Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, July 14, 2011

VÕ THỊ NHƯ MAI - SANG ĐÔNG NGHĨ VỀ HẠ

Hoàng hôn mùa đông ở Back Beach, Bunbury, Tây Úc


Chúng ta đang ở giữa mùa hè nóng bức và mơ về cái lạnh dịu dàng của mùa đông thì có một người trong lúc này đang ở giữa mùa đông với nhiệt độ từ 10 đến 19 độ C như mùa đông xứ ta đang thả hồn mình về một mùa hè với phượng hồng rực lửa và tiếng ve râm ran thơ mộng. Người đó là Võ Thị Như Mai hiện đang ở Tây Úc. Thật là thú vị khi mình đang ở mùa hè được nghe bạn đang ở mùa đông nói lên cảm xúc của mình, chia sẻ với mình, làm cái nóng giữa hè dường như dịu laị.


Sang Đông nghĩ về Hạ

Mùa hạ năm này ai có vui không?

Qua con dốc quanh co tham quan đây đó?

Có tập thiền cho tâm hồn nhuộm cỏ?

Thảng hoặc hành trình bình lặng khúc vô vi?


Em bắt đầu kỳ nghỉ đông rét muốt buốt lê thê

Chuông chiều lãng đãng muôn phương đong đưa nghe gió dỗi

Vấn vít mộng mơ chao ôi sao có lỗi

Rứa đó trần gian cũng triền miên hạn hẹp đến vô chừng


Hạ hồng trong em thuở ve hát tưng bừng

Mỹ Thủy, Lăng Cô chiều biển reo phượng nở

Ngựa bất kham vơi tay buông dư hương còn rực rỡ

Chỉ còn lại ngùn ngụt sương mù mây xốp rải tầng không


Trong hơi thở ngân nga của đất trời nóng lạnh cũng tự tâm

Hạ hay đông cũng lóng lánh muôn triệu hạt tin yêu chân chất

Em là hoa, hoa thu nhỏ tưởng chừng hoa biến mất

Trái tim đập nhịp nhàng nghe đông – hạ hồi sinh


vtnm 10/7/2011

READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI - SANG ĐÔNG NGHĨ VỀ HẠ

VĨNH TRÀ - DẦU MÁU (Truyện dài)

Nhà báo Trần Đức Nuôi (ngồi giữa) trong một buổi giao lưu với các nhà báo trẻ của VOV. (Ảnh từ VOV.VN)


Vĩnh Trà

Tên khai sinh: Trần Đức Nuôi.

Sinh ngày 27/10/1947 tại làng Thượng Lập, xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

Tốt nghiệp khoa Ngữ văn, trường đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1970.

Làm báo phát thanh tại Đài Tiếng nói Việt Nam từ năm 1970 đến nay.

Viết văn từ năm 1973, với truyện ngắn: “ Lửa lương” phát trên chương trình Văn nghệ, Đài phát thanh Giải phóng


Tác phẩm đã xuất bản:

Mưa chiều đất cuối (tập bút ký) NXB Chính trị quốc gia

Hoa khát (tập truyện ngắn) NXB Hội Nhà văn

Khoảnh khắc nắng (tập bút ký) NXB Hội nhà văn

Còn đường nắng lửa (truyện ký) NXB Hội Nhà văn

Dầu máu (tiểu thuyết) NXB Hội Nhà văn.

(Tiểu sử từ trang VanChuongViet.Org)

MỜI ĐỌC:
DẦU MÁU - TRUYỆN DÀI CỦA VĨNH TRÀ đăng trên trang VNTHUQUAN
READ MORE - VĨNH TRÀ - DẦU MÁU (Truyện dài)

Wednesday, July 13, 2011

TUỆ THIỀN LÊ BÁ BÔN – CHÙM THƠ


Họ và tên : Lê Bá Bôn.

Bút danh: Tuệ Thiền.

Năm sinh: 1951.

Quê quán: Quảng Trị.

Trú quán: Ấp Bắc 1, xã Hòa Long , TX Bà Rịa, BRVT.

ĐT nhà: 064 821913.

