Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, April 14, 2025

NHÌN VỀ NGÀY PHẬT ĐẢN 2025 - PL 2569 - Mặc Phương Tử

 



NHÌN VỀ NGÀY PHẬT ĐẢN

2025 - PL 2569




    Đức Phật xuất hiện trên thế gian, đến với thế gian, cùng có mặt trong thế gian...  không gì khác hơn Ngài chỉ là bậc Đạo Sư hướng dẫn con người bằng một Thông Điệp đi trên đường hạnh phúc an vui, chấm dứt những đau khổ ngay trong kiếp sống hiện tại.


    Vườn Lâm Tì Ni là nguồn cội của Bình Đẵng - Từ Bi - Trí Tuệ. Và rằng:

    “Không có vai cấp trong dòng máu cùng đỏ, trong dòng nước mắt cùng mặn”, trong bối cảnh xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, và cũng như hiện nay.


    Điểm đặc thù qua lời dạy của Đức Phật là:  Sự tận diệt của mọi tội lỗi từ người đã "THẤY & BIẾT", chớ không phải từ người Không Thấy và Không Biết, bởi;

                              “Dễ làm các điều ác

                                Dễ làm các điều hại.

                                Còn các điều lành, điều tốt,

                                Thật tối thượng khó làm.”


    Ngoài ra, Đức Phật còn giúp con người luôn tư duy hướng về sự thật (chơn  lý), qua tinh thần lời dạy của Ngài đến với người dân Kalama... “Đừng tin tưởng khi nghe nói lại, những phong tục tập quán truyền thống, những lời đồn kinh sách truyền tụng.v.v... Nếu xét thấy không hợp lý tính giáo dục, đạo đức nhân tính...”


    Đức Phật còn quan tâm đến những mối quan hệ trong mọi hình thức xã hội như: Cha mẹ, Thầy trò, Chồng vợ, Anh em, Bạn bè, Chủ tớ, đến Tu sĩ và thế tục.



    Đức Phật cũng dạy về việc xây dựng cuộc sống khi có được tài sản trong gia đình như: “...Do công sức được tạo ra đúng pháp, thụ hưởng đúng pháp, phụng dưỡng cha mẹ, gia đình đúng pháp, biết giứp đỡ việc làm công ích xã hội (phước thiện), không bị mắc nợ điều gì... Không ác về LỜI, về THÂN và về TÂM Ý. Cốt để duy trì sự sồng an lạc, hạnh phúc, ích lợi lâu dài...”


    Đồng thời, Ngài còn trọng tâm giúp cho các hàng đệ tử muốn cần cầu pháp Vô thượng an ổn các triền ách, để chứng các Thánh quả ngay trong hiện tại. Như vậy, hầu hết và trước hết, Đức Phật giúp con người nhận thức sự nguy hại của những tội lỗi để không còn đau khổ, đuọc an vui, hạnh phúc lâu dài cho chúng sanh, chư thiên và loài người.


    Hướng về ngày Đức Phật thị hiện vào đời, là hướng đến các thiện pháp, các tịnh pháp, để tịnh hoá tâm hồn trong mỗi con người. Và cũng là nghĩa cử kính niệm đến BI ĐỨC, TỊNH ĐỨC và TUỆ ĐỨC của Đức Phật và chư Thánh đệ tử đã và đang hiện hoá vào đời.


    Vì rằng;

“...Nơi bất công,

Phật hiện thân Bình Đẵng,

Cõi tử sinh,

Diệu lý Phật vô sinh.

Trong Bi-Trí,

Phật xoá lòng cừu hận,

Trong đau thương,

Phật siêu hoa một Tình Thương.

Phật đâu toạ toà sen vàng ngất nghễu,

Trong lòng đời, lòng Phật vẫn mênh mông.”


Califonia, Westminster, 

Mùa Phật Đản 2569, 2025.

MẶC PHƯƠNG TỬ

tamminh2025@yahoo.com



                    


READ MORE - NHÌN VỀ NGÀY PHẬT ĐẢN 2025 - PL 2569 - Mặc Phương Tử

THẬP TỰ MỌC NHÁNH KHÔ - Thơ Jos Nhật Quang

  

 

Nhà thơ Jos Nhật Quang

 

THẬP TỰ MỌC NHÁNH KHÔ

  

Thập tự cằn cỗi trên đồi hoang

từng cơn gió hú lạnh lùng qua vết nứt thời gian

chẳng còn ai nữa quỳ gối dưới chân Ngài

những rễ khô  vươn lên ôm thân gỗ mục

 

Đêm hoang vu buông ánh trăng gầy

Thập tự đứng lăng im

chỉ còn lời gió hát

bài Thánh ca đau thương trên thân gỗ đã bạc màu

  

Tiếng chuông nhà thờ đã chìm sâu vào giấc ngủ

để lại những khoảng trống

đầy vết bụi thời gian

những giọt nước mắt hòa chung dòng máu Thánh nơi đây

giờ chỉ còn rêu xanh phủ kín

mọc từ vết thương xưa

  

Thập tự còn đứng đó

dẫu đã mọc nhánh khô

vẫn lặng lẽ ôm nhân gian vào lòng

ngày tháng qua như cơn mưa hồng phúc

đọng lại nơi chân đồi một niềm tin. 

