tản cả.
Một phần vì họ nể cụ bá,
một phần muốn yên thân cho rồi:
người nhà quê vốn ghét lôi thôi.
Ai dại dột cứ việc mà đứng,
có sao họ triệu đi làm chứng.
Sau còn trơ lại mỗi Chí Phèo
và cha con cụ bá nhìn theo.
Bây giờ cụ bá lại gần kế,
khẽ lay và gọi, “Làm sao thế,
anh Chí ơi?” Chí Phèo ngước lên,
con mắt chỉ he hé, giọng rên:
- Với bố con mầy, tao liều chết.
Nhưng tao chết có thằng sạt nghiệp,
mà còn rũ tù chưa biết chừng.
Nghe Chí Phèo nói thế, bỗng dưng
cụ bá cười nhạt, tiếng giòn giã:
người ta thường bảo rằng cụ bá
hơn người cũng bởi cái cười này.
- Cái anh này nói thế mới hay!
Ai làm gì mà anh phải chết?
Người chứ phải ngóe đâu dễ giết?
Anh Chí lại say rồi phải chăng?
Rồi giọng thân mật, cụ hỏi rằng:
- Vậy anh về từ bao giờ thế?
Sao không vào chơi, uống nước nhể?
Thấy Chí Phèo im, cụ tiếp thêm:
- Vào uống nước đã. Nào đứng lên.
Có gì cứ nói nhau tử tế,
cần gì mà thanh động lên thế,
người ngoài biết, mang tiếng cả làng.
Rồi xốc Chí Phèo, vừa phàn nàn:
- Khổ quá! Có tôi đâu đến nỗi.
Ta nói chuyện biết phải, biết lỗi
thì cái gì cuối cùng cũng xong.
Người lớn cả, đâu phải trẻ con,
một câu chuyện với nhau là đủ.
Chỉ tại thằng lý Cường nóng dữ
không chịu biết nghĩ trước nghĩ sau.
Ai chứ anh- nó, họ với nhau.
Họ với hàng Chí Phèo chẳng biết,
nhưng cũng thấy nguôi ngoai chút ít.
Hắn ra vẻ nặng nề, ngồi lên.
Cụ bá biết phần thắng về mình,
nháy mắt con một cái, cụ quát:
- Lý Cường đâu! Tội mầy khó thoát.
Vào bảo người đun nước mau lên,
sao không đi còn đứng đó nhìn!
Cụ dắt tay Chí Phèo đứng dậy,
giục thêm vài tiếng nữa sau đấy,
và Chí Phèo cũng chịu bước đi:
hắn cố khập khiễng như bị gì.
Là vì trong người rượu đã nhạt,
không còn chửi bới và la quát,
hắn thấy hăng hái như không còn.
Sự ngọt ngào làm hắn mềm lòng,
vả lại người đứng xem về cả,
hắn thấy mình như trơ trọi lạ.
Cái sợ cố hữu dậy bất ngờ,
cái sợ xa xôi thuở ngày xưa,
hắn thấy mình quả là táo bạo.
Không sao dám gây cha con lão,
bốn đời làm tổng lý còn gì!
Nghĩ, hắn thấy mình oai quá đi.
Ở làng nầy, hắn chả gì cả.
Không vây cánh, họ hàng nhờ vả;
anh em không, bố mẹ cũng không...
Ờ thế mà cũng độc lực ông
với lý trưởng, chánh tổng, chọi lại
bá hộ tiên chỉ làng Vũ Đại,
Chánh Hội đồng kỳ hào, huyện hào,
Bắc Kỳ nhân dân đại biểu cao,
khét tiếng đến cả trong hàng huyện.
Khắp cả cái làng nầy thử kiếm
mặt nào trong hai nghìn suất đinh
làm được một cái chuyện như mình?
Kể làm rồi chết cũng chịu vậy.
Vậy mà không: cái cụ bá ấy