Nghề nghiệp: Giáo viên (hiện đang phụ trách công tác thư viện - thiết bị ).

Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Hòa Long A, TX Bà Rịa, BRVT.

Học vấn : Đại học.

Tác phẩm đã xuất bản: Đường Về Minh Triết ( thơ – văn – tư tưởng), NXB Văn Nghệ

(Ảnh từ VanThoViet.Com, tiểu sử từ VanChuongViet.Org)


NỖI BUỒN LẤM ĐẤT

Trút hơi thở sau một ngày kiệt lực

Bác nông dân chưa kịp giã từ con

Vết nứt nẻ trên tay bùn chân lấm

Nhìn lũ chúng tôi, thầm lặng tủi hờn

Lũ chúng tôi những hình nhân trí thức

Lánh ruộng đồng và coi rẻ nông dân

Bưng bát cơm - quên tâm hồn đất nước

Lòng đen ngòm danh lợi kẻ vong ân!…

Nhìn mặt bác, nỗi buồn tôi lấm đất

Thói tự hào bật khóc trước quê hương

Tôi quỳ xuống hôn cuộc đời chất phác

Nhớ những đắng cay - nhớ những bát cơm…



NGHE HỌA MI HÓT

Họa mi ơi

Nghe sao mà thánh thót!

Ta đang thất nghiệp vì không quen đút lót

Chim hót nhẹ thênh

Ta nặng trĩu nỗi buồn

Họa mi ơi

Nghe sao mà vui thế!

Ta đang đau tấm thân đời nổi ghẻ

Xảo quyệt, tham ô, trí thức rởm lúc nhúc

trong từng nứt nẻ

Chim đang xuân

Ta còn hạ oi nồng

Họa mi ơi

Ta yêu, yêu lắm

Mà lòng ta chưa một với tình em!



BUỒN CÙNG TAHER MADRASSWALLA

Cọc cạch nhọc nhằn vòng quanh thế giới

Ông muốn trao thông điệp hoà bình

Nhưng trải qua mấy nghìn năm

Cái bản năng quyền lực

Đã ngấm sâu vào hành tinh

Và bom đạn bất nhân đang đi tìm

Niềm vui lấn lướt!

Và UNESCO còn mập mờ lúng túng

Giữa "con” và "Người”!

(Taher Madrasswalla là tên một người Ấn Độ đi xe đạp vòng quanh thế giới. UNESCO là Tổ chức giáo dục, khoa học,văn hoá quốc tế).



ĐAU BUỒN CỦA CHỊ

Hồn phong kiến vấn vương

Chị thâm quầng ánh mắt

Cái thằng-cu-tông-đường

Vào giấc mơ nát ruột!



TÂM ĐỐI XỨNG

Một bên là Thượng Đế

Một bên là cuộc đời

Biết làm tâm đối xứng:

Tỉnh thức giữa An Vui.


(Đường Về Minh Triết; NXB Văn Nghệ, 2007)

Nguồn: VanThoViet.Com

READ MORE - TUỆ THIỀN LÊ BÁ BÔN – CHÙM THƠ

TRẦM TĨNH NGUYỆN - CHÙM THƠ



Tên thật Nguyễn Văn Tịnh
Sinh 1957
Quê ở Quảng Trị.
1963-1968 học ở trường Thánh Tâm Quảng Trị, 1969 vô Tiểu chủng viện Hoan Thiện Huế, 1974 ra khỏi chủng viện và vào học ở trường Pétrus Ký Sàigòn.
Sau 4-1975 làm ruộng rẫy ở Bình Tuy và đi lập nghiệp ở một vài nơi khác.
Hiện nay đang làm nghề tự do ở Bình Chánh, Sàigòn


VÔ THƯỜNG VÀ VĨNH CỬU

Chỉ là một giây thôi

Cánh sao khuya rụng rơi
Đoá quỳnh hương nở rộ
Đó đây khóc lẫn cười
Chỉ là một giây thôi
Từ hư vô chơi vơi
Thoắt đã ra hiện hữu
Là tôi, và là người
Chỉ là một giây thôi
Giữa muôn nghìn giây trôi
Vô thường thành vĩnh cửu
Tạ ơn Trời, ơn đời.