 

                                Jos Nhật Quang

                                 nhatquang18@gmail.com

READ MORE - THẬP TỰ MỌC NHÁNH KHÔ - Thơ Jos Nhật Quang

ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch




VÀI LỜI PHI LỘ:

Đại lão hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, người mà bất ký tôn giáo nào cũng kính phục. Ngài viên tịch, để lại vô vàn nỗi niềm thương tiếc cho những ai biết đạo lý làm người. Chúng tôi không phải là nhà phê bình thơ, không phải là người có học, không phải là người Phật tử, chỉ là người yêu thơ. Bởi kính trọng nhân cách làm Người của ngài và nhân cách thơ của ngài, chúng tôi rung động đặc biệt với 7 bài thơ của ngài, nên viết cảm nhận về 7 bài thơ ấy. Đó là những bài thơ:
- Khung Trời Cũ -Mưa Cao Nguyên -Hận Thu Cao -Ác Mộng -Bài Thơ Cuối Cùng - Loạn Thị -Tống Biệt Hành.
Hôm nay mời quý vị đọc cảm nhận bài thơ “Loạn Thị”. Mong góp cho đời chút hương vị thi ca. Trân trọng!
                      Châu Thạch
 
LOẠN THỊ
 
Cắt gân máu chiêm bao quỉ hiện
Ai làm gì bên chiếc ghế mây
Vách tường trắng bàn tay năm ngón
Một bông hồng năm cánh đang xoay
Chồng gối cao không thấy mặt trời
Trên khung cửa con chim thắt cổ
Đàn kiến bò hạt cát đang rơi
Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa
                                         Tuệ Sỹ
 
ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ 
                                                               Châu Thạch
 
Loạn thị là gì? Loạn thị (Astigmatism) là tật khúc xạ ở mắt do giác mạc ghi nhận những hình dạng khác thường so với hình thực tế… Những tia sáng khi đi vào mắt thay vì hội tụ lại một điểm lại bị khuếch tán trên võng mạc, khiến hình ảnh thu được có hình dạng méo mó và nhoè. Bài thơ trên đây tuy lấy tựa đề là “Loạn Thị” nhưng ta không thấy gì là loạn thị như định nghĩa ở trên mà có vẻ như là tác giả đang bị rối loại tâm thần nên cái nhìn thấy toàn ảo giác
 
Rối loạn tâm thần là bệnh gây ra những nhận thức cùng suy nghĩ lệch lạc, đặc trưng bởi triệu chứng ảo giác và ảo tưởng. Trong đó, ảo giác là người bệnh thấy những hình ảnh hoặc nghe được âm thanh không có thật. Có rất nhiều dạng rối loạn tâm thần gây ra nhiều triệu chứng khác nhau, cũng không có biện pháp chắc chắn nào để ngăn ngừa các căn bệnh này một cách hoàn toàn.
 
Nhà thơ Tuệ Sỹ là một thiền sư đức cao trọng vọng, ngài có tinh thần thép được minh chứng qua những năm tù tội nhưng vẫn tỉnh táo, được người Phật tử tôn vinh là đại trí đại bi, như thế việc nói ngài bị rối loạn tâm thần thì không thể có.
Vậy bài thơ “Loạn Thị” chắc chắc là một bài thơ có ý nghĩa sâu xa siêu việt.
 
Chưa thấy một nhà phê bình văn học hay một học giả nào đề cập đến bài thơ nầy. Châu Thạch tôi mạo muội viết những cảm nhận về bài thơ nầy chỉ theo cảm quan hẹp hòi và thiển cận của mình. Kính mong qúy vị, đọc và xem như câu chuyện mạn đàm để tưởng nhớ một vị thầy đáng kính của nhân gian, vì khó ai hiểu được bài thơ nầy cho tường tận, nhưng trong đáy lòng, ai cũng biết bài thơ nầy là “Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu”.
 
Đọc câu thơ đầu tiên : “Cắt gân máu chiêm bao quỷ hiện”:

Sách vở đề cập đến nhà thơ Tuệ Sỹ tuyệt thực nhiều ngày nhưng không có ai nói đến ngài cắt gân máu mình mà tự tử.
Trong Phật giáo người tự sát phạm vào 3 tội nặng:
1 - bất hiếu với song thân.
2 – phụ bạc phúc báu có được thân người.
3- ngu si, vô tri, làm cho thần thức chìm trong thống khổ triền miên.
Vậy Tuệ Sỹ là một vị thượng tọa, ai cũng biết ngài có gan đội đá vá trời, bị kết án tử hình, nhà nước biểu viết đơn xin tha mới trả tự do nhưng ngài không viết, thì ngài không cắt gân máu mình để chết vô ích bao giờ. Như thế ta có thể hiểu câu thơ “Cắt gân máu chiêm bao quỷ hiện” chỉ nằm trong một giấc chiêm bao nào đó của ngài Tuệ Sỹ mà thôi.
 