lại xử nhũn mời hắn vào nhà
ngồi bàn chuyện và cùng xơi trà.
Thôi cũng hả, đã nhũn thì được.
Nhưng bỗng hắn lại hơi chùn bước;
biết đâu cái lão nầy lại lừa
vào nhà rồi chuyện lại dây dưa?
Ồ mà thật dám như thế lắm!
Này nó hãy lôi tròng cổ hắn
cái mâm, cái nồi, đồ bạc thau,
vợ con la lên, cột hắn vào,
chần một trận nên thân, vu cướp.
Cái thằng bá Kiến gì chẳng được,
già đời đục khoét há lẽ gì
mà chịu lép như trấu thế kia?
Thôi dại gì mà vào miệng cọp,
hắn cứ đứng đây này, cũng tốt,
lăn ra đây la toáng xem nào.
Nhưng nghĩ ngợi một tí dù sao,
hắn có lăn ra kêu đi nữa,
liệu có còn ai ra không chứ?
Vả lại bây giờ rượu nhạt rồi,
nếu lấy dao rạch cũng đau thôi.
Vào thì vào, cần quái gì chứ.
Nếu mà muốn đập đầu thì cứ
đập vào nhà nó hơn đập ngoài.
Cùng lắm, nếu phải chuyện không hay
nó bày trò lật lọng, giở quẻ
thì hắn chỉ ở tù có thế.
Ở tù với hắn là chuyện thường.
Thôi cứ vào, khỏi ở ngoài đường.
Vào rồi, mới biết cái hắn sợ
là hão huyền và không chứng cớ.
Bá Kiến muốn dàn xếp cho yên.
Không phải cụ tỏ ra đớn hèn,
chính cụ khôn róc đời chẳng phải,
cái khôn ngoan người xưa đã dạy:
thứ nhất là sợ kẻ anh hùng,
thứ hai là sợ đứa khốn cùng.
Chí Phèo không anh hùng là chắc,
nhưng liều lĩnh thì khỏi thắc mắc.
Chấp đứa liều lĩnh đâu phải khôn!.
Thế nào là mềm nắn, rắn buông?
Cái nghề làm quan, nếu nhất nhất
cái gì cũng đè đầu xuống đất
thì chỉ có bán nhà sớm thôi.
Cụ đã dạy lý Cường thế rồi.
Vũ dũng như hắn mà lý trưởng
là nhờ có cụ chứ đừng tưởng.
Cụ mà chết đi rồi thử xem
“chúng nó” lại không cho bùn đen
Tiếng vậy, làm tổng lý cũng khổ
Làng nầy, hơn hai ngàn dân số,
xa phủ tỉnh, kể cũng dễ ăn
nhưng không phải lý trưởng lên làm
rồi cứ ngồi mà khoét từng tý.
Hồi năm nọ, có thầy địa lý
qua đây bảo thế đất của làng
là “quần ngư tranh thực” rõ ràng,
vì thế bọn đàn anh trên trước
chỉ là đàn cá tranh mồi nước.
Mồi thì ngon đấy, miễn phải bàn,
nhưng năm bè, bảy mối giành ăn.
Ngoài mặt với nhau rất tử tế
nhưng trong bụng không phải như thế;
lúc nào cũng cầu nhau lụn tàn
để cưỡi lên đầu cổ giành ăn.
Ngay Chí Phèo đến đây kiếm chuyện
biết đâu có thằng đã ẩy đến?
Nếu cụ không chịu nhịn có khi
làm to chuyện tốn tiền thêm nguy.
Cái nghề quan bám thằng có tóc
có ai lại đi bám thằng trọc?
Bỏ tù nó chuyện cũng dễ thôi;
nhưng ngày nó ra được tù tồi
liệu nó để mình yên không đó?
Cụ phải cái vụ thằng năm Thọ,
mãi đến giờ còn nhớ chưa quên.



(Còn tiếp)

Nguyễn Tường
New York

READ MORE - CHÍ PHÈO DIỄN CA (2) - Nguyễn Tường