15.02.1995




TỰ TÌNH


Đêm qua trong cõi lặng mênh mông

Có tiếng gì rơi chạm đáy lòng
Xao xuyến bừng lên niềm linh thánh
Lan xa tới tận chốn thinh không.

13.01.1995




TĨNH NGUYỆN


Một tia sáng vụt tắt.

Hai, ba,
Rồi nhiều tia sáng vụt tắt.
Tà huy.
U tịch.
Một người ngồi lặng im
Ngước mắt nhìn trời
Chờ sáng.
Thời gian trôi…
Một tia sáng loé lên
Hai, ba,
Rồi nhiều tia sáng bừng lên.
Bình minh.

1988



CÕI LẶNG

Yên ắng như lòng không,

Mênh mang trùm mông lung.
Tĩnh mịch giăng muôn trùng,
Hư vô nhoà không trung.
Lao xao niềm cô đơn,
Nao nao muôn ngàn cơn.
Âm thanh nào dập dồn
Hay thinh không véo von?
Chao ôi là ngất ngây!
Cõi lặng chìm đắm say.
Trống không bỗng tràn đầy.
Sững sờ không dám lay!

Tịch liêu ôm tịch liêu,

Ngơ ngẫn hoà đăm chiêu,
Ngỡ ngàng dâng trời mộng,
Diệu huyền ươm tình yêu.

15.01.1995


Nguồn: vanchuongviet.org
READ MORE - TRẦM TĨNH NGUYỆN - CHÙM THƠ

Tuesday, July 12, 2011

VÕ VĂN HOA - KHE TRÁI



Bãi sắn, biền ngô đồi bát úp

Làng quê xanh ngát những đồi nương

Du thuyền Thạch Hãn lên mạn ngược

Khe Trái* hoa rì ** chót lá hương.

*

Cá bống thượng nguồn sao lắm thế!

Nước trong như lọc cứ vây chân

Trưa nắng anh săn từng viên cuội

Bàn mài Như Lệ có đầy sân?

*

Ngoài vùng phủ sóng. Em hướng đạo

Bia bọt lời ca động núi rừng

Bây giờ anh thấy ngày rất ngắn !

Se sắt chiều lên..bóng nguyệt rưng.


Ngày rằm tháng tư Kỷ sửu (2009)


VÕ VĂN HOA tốc ký thơ

READ MORE - VÕ VĂN HOA - KHE TRÁI

Monday, July 11, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm



HÒ ĐỐI ĐÁP


1. Nữ: Tiếng đồn anh học thợ đã lâu, cho em hỏi thử vài câu. Anh đâu chiếc xe ba mươi hai lá, rứa lá mô đầu, lá mô đuôi?

(Đâu= đóng; xe ba mươi hai lá= xe đạp nước, guồng)

Nam: Trước trục tiền, sau trục hậu, giữa thì địa và cầu. Em thong dây cho anh xỏ ngạt, anh chỉ lá mô đầu, lá mô đuôi.

2. Nữ: Tiếng đồn anh hay chữ, cho em hỏi thử mấy câu. Chữ chi chôn xuống đất? Chữ chi cất lên tran? Chữ chi mang không nổi? Chữ chi tạc đá bia vàng không phai?

Nam: Chữ triệu chôn xuống đất. Chữ hiếu cất lên tran. Chữ tình mang không nổi. Chữ tâm tạc đá bia vàng không phai.

3. Nữ : Đố anh con rít mấy chân, cầu Đông Ba mấy nhịp, chợ Dinh mấy người?

Nam: Con rít có bốn mươi hai chân, Cầu Đông ba mười hai nhịp, chợ Dinh có hai người.

4. Nữ: Bướm vàng đậu đọt cau tơ. Anh ơi không kiếm nơi mô nương tựa mà cứ ở lẳng lơ rứa hoài?

Nam: Bướm vàng đậu đọt câu còi. Ba o còn nhỏ mà đòi lấy dôông.

5. Nữ: Cây cao đại thọ, bóc vỏ còn da. Anh thương em thì đến cửa đến nhà. Đứng mần chi ngoài đàng ngoài ngõ mà hỏi có vịt gà bán không.