Câu thơ thứ 2 “Ai làm gì bên chiếc ghế mây”:

Nhà thơ thấy một người loay hoay đang làm gì bên chiếc ghế mây. Trong cơn mơ mình thấy mình rất hay xảy ra với mọi người. Đọc câu thơ nầy ta có thể hiểu ngài Tuệ Sỹ thấy chính phách của ngài trong một trạng thái chăm chỉ vào một công việc nào đó. Ta có thể tưởng tuợng nhà thơ mơ thấy mình đang đan một chiến ghế mây, là đang tạo hình một đồ vật, đồ vật đó bằng mây, mây mang hình ảnh có sức chịu đựng dẻo dai bền bỉ. Với Tuệ Sỹ có thể hiểu là ngài đang chiêm bao thấy hình ảnh của ngài kham nhẩn tu tập và đấu tranh cho công bằng xã hội, cho đất nước quê hương.
 
Câu thơ thứ 3 và thứ 4 “Vách tường trắng bàn tay năm ngón/ Một bông hồng năm cánh đang xoay”:

Hai câu thơ nầy có thể hiểu nhà thơ Tuê Sỹ chiêm bao thấy có một bàn tay như đóa hoa hồng 5 cánh đang xoay trên vách tường. Bàn tay mang nhiều biểu tượng cảm xúc tùy theo hình ảnh của nó. Bàn tay mở ra, bàn tay đưa cao, bàn tay úp lại đều có ý nghĩa khác nhau. Bàn tay đang xoay tượng trưng cho sự vận hành của một công việc hay một lý tưởng. Bàn tay đang xoay lại là một bàn tay giống đóa hoa hồng 5 cánh thì ta có thể hiểu nó tượng trưng cho một tình yêu đang vận hành. Tuệ Sỹ là một nhà sư, còn là một nhà ái quốc, vậy ngài mơ thấy bàn tay như đóa hoa hồng đang xoay là mơ thấy lý tưởng của chính ngài đang thực hiện, đang ấp ủ trong lòng mình.
 
Qua hai câu thơ thứ 5 và thứ 6 “Chồng gối cao không thấy mặt trời/Trên khung cửa con chim thắt cổ”:

Hai câu thơ nầy đối chọi nhau. Nhà thơ thấy một hiện tượng rất to lớn xảy ra. Đó là hiện tượng những chiếc gối chồng lên nhau che cả mặt trời, và hiện tượng một con chim nhỏ bị thắt cổ nằm trên khung cửa. Chồng gối che khuất mặt trời là hình ảnh của những khó khăn, nghịch cảnh, bất công làm che đi mặt trời công lý. Con chim bị thắt cổ là thân phận bé nhỏ của chính ngài, bị bóp chết tình thương yêu tha nhân và ái quốc của mình, như con chim kia không được bay vào không gian mà đem thắt cổ nó trên khung cửa, khung cửa là nơi chỉ nhìn thấy bầu trời tự do mà mơ ước.
 
Hai câu thơ cuối cùng, nhà thơ mang niềm hy vọng cho lý tưởng và cho dự phóng tương lại: “Đàn kiến bò hạt cát đang rơi /Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa”:

Đàn kiến đang bò tượng trưng cho hệ sinh thái môi trường không tốt, vừa tượng trưng cho sự đoàn kết, kiên trì, đấu tranh cho cuộc sống. Hạt cát tượng trưng sự nhỏ bé nhưng cứng cỏi và bền bỉ giữa sự vô thường của chuyển dịch trong đời mà cát phải gánh chịu. Nhà thơ Tuệ Sỹ cuối cùng không còn loạn thị nữa, ngài đã hiểu ý nghĩa giấc chiêm bao của mình, và ngài nhắm mắt trầm ngâm trong ánh lửa, để thấy ánh sáng cuối chân trời là sự thành công của đàn kiến về tổ, nhờ nó kiên trì và cứng cỏi như hạt cát kia, hay đúng ra, nhà thơ hy vọng một tương lai tốt đẹp cho dự phóng của mình:
 
Đàn kiến bò hạt cát đang rơi
Tôi nhắm mắt trầm ngâm ánh lửa
 
“Loạn Thị” là một bài thơ được sáng tạo thuần túy tâm linh, đọc nó ta cảm nhận được hình ảnh chói lòa của giấc mơ, nó làm ta rợn người như thấy ma quái, nhưng nó có thể đưa ta qua nhiều tâm trạng lo sợ, buồn đau, uất ức, suy tư và hy vọng xa vời. Đây là một bài thơ chất chứa nỗi lòng của một bậc hiền sĩ mang chí lớn, đang vùng vẩy trong thân phận bị quản thúc, tù đày, buồn tê tái. Đọc bài thơ dễ làm cho con tim ta quặn thắt, đồng cảm với giấc chiêm bao như cắt gân máu thấy quỷ hiện ra của ngài Tuệ Sỹ.
                                                                                                               Châu Thạch
READ MORE - ĐỌC “LOẠN THỊ” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch

Saturday, April 12, 2025

Thursday, April 10, 2025

CHỚM XUÂN NƠI MIỀN ĐẤT LẠNH - Thơ Trần Đức Phổ

 

Nhà thơ Trần Đức Phổ


Chớm Xuân Nơi Miền Đất Lạnh

 

