Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, February 13, 2011

GIANG ĐÔNG - NGÀY