Nam: Cây cao đại thọ, bóc vỏ khó trèo. Em lui về thưa thầy với mẹ nuôi thằng rễ nhà nghèo có được không?

6. Nam: Ngó lên trển trời tàu bay như én liệng. Ngó về dưới biển sóng cuộn ba đào. Chiếc thuyền quyên em nho nhỏ ai đã cắm sào vô chưa?

Nữ: Chiếc thuyến quyên em nho nhỏ mụi đỏ lái lè. Hai bên hai con mạn giữa lại đề tên anh.

(Mụi = mũi)

7. Nữ: Ở bên trên có hai ngôi miếu, dưới có cái đồn lầu. Anh có đi ngang qua đó nhớ cất nón, cúi đầu, vòng tay.

Nam: Anh cho hai con tinh tinh lên phá hai ngôi miếu. Anh cho con quỷ vô phá cái đồn lầu. Tội gì phải cất nón, cúi đầu, vòng tay.

8. Nữ: Em thương anh khộng biết cho chi. Cho anh một cái lọng móc đồng, để che mưa tréng nắng để phòng ốm đau.

(Tréng = tránh)

Nam: Lọng móc đồng cho cha em đội, cho cố nội em che. Chơ anh đây nghèo khó, đội cái nón te quen rồi.

9. Nam: Con ai nho nhỏ, tóc bỏ ngang vai. Chưa có chồng mà đã có thai. Một mai búp lòa hoa nở biết con ai mà nhìn.

Nữ: Áo em năm khuy em cài sít rịt. Ướm em cột chặt như nịt đố đóng đinh. Chiều bữa qua anh cho thằng nó qua rình. Ý làm sao anh lại biết mình có thai.

10. Nữ: Anh đến đây mần chi cho đồng khô cỏ cháy. Anh về làng Đáy mà ăn tôm cho nhiều.

Nam: Tiếng đồn làng Đáy nhiều tôm, răng em không gắp năm ba dịa quảy cơm hôm cho mẹ bên nhà.

(Dịa = dĩa)

Những câu sau còn thiếu một vế, xin các bạn bổ sung:

11. Ong vàng châm trái bầu eo. O chê tui nhỏ cho tui trèo thử coi.

12. Súng trường nạp đạn hai viên. Họa may may họa bắn chiếc thuyền quyên cho xạc xài.

13. Em hỏi anh con rắn không chân sao rắn bò khắp hòn rú? Con gà không vú sao gà nuôi được chín mười con? Trai nam nhơn chàng đối đặng chàng dòn han (?) thiếp cũng về.

14. Bốn bề bàu biển khô khan, giữa một vùng thủy tụ, ban bốn con ngàn nó lượn bay.

15. Thê đích thì ở nhà dọc, tiểu thiếp thì ở nhà ngang. Thân anh hai nhà ngói sẵn sàng. Tiếng kêu hầu dạ, chớ rộn ràng mà bị roi.

READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

NGUYỄN TƯỜNG: TÔI CHỈ LÀ NGƯỜI GIEO HẠT



Nguyễn Tường (người bên trái) và ba bạn Dũng, Thông, Lư cùng tổ chức sinh nhật 27/8 tại SG 2009


Nhân sinh quý thích chí. Ở tuổi 60, Nguyễn Tường tự chọn cho mình một việc xưa nay hiếm: đó là chuyển những câu chuyện anh thích sang văn vần hay chuyện thơ. Trong khoảng thời gian chừng 5 năm trở lại đây, anh đã chuyển hàng chục bài ngụ ngôn, hàng chục câu chuyện trong thánh kinh, và một số chuyện anh tình cờ đọc được trên báo, kể cả báo bằng tiếng nước ngoài. Hầu hết đều có tính giáo dục rất cao. Nguyễn Tường đã đưa toàn bộ tác phẩm của mình lên Blog Yahoo của anh, một số được in và phát hành nội bộ để tặng bạn bè. VNQT xin gới thiệụ bài phỏng vấn Nguyễn Tường do Nguyễn Khắc Phước thực hiện qua mạng Internet.