Tháng Tư mùa xuân trở lại

Nắng vàng trải lụa trước sân

Cỏ non xanh màu lá mạ

Thay cho màu tuyết trắng ngần

 

Dòng sông nước đầy ăm ắp

Cuồn cuộn ráng chiều phù sa

Đôi bờ vạt hoa xuyên tuyết

Vượt lên đón gió đong đưa

 

Cành phong ngập ngừng mấy búp,

Xoe tròn chim sẻ mắt nâu

Dường như chúng đang ngây ngất

Sắc hoa rực rỡ anh đào

 

Tầng không vòm trời xanh biếc

Trong veo chẳng gợn hơi sương

Từng đàn ngỗng trời háo hức,

Gọi nhau trở về cố hương

 

Bên hiên một người xa xứ

Đăm đăm ngó cánh chim bay,

Cúi đầu lặng im không nói

Bụi rơi vào mắt cay cay.

 

April 3, 2025

tranducpho

READ MORE - CHỚM XUÂN NƠI MIỀN ĐẤT LẠNH - Thơ Trần Đức Phổ

ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ HAI CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà



ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ HAI CỦA HOÀNG UYỂN VĂN


Hoàng Uyển Văn tên thật là Nguyễn Văn Hòa, ông sinh năm 1956 tại Phú Nhơn (xưa) Thành Nội Huế, trưởng thành tại Phú Yên, hiện sinh sống làm việc tại Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh. Tác phẩm đã xuất bản: Qua mùa khói chênh vênh (Nxb Thuận Hóa tháng 8/2024). Cuối năm 2024, ông gửi cho tôi bản thảo chuẩn bị in tác phẩm mới có tựa đề: Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em, dự kiến xuất bản vào tháng 3/2025.

Ông làm thơ cách đây mấy chục năm rồi (theo ngày tháng ghi sau một số bài thơ) Tuy nhiên mãi đến năm 2024, ông mới nhờ nhà thơ Võ Thị Như Mai tập hợp biên tập, viết lời tựa và in ấn tập thơ đầu tiên Qua mùa khói chênh vênh dày hơn 200 trang. Ấn phẩm xinh xắn, nội dung phong phú với nhiều bài thơ chất lượng. Và bây giờ tập thơ thứ hai, tác giả lấy tên một bài thơ tâm đắc để đặt tựa cho tập thơ Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em. Tập thơ này cũng dày hơn 200 trang với nhiều bài thơ hay. 

Tôi gặp ông vào dịp ra mắt sách “Giá để ngày ấy em chờ” của Nhịp Điệu Việt. Gương mặt hiền, tuy tuổi đã lớn nhưng vẫn nhanh nhẹn, từng trải, dấu vết của thời gian và những thăng trầm của cuộc sống cũng đọng lại trên khuôn mặt, mái tóc điểm sương và những vần thơ đầy xúc cảm. 

Tập thơ Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em chiếm đa số là những bài thơ tình. Đặc biệt thơ tình buồn của mất mát chia ly nhưng lời thơ vẫn thiết tha, say đắm. Giọng thơ nhẹ nhàng đằm thắm mà không kém phầm ngọt ngào và lãng mạn.

“Ta về gom lại chiêm bao/ Nghe dư âm cũ mời chào ngày trôi/ Mùa yêu đã cũ bên trời/ Còn ta lãng đãng bóng người qua hiên” (Còn đây ta với dư âm cùng người). 

Tình đã qua, mùa yêu đã cũ, ta vẫn còn đứng lại với chiêm bao, với “bóng người qua hiên” với dư âm ngày cũ. 

Thi nhân luôn sống khiêm tốn, ẩn mình một cách lặng lẽ, yêu âm thầm, dẫu biết rằng quy luật khó tránh khỏi: hợp rồi tan: “Ta giấu mình đêm trong vỏ ốc/ Nghe khuya đồng vọng tiếng muôn trùng/ Chờ mỏi đàn chim di viễn mộng/ Đem về cho một nhánh mây tan...”

Yêu và chia tay trong lặng lẽ, thơ cũng nhẹ nhàng dẫu tình ly tan cũng day dứt lắm nhưng giọng thơ hiền như chính cho người thi nhân, không vồ vập, cuồng nộ, không gào thét, cũng không quay quắt tiếc nuối.

Cho dẫu viết thơ tình thời hiện đại, viết về tình yêu đôi lứa thi nhân không cần phải đặt nặng về nhục cảm, cồn cào da thịt hay bão liệt đường yêu. Giây phút bên nhau cũng chỉ là mùi hương tóc bên gối, nụ tình ngày xuân. “Anh sẽ về, nghe hương tóc em/ Để tìm trong suối tóc hương đêm / Để nghe thương nhớ vùi thương nhớ/ Một thuở tình xanh xưa ngỡ quên”(Anh sẽ về). “Trăng tà nguyệt tận mù sương/Ta về đắm giữa hoang đường môi em" (Nguyệt tận) 

Nhẹ nhàng vậy thôi nhưng thấm, cái thấm của hương gây mùi nhớ. Mùi hương tóc của người thương, đeo đẳng trong suốt cả một đời thi nhân. Khi có nhau, tình xuân là bất biến, là mãi mãi lưu giữ trong tim. Những giây phút bên nhau là những giây phút sẽ đi vào vĩnh cữu: “Bao mùa cũ xa trôi/ Chỉ mùa yêu dừng lại/ Khi ta có nhau rồi/Tình xuân là mãi mãi” (Tình xuân)