NKP: Thưa anh, cái duyên nào đưa anh đến với cái thú chuyển văn xuôi thành thơ, một hoạt động văn học hiếm ai đeo đuổi trong thế kỷ 21 này. Trong gia đình anh có ai cùng sở thích với anh không?

NT: Tôi thích sử dụng văn vần từ kinh nghiệm cá nhân. Về gia đình, có lẽ tôi thừa hưởng gene di truyền từ mẹ tôi. Bà là người có năng khiếu bẩm sinh về hò đối đáp rất thông minh và ý nghĩa sâu sắc, biết dùng những câu ca dao, tục ngữ để dạy con dù bà không biết chữ. Chị tôi thích đọc Phạm Công Cúc Hoa, Lục Vân Tiên. Một kinh nghiệm nữa là khi tôi sinh hoạt tôn giáo, đối tượng có rất nhiều lứa tuổi, trình độ văn hóa khác nhau, những bài văn vần khi được sử dụng đã có hiệu quả cao. Theo tôi, văn vần mang tính giáo dục phổ quát, đại chúng cao.

NKP: Cho đến nay, anh đã viết được bao nhiêu bài theo thể loại này?

NT: Về số bài thì thật sự tôi không nhớ rõ, tuy nhiên, con số đó có thể đếm được trên trang blog của tôi. Trong blog, có một số bài nữa, tôi giữ ở chế độ riêng tư.

NKP: Anh thường chọn những bài có chủ đề gì để chuyển sang văn vần?

NT : Phần lớn các bài của tôi hướng về chủ đề Ki tô giáo và Nhân bản. Về Thánh Kinh, bài dài nhất là bài Tin Mừng theo Thánh Lu ca, gồm 3.300 câu loại tám chữ. Ngoài ra tôi cũng đã chuyển Luật Dòng, Kinh Mân Côi, một số bài Phúc âm ra nhiều thể loại văn vần như bảy chữ; tám chữ; sáu tám; hai bảy, hai tám ...

NKP: Ngoaì chủ đề về tôn giáo, anh còn chuyển thể những bài thuộc đề tài khác nữa không?

NT: Về ngụ ngôn, đầu tiên tôi thử chuyển các ngụ ngôn của Aesop, La Fontaine, và đã viết khá nhanh, tôi đã in tặng nhiều người. Khám phá được khả năng của mình, sau đó những ngụ ngôn nào tôi bắt gặp trên net, tôi liền chuyển qua văn vần. Số lượng này hiện rất nhiều và đều có trên blog. Tôi chú trọng ngụ ngôn do ở giá trị giáo dục nhân bản của nó.

NKP: Anh có bao giờ xuất bản tác phẩm của mình hay chưa?

NT: Tôi chưa xuất bản bao giờ, tôi chưa nghĩ tới điều đó. Tôi chỉ bỏ tiền ra in bằng photocopy để tặng bạn bè, đoàn thể. Số tiền này cũng không nhỏ nhưng tôi làm việc có mục đích là đóng góp cho đời. Tôi cũng phổ biến trên net và mọi người có quyền sử dụng tự do.

NKP: Tác phẩm nào anh đắc ý nhất?

NT : Tập văn vần mà tôi thích nhất là 3.300 câu Tin Mừng, tôi đã viết xong trong 21 ngày, đúng ước nguyện của tôi khi mới vào đạo Công giáo ngày 21/6/1975: Lạy Chúa, xin giúp con làm được một việc gì có ích cho quê hương, dân tộc.

NKP: Theo anh, văn vần khác với thơ thế nào? Văn vần được sử dụng trong những nội dung gì? Có tác dụng gì?

NT: Tôi xin được miễn trả lời những câu hỏi mang tính nghiên cứu, phân tích

NKP: Theo anh, truyện thơ đầu tiên bằng tiếng Việt là tác phẩm nào?

NT : Tôi không phải là nhà nghiên cứu văn học và cũng không phải là người làm văn học. Tôi chỉ là người gieo hạt - văn chương chỉ là phương tiện - với ước mong biết đâu sẽ có hạt giống sinh hoa kết quả tốt. Đó là lý tưởng sống của tôi.

Xin cám ơn bạn Nguyễn Khắc Phước đã đặt cho cho tôi những câu hỏi để tôi có dịp chia sẻ.


Nguyễn Khắc Phước thực hiện.



MỜI CÁC BẠN CLICK VÀO ĐÂY ĐỂ XEM TOÀN BỘ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN TƯỜNG.
READ MORE - NGUYỄN TƯỜNG: TÔI CHỈ LÀ NGƯỜI GIEO HẠT

Saturday, July 9, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm



21. Em bước chân xuống thuyền em cầm mái chèo kêu ẹo. Nhớ tới cảnh chàng ruột héo gan khô. Chàng ơi một trăm năm thiếp chẳng bỏ chàng mô. Chàng chớ có ưu sầu trong dạ ruột héo gan khô tím bầm.


22. Núi Ngự Sông Hương thêm thương thêm tiếc. Trăng xanh nửa biếc muôn thảm ngàn sầu. Vì ai trọng Á kiều Âu. Để gái ngất ngơ đàng gái, trai lại thảm sầu đàng trai.

23. Thiếp khuyên chàng ở nhà lên rừng đốn triêng củi quế. Đem về cho thiếp đem ra ngoài chợ đổi bát gạo châu. Ở với nhau cho đến tuổi bạc đầu. Chàng ơi ở nhà theo thầy với mẹ cho đặng câu hiếu tình.

24. Anh ơi có thương thì thương cho chắc, có trục trặc thì trục trặc cho luôn. Đừng làm như con thỏ nọ đứng đầu truông, khi vui thì giởn bóng, khi buồn thì giởn trăng.

25. Sen xa hồ sen khô hồ cạn, lựu xa đào lựu ngả đào nghiêng. Vàng cầm trên tay rớt xuống em cũng không phiền. Mà xa người bạn cũ trong dạ ưu phiền ngàn năm.

26. Đứng xa xa cách ba que sáo. Nghe giọng hò ôm áo ra đi. Sâm hồ ngô đạo nhất dĩ quản chi (?). Tai nghe thầy với mẹ bán gả em đi. Bằng ai dơ dao vàng cắt ruột anh đi từng ngằn. (dơ = đưa)

27. Áo em khô ai ngờ áo ướt. Bởi vì anh chậm bước nên thầy mẹ gả trước em đi. Bằng ai dơ dao vàng cắt ruột em đi từng ngằn.

28. Đứng xa xa cách ba que sáo. Nay hết mùa lại đậu que say. Nợ nhà giàu vay trả trả vay. Còn tình chàng ý thiếp biết nói mấy ngay cho rồi. (ngay = ngày)

29. Ngọn gió mùa thu em sầu không ngủ. Đêm năm canh chàng thức đủ năm canh. Vì ai cắt đoạn đánh tình. Đêm nằm suy đi nghĩ lại biết chàng có thương đoạn nhớ đàng hay không.

30. Con cuốc lẻ đôi còn kêu cà kêu cuốc. Huống chi hai đứa mình trầu thuốc bấy lâu. Gặp lại nhau đây cho anh tỏ ngộ đôi điều. Kẻo mai tê xa ngái như cpn cuốc kêu giữa đêm trường.
READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

Friday, July 8, 2011

NGUYỄN KHẮC PHƯỚC - QUÀ TẶNG CỦA THIÊN NHIÊN CHO MIỀN GIÓ LÀO NẮNG LỬA

Trằm Trà Lộc



Người từ nơi xa lâu quá không đi ngang qua Quảng Trị, khi nói đến huyện Hải Lăng, người ta chỉ nhớ hình ảnh một bên đường là những đồi cát khô cằn chập chùng và một bên là một truông cát mênh mông vô tận, mà mùa đông thì lồng lộng gió bấc rét buốt, mùa hè thì ào ào gió Lào nắng nóng, cát bụi bay mù trời khiến cho vùng này trông như là một tiểu sa mạc.

Hình ảnh đó đã trở thành quá khứ nhờ người dân đã bỏ biết bao công sức lao động để trồng cây gây rừng, che phủ hầu như toàn bộ vùng cát bằng màu xanh dịu mắt.