Khi buộc phải chia biệt thì cũng thi nhân cũng biết chấp nhận cái sự lỡ làng của duyên phận. Tình tan dẫu thoáng nhẹ hều trên câu chữ nhưng dư âm thì vẫn lắng vào thơ có khi đeo đẳng cả một đời, không thể phôi phai. “Vòng tay em khép mùa thu lại/ Bờ bãi hồn tôi ngập lá vàng /Rồi từng thu đến, từng thu chết/ Lá vàng tôi khóc gió thu sang” (Dấu thu). 

Người làm thơ chuyên nghiệp nói chung và Hoàng Uyển Văn nói riêng có một hồn thơ tình da diết lãng mạn nhưng buồn và cô đơn. Một mình đối diện với chính mình và có lẽ trong tận cùng cô đơn người ta mới có thể viết nên những vần thơ hay, mới chạm tới con tim của giới mộ điệu thơ tình: 

“Hồn ta sỏi đá nghìn năm tuổi/Thơ ấu bao giờ dưới gót em/ Xin bước em về mưa phố núi/ Xanh lại rong rêu mấy bậc thềm” (Xin bước em về) 

Hoàng Uyển Văn làm thơ cho mẹ, cho người thân tuy không nhiều như số lượng thơ tình nhưng những vần thơ dành cho mẹ là những vần thơ hàm súc, giàu ý nghĩa của đứa con hiếu thảo với một niềm hiếu kính thiêng liêng. Thơ nói lên nỗi vất vả gian truân của mẹ qua hình tượng “thân cò”, “đôi vai”, cô động mà đủ ý: “Mẹ dồn cả tuổi thanh xuân/ Thân cò trĩu nặng những gian truân đời/ Đôi vai Mẹ gánh cả trời/ Gánh cả một đời, nuôi lớn khôn con...” (Đôi vai)

Đời người là hữu hạn, thoáng đó, mất đó nhất là trong chiến tranh. Khi đứng trước nghĩa trang chiều hiu quạnh người thơ động lòng trắc ẩn, rung lên những tiếng nấc buồn trong thơ: khóc cho người vắn số, khóc cho kiếp người hữu hạn và khóc cho chiến cuộc điêu linh: “Anh nằm xuống, mộ phần đau ngọn cỏ/ chiều nghĩa trang buồn nghiêng đổ xuống thiên thu/ giờ tìm đâu pho tượng tạc thân anh/ để khóc nhớ bơ vơ từng phần mộ lạc” (Khóc những hoang mồ không một nén hương).
     Tôi chỉ gặp ông có một, hai lần trong dịp ra mắt sự kiện sách của Nhịp Điệu Việt và họp mặt nhóm nhỏ của bạn bè Như Mai. Qua thơ cho thấy ông là một người thích đọc thơ, mê thơ. Ông kể từ hồi lớp 11 đã đọc và hâm mộ các nhà thơ tiền bối vì lẽ đó trong thơ đã có sự kế thừa và ảnh hưởng hơi thơ của các nhà thơ tên tuổi trên thi đàn như Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê… và có ảnh hưởng cả chất ca dao. Tuy nhiên Hoàng Uyển Văn vẫn tạo ra giọng thơ cho mình qua cảm quan nghệ thuật trước cảnh vật, tâm trạng đầy sáng tạo. Thơ phản ảnh cuộc sống ở thời đại mình đang sống và gửi gắm nỗi niềm của mình với bạn đọc theo cách riêng của nhà thơ.

Ảnh hưởng của cố thi sĩ Hàn Mặc Tử và thi ca cổ điển khi ông có cảm hứng nghệ thuật về trăng. Dĩ nhiên trăng không có muôn mặt như trăng Hàn thi sĩ hoặc nhìn vẻ đẹp của trăng để ngâm hoa vịnh nguyệt như thơ cổ điển. Vầng trăng của ông đơn giản đôi khi là bạn hay đóng vai một tình nhân. Thi nhân cũng có cuộc tình với trăng và khi tỉnh dậy thì trăng đã vuột mất, có tiếc nuối, nhưng niềm tiếc nuối nhẹ nhàng không dằn vặt đớn đau. “Đêm qua ôm trăng ngủ/ Tỉnh mộng, trăng đi rồi/ Biết nơi nào trăng náu/ Mà gọi trăng về chơi” (Vầng trăng qua đời) 