Nhưng những rừng cây mới trồng đó chưa làm du khách ngạc nhiên. Mà điều đáng ngạc nhiên là trên vùng cát tưởng như khô hạn quanh năm đó lại có những hồ nước rộng bao la mà nhiều người cho rằng chúng là quà của thiên nhiên ban tặng.

Nằm cách thị trấn huyện Hải Lăng , tỉnh Quảng Trị chừng 3 km về phía bắc, trên dải đất cát rộng thuộc làng Trà Lộc, xã Hải Xuân, từ thời khai thiên lập địa đã hình thành một hồ nước có khe lưu thông không bao giờ khô cạn rộng gần trên trăm hécta, được bao quanh bởi một cánh rừng nguyên sinh với đủ loại cây rừng mà vùng đồng bằng chung quanh hoàn toàn không có. Khu rừng và hồ này có tên Trằm Trà Lộc.

Vào mùa hè, khi gió Lào bắt đầu thồi, mang cái nóng đổ lửa cháy da, làm đất đai bốc lên mùi nồng nực phả vào mặt khiến người ta ngột ngạt, vậy mà khi bước chân vào khu rừng, bạn sẽ ngỡ ngàng như trong giấc mơ, chỉ phút chốc đã thấy một thế giới khác, một thế giới xanh tươi và mát rượi khiến bạn thư thái khoan khoái dễ chịu. Chung quanh bạn, một khu rừng chằng chịt cây và dây leo mà vùng đồng bằng gần đó hoàn toàn không có. Nhưng cái tên cây lạ hoắc như bời lời, sắn rừng, tran (gây dị ứng nếu chặt phá), rỏi (có trái ngọt), mã, tra và những dây leo như giêng giếng, song tắn, bồng tru (trái ăn tím miệng)… Những cây này chỉ bắt gặp trên đại ngàn Trường Sơn. Quanh hồ còn có nhiều cây tràm và mưng (lộc vừng) lủng lẳng những chùm hoa đỏ như như những dây pháo. Hồ nước bao la gợn sóng nhấp nhô những lá súng xanh mát và hoa súng tím thơ mộng. Tổ hợp rừng và hồ đã tạo thành một hệ sinh thái độc đáo, cùng sinh tồn và phát triển. Nơi đây đã biến thành điểm dừng chân cho du khách muôn phương, cho người đi xa về thăm quê, và là điểm dã ngoại hoặc họp bạn cho mọi lứa tuổi.

Bên bờ hồ, trên mặt nước, người ta dựng những chòi bằng tre lợp tranh, nền sạp tre được trải chiếu sạch. Ở đó, có thể gọi một những món đặc sản của vùng này như cá tràu hấp cuốn với bánh tráng và rau, cháo cá, cháo nhái… với mùi nén thơm cay sực mũi, vừa ăn vừa ngắm những đàn cá bơi lội tung tăng dưới nước và hưởng làn gió phơn phớt mát rượi.

Trằm Trà Lộc không phải là hồ nước duy nhất ở vùng này. Ngay giữa thị trấn Hải Lăng, trên vùng đất khá cao so với đồng bằng phía đông, bạn sẽ ngạc nhiên thấy một hồ nước rộng bao la, lộng gió, mặt hồ gợn sóng lăn tăn. Nơi đây, ngày xưa, giữa vùng hoang vắng khô hạn đầy mồ mã và xương rồng trồng để giữ mồ khỏi gió bay, ít ai biết ở đó có một vùng trủng đầy sim, mua, tràm, chổi thông với một khe nước không bao giờ khô cạn, mà theo anh Võ Văn Luyến – giảng viên trường CĐSP Quảng Trị, thì khe nước đã được ghi trong Đại Nam Nhất Thống Chí với tên Trà Thủy Khê, nay thường gọi là hồ Khe Chè.