Đọc thơ của Hoàng Uyển Văn chúng ta thấy một người thơ phong trần, lãng tử với hồn thơ lãng mạn và yêu thơ đến kiệt cùng. Trong thơ hiện ra một thi nhân với cõi lòng luôn cô đơn, trống vắng, cuộc sống thanh đạm với bút pháp thơ trữ tình. Phần lớn là thơ tình buồn. Có thể ngoài đời ở nơi xa vẫn có một mái ấm gia đình. Ông cũng đã chăm lo cho con cái học hành trưởng thành. Khi bước vào tuổi bên kia triền dốc của cuộc đời, ông với dáng người hơi gầy, vẫn nhanh nhẹn, vẫn đi làm xa nhà hàng trăm cây số, có khi cả năm mới về thăm nhà một lần. Ông bảo: “Làm để nuôi thơ”. Thi nhân nuôi thơ chứ thơ chưa nuôi ông. Đi làm để thấy mình còn khỏe mạnh, mình còn có ích cho đời. Các cụm từ phản ánh cuộc sống phong trần gió bụi, tâm trạng buồn và chất ngất nhớ nhung: Hồn cô lữ, trắng đôi tay, giang hồ sông nước, biệt ly, giọt sầu, “Sân ga tôi cũng làm phiêu bạt/ Mượn lá thu vàng gói nhớ nhung”. Có lẽ nhờ vậy thi nhân mới vắt ra những vần thơ hay từ cuộc sống của mình. 

“Thôi nhé! Từ nay...Thôi từ nay/ Giang hồ sông nước đã bao ngày/ Vẫn nghe giá buốt hồn cô lữ/ Khói thuốc hoài hương gió thoảng bay” (Chút gió ngậm ngùi) 

Về hình thức trình bày: Tác giả Hoàng Uyển Văn diễn đạt nỗi niềm qua các thể thơ: Thơ lục bát, thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ tự do với những câu thơ dài ngắn khác nhau, có khi chỉ là câu hai hoặc ba, bốn từ, thơ có vần và thơ không vần,…Thơ hay là thơ xuất phát từ cảm xúc chân thành dĩ nhiên thông qua kỹ thuật và ngôn từ nhưng yếu tố nội dung vẫn là quan trọng nhất. Có lẽ đối với phần lớn độc giả, những bài thơ cố gắng gò theo một trật tự nào đó có tính cầu kỳ và khiên cưỡng của hình thức không thuyết phục tôi và nhiều bạn đọc khác bằng cách viết tự nhiên bằng chính cảm xúc của mình, dĩ nhiên muốn có thơ hay còn phải tùy thuộc vào tài năng của người làm thơ. Thơ Hoàng Uyển Văn phong phú về hình thức diễn đạt bằng nhiều thể loại. Nhưng ấn tượng với tôi hơn cả là những vần thơ bảy chữ, thơ năm chữ và thơ lục bát. Ở ba thể loại này ông có những bài thơ hay, những câu thơ hay: “Hồn ta sỏi đá nghìn năm tuổi/ Thơ ấu bao giờ dưới gót em/ Xin bước em về mưa phố núi/ Xanh lại rong rêu mấy bậc thềm” (Xin bước em về)          

“Dấu chân ta vẫn dã tràng/ Biển và em vẫn mênh mang vô thường/ Trăng tà nguyệt tận mù sương/ Ta về đắm giữa hoang đường môi em” (Nguyệt tận) 

“Thế rồi người đi mãi

Tôi cũng vào lênh đênh

Thuyền xưa không bến đỗ

Dòng sông buồn chênh vênh”.

(Hạ ơi) 

Thơ Hoàng Uyển Văn cũng phảng phất hơi hướng Nguyễn Bính. Khi ông nói về cô liêu, nỗi buồn, sự cô đơn của thân lang bạt rày đây mai đó, có cảnh thanh bần của thi sĩ và có cả những cuộc tình không trọn vẹn. “Lòng ta hôm ấy đi đâu vắng”. Thơ ông cũng có nhiều ẩn dụ, tác giả nói với trăng, hay nói với bạn đọc, lời dặn dò cho mai sau bởi biết đời người là hữu hạn, vầng trăng (nhân vật trữ tình dùng để đối thoại, bày tỏ nỗi niềm). Vầng trăng, vũ trụ thì vô biên, bạn đọc thế hệ này có thể tiếp nối thế hệ khác còn thi nhân thì đến một lúc nào đó cũng phải “về” thôi. Về là đi vào viên miễn. Lời dặn, cũng là lời chào với trăng với bạn đọc và hậu thế.  Những câu thơ sau gieo vào lòng người đọc một chút chơi vơi, ưu tư, chiêm nghiệm, một chút bùi ngùi và rất nhiều xúc cảm. 

“Đã trót quen chân lữ khách rồi/ Một đời ở trọ với mây trôi/ Dăm cuộc chia tay hình bóng cũ/ Rồi nhớ, rồi quên...Những kiếp người/ Cứ thế tôi đi giữa cuộc đời/Dại khờ như một nhánh rong trôi/ Bàn tay vẫn trắng câu thành bại” (Vầng trăng ở lại).

Có thể nói ở tập thơ này Hoàng Uyển Văn đã gửi gắm những cảm xúc chân thành. Bao nỗi vui buồn về tình yêu hạnh phúc hay cách xa chia biệt đầy suy ngẫm, chiêm nghiệm qua lăng kính nhà thơ. Cảm xúc dạt dào của nhà thơ gửi vào câu chữ ở tập thơ trước đã để lại ấn tượng khó quên với không ít bạn yêu thơ. Tập thơ thứ hai Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em, lần nữa chứng tỏ Hoàng Uyển Văn là một nhà thơ tràn đầy nguồn cảm xúc. Ông sử dụng thành thục các thể thơ từ lục bát truyền thống cho đến các thể thơ mới, thơ tự do. Thơ giàu nhạc tính, diễn tả tâm trạng, cảm xúc đậm đà, tinh tế và giàu hình ảnh. Ngôn từ bình dị có giá trị biểu đạt và dễ hiểu. Từ ngữ được chọn lọc thích hợp để gieo vần, tạo nên những vần thơ mượt mà trau chuốt, cô đọng, tinh tế. Thơ về tình yêu, tình đời với những sắc thái tình cảm và cách diễn đạt phong phú dễ đi vào lòng người! 

Hi vọng tác phẩm của nhà thơ Hoàng Uyển Văn đóng góp thêm một giọng thơ giàu âm hưởng trữ tình. Bạn đọc chờ được khám phá vẻ đẹp của tập thơ mới trong thời gian sớm nhất của quý 1/ 2025 với những bài thơ giàu cảm xúc và ý nghĩa.


     Sài Gòn, ngày 4/02/2025.

Hoàng Thị Bích Hà   

        habich1963@gmail.com




READ MORE - ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ HAI CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà

TRANG THƠ HUỲNH LIỄU NGẠN: LỤC BÁT VỀ HUẾ - Màu trăng cô lữ / Đuổi trăng lên đồi / Bỏ Huế mà đi

 



HUỲNH LIỄU NGẠN

LỤC BÁT VỀ HUẾ

 

MÀU TRĂNG CÔ LỮ

 

anh về đứng ở thừa thiên

màu trăng cô lữ còn nghiêng giữa dòng

tóc dài em thả bến sông

ánh sao màu nhạt còn long lanh chiều

 

mắt em bay bổng mỹ miều

trên mui vạt nắng ít nhiều đông ba

anh vô ngã giữa tam tòa

màu trăng cô lữ rẽ qua âm hồn

 

ngó về vỹ dạ mưa tuôn

dòng sông thả nhánh cây buồn chỏng chơ

anh chờ thành nội ngu ngơ

kéo tay em lại mộng mơ tháng ngày

 

mưa chi mưa cứ làm đày

để tóc em ướt guột gầy mùa đông

rồi về theo gió hướng sông

nhìn vai em mộng qua đồng chợ mai

 

lên xe cửa thuận trăng cài

áo em mỏng dính hương lài thôn anh

màu trăng cô lữ khuynh thành

cho em xỏa tóc trời xanh ngắm nhìn

 

bóng chiều rụng lá vàng hiên

nước trôi cầu gãy mẹ hiền ru con

mắt kia em có hao mòn

nhìn con cá lội không còn vẫy đuôi

 

anh đi lụt lội năm rồi

màu trăng cô lữ đã trôi lên trời.

 

17.9.2020

 

ĐUỔI TRĂNG LÊN ĐỒI

 

qua cầu đứng đợi ánh trăng

của hai nhánh tóc chia ngăn lối về

bên ni ngó sang bên tê

mà sương khói cũng lê thê dặm trường

 

những chiều nắng rải mùi hương

trôi theo ngon lá sầu vương lên cành

đôi lòng cách một trời xanh

bóng em hư ảo tan nhanh giữa dòng

 

lặng nhìn mặt nước uốn cong

qua đông tới hạ long đong phượng hồng

đời như sầu rụng mệnh mộng

giữa trời huế mộng chiều dông mưa đầy

 

xa như vạn cổ nào hay

đã làm ướt hết hàng cây huế rồi

làm sao đuổi trăng lên đồi

cho hơi thở được đôi môi huế chờ

 

theo từng nhịp bước hoang sơ

lạnh vòng tay áo hững hờ em đi

chiều nay huế mộng mơ gì

để tình huế chạm xuân thì mà say

 

bên thềm mái tóc nhẹ bay

thấy em mở áo lùa mây vào lòng

gió làm hanh ngon sầu đông

em qua không kịp huế trông cũng gầy

 

nhớ hoài bữa ấy đến nay

cứ xao xuyến từng ngón tay rẽ đường

thôi đừng hẹn nữa tơ vương

chỉ là giấc mộng hoang đường trần ai

 

bên hiên phượng nở một vài

bông hoa rơi xuống đem cài tim anh

tìm đâu màu tím long lanh

của đội mắt huế vây quanh trường tiền.

 

16.3.2022

 

BỎ HUẾ MÀ ĐI

 

tôi về huế gặp trời mưa

định vô ngã giữa nhưng trưa mất rồi

lòng tôi như gió trên đồi

thổi qua núi ngự khi ngồi ngó lên

 

trăng còn giấu tuổi giấu tên

để cho huế cứ ngồi trên ngai vàng

tôi về lông cũng xốn xang

bến xưa đò cũ chèo ngang dọc mời

 

những ngày thiên cổ lên ngôi

rêu phong ngói đỏ trầm môi lại đời

nghe chiều tịch lặng mù trôi

tôi nghiêng về phía sầu côi cút mình

 

ngỡ rằng mưa cứ làm thinh

chải thêm mấy nhịp cầu tình xót xiêu

áo bay tận phía trời chiều

hàng cây và gió mỹ miều đuổi theo

 

dòng sông thương núi nhớ đèo

muốn vô thành nội quê nghèo có vua

tôi nghe một tiếng chuông chùa

nên đành bỏ huế vạn mùa mà đi.