Hồ Khe Chè rộng khoảng 15 ha, là kết quả từ ý tưởng và tầm nhìn của lãnh đạo và lao động của người dân địa phương, biến một vùng trủng nhỏ thành một chiếc hồ mênh mông, có nước lưu chuyển . Hồ tọa lạc ngay ở trung tâm thị trấn như một hồ cá kiểng nằm giữa nhà, hợp với quan niệm phong thủy của người xưa về sinh khí. Theo trang www.nhantrachoc.net: Vạn vật đều sinh ra từ khí; khí gặp gió thì tan, gặp nước thì dừng; sinh khí được bảo toàn trong môi trường “tàng phong, đắc thuỷ”. Thuật phong thuỷ coi “đắc thuỷ” quan trọng hơn “tàng phong”; khí và thuỷ có quan hệ rất mật thiết với nhau; nước đến đâu thì khí theo đến đó, nơi nào có nước thì nơi đó có khí”. Vì vậy, rất nhiều khu dân cư cổ xưa đều đòi hỏi trước nhà phải có ao, hồ để trữ nước với mục đích bảo tồn “chân khí”. Hầu hết các thành phố hiện đại trên thế giới đều có hồ nước lớn hoặc được xây dựng bên các con sông hay là cảng biển. Điều này cho thấy vị trí của nước quan trọng như thế nào trong quan niệm và đời sống của con người xưa nay.

Phong thủy quan trọng nhưng không phải là yếu tố duy nhất để cần có một cái hồ. Quan trọng không kém là ảnh hưởng của hồ đối với nhân sinh, môi trường. Hồ Khe Chè làm nhiệt độ dịu xuống, tạo một không gian thoáng đảng với không khí trong lành, mát mẻ. Hồ như là một lá phổi xanh, một chỗ để thư giản, để tập thể dục buổi sáng, để hóng mát buổi trưa, để nghỉ ngơi buổi chiều, để ngắm trăng buổi tối. Hồ giúp cư dân bảo vệ sức khỏe thân thể cũng như tinh thần. Hồ mang thiên nhiên đến ngay trước ngõ mỗi nhà, tạo sự yên tĩnh hiếm có nơi phố xá, tạo một lối sống, một văn hóa đẹp. Đó là những tập quán và nét văn hóa của phố-quanh-hồ như Đà lạt với hồ Xuân Hương.

Một con đường chia hồ ra làm hai phần khiến người ta có thể tưởng tượng mình đang đi dạo trên đường Cổ Ngư. Có người ví hồ như cái lúm đồng tiền trên má thiếu nữ, hay nói khác hơn, không có hồ, thị trấn Hải Lăng chỉ là một bà già teo tóp, một vùng đất khô cằn, thiếu sinh khí. Chọn nơi đây làm thị trấn để tránh lũ là đúng nhưng sẽ không bao giờ ra vẻ thị trấn, chưa là một nơi đắc địa nếu không có hồ.

Hồ Khe Chè còn là nơi hẹn hò tình tự của lứa tuổi học trò, là nơi ghi dấu biết bao kỷ niệm ngọt ngào của thời niên thiếu, nơi mà người ở quyến luyến không rời, người đi xa không thể nào quên, ước mơ có một ngày trở về ngồi bên hồ hàn huyên với bạn cũ.

Hồ không chỉ mang sinh khí, sự quyến rũ, sức sống, tập quán hay và văn hóa đẹp cho thị trấn mà đêm trăng bên hồ quá lãng mạn khiến những ai có tâm hồn thi sĩ không khỏi mộng mơ. Hoàng Tấn Linh, một thầy giáo của trường THPT thị trấn Hải Lăng đã viết:

Lá ủ hương nồng đêm thị trấn

Con sóng lao xao tuổi nhớ thì thầm

Ta ngồi đợi một tình yêu rất thật

Trăng bên hồ kết võng lá xa xăm…

Cám ơn thiên nhiên đã ban tặng cho người dân Hải Lăng chúng tôi những món quà vô giá. Rất mong mọi người ý thức được sự quý giá đó để bảo tồn, phát triển, biến trằm, hồ thành những danh thắng đáng tự hào của quê hương.

Nguyễn Khắc Phước

READ MORE - NGUYỄN KHẮC PHƯỚC - QUÀ TẶNG CỦA THIÊN NHIÊN CHO MIỀN GIÓ LÀO NẮNG LỬA