 

30.6.2023 

HUỲNH LIỄU NGẠN

hiephuynh479@gmail.com

READ MORE - TRANG THƠ HUỲNH LIỄU NGẠN: LỤC BÁT VỀ HUẾ - Màu trăng cô lữ / Đuổi trăng lên đồi / Bỏ Huế mà đi

TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG - Con hẽm nhỏ yêu thương / Vững lòng bước qua nỗi buồn vui / Chia xa / Một chút thôi em, ừ một chút....

 

Nhà thơ Lê Thanh Hủng

Con hẽm nhỏ yêu thương


Có một bữa em về qua phố

Dung dăng chiều, ngang tuổi năm mươi

Điều gì đó, giờ đây hé lộ

Nhẹ nhàng rơi, trong vắt tiếng cười


Con hẽm nhỏ, người đông phố chật

Vẫn hồn nhiên, nhịp sống phô bày

Bóng nắng dội, đưa chiều váng vất

Nuối tiếc đêm nồng ấm bàn tay


Chuyện cũ bên người, giờ cũng cũ

Ngày xưa còn đó những con đường

Bầy chim sẻ có còn an trú 

Mái phố mờ ký ức lưu hương 


Con hẽm nhỏ vàng tươi chóp nắng

Xôn xao người, quen ít lạ nhiều

Tiếng rao hàng oằn vai trĩu nặng

Chen lấn lung chiều nắng đăm chiêu


Chợt thoáng buồn, vương lưng đáy mắt

Những cuộc người sao mãi long đong

Bao nhiêu năm giữa lòng phố chật

Vẫn an nhiên óng biếc, tươi hồng…



Vững lòng bước qua nỗi buồn vui


Chính nỗi buồn đã gắn kết chúng ta

Khi niềm vui sẽ thể hiện ở mỗi người mỗi khác

Nghe đâu đó nỗi đời nhuôm nhuốm bạc

Lại cháy lòng trong cay đắng xót xa

Tri thức càng cao thì hoài nghi càng nhiều

Bởi lẽ thường tình, niềm tin không phải tự nhiên mà có

Dù có cái ẩn sâu, cái còn đang buông bỏ 

Năm tháng đã hoen mờ, biết còn lại bao nhiêu?


Thì cũng vững vàng trên đôi chân của mình

Và tin tưởng sẽ không bao giờ ngã

Trên trăm con đường quen, nghìn vết mờ xa lạ

Kẻ nhớ, người quên đang ra sức biện minh

Cũng thường thôi, mọi chuyện ở đời

Đã không muốn thì tìm lý do, khi đã muốn thì phải tìm cách

Ta như dòng sông không tự mình làm sạch

Vì lỡ ôm vào lòng, trăm thứ trời ơi!


Bình thản chiều trong mênh mông

Hướng đến tương lai để không hối hận gì quá khứ

Cuộc sống đã đổi thay sao vẫn còn dền dứ

Hảo vọng lềnh bềnh trôi qua mười bến sông

Sự lựa chọn đã quyết định ta là ai

Son sắt một niềm tin, ngày mai đang để ngỏ

Mặc kệ những người thả lời thề bay trong gió

Bước qua nỗi buồn vui, trong nắng mới đan cài…



Chia xa


Hoang mang đêm 

Đôi mắt võ vàng
Em bối rối 

Trong lời từ giã
Không lẽ 

Mình trở thành xa lạ?
Gió đông về 

Miết mỏng miên man

Rộn đường xa 

Tím buổi hoang chiều 

Mây lang thang 

Nỗi buồn rũ kiệt

Không lời hẹn 

Chắc gì vĩnh quyết

Rớt bên đời 

Một chấm quạnh hiu



Một chút thôi em, ừ một chút


Cõi trăm năm sâu thẳm những bến đời

Còn nguyên đó, một ân tình giao đãi


Đổ xuống đời nhau từng giọt nhớ buông lơi

Năm tháng cũ có bao giờ trở lại

Mà nắng hoàng hôn cứ tím biếc gọi mời…



Treo đắm đuối tiếng lòng trong nỗi nhớ


Hoàng hôn rơi từng giọt khơi khơi

Biết dĩ vãng mình không duyên nợ


Chiều hoang mang trong tâm tưởng rối bời

Sao trúc trắc, một ân tình cơ nhỡ

Bao năm rồi vẫn vang vọng người ơi!



Bao nhiêu thứ chuyện ở trên đời


Có những cái chúng ta đã chưa từng biết

Hình như chúng cũng phải nằm trong cái mà mình đã biết


Nếu không, thì chỉ là một khoảng mờ trống rỗng em ơi!

Cho nên dù có bao nhiêu ngoa ngôn xảo ngữ

Cũng chìm trôi trong dòng chảy cuộc đời


Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Bình Thuận


READ MORE - TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG - Con hẽm nhỏ yêu thương / Vững lòng bước qua nỗi buồn vui / Chia xa / Một chút thôi em, ừ một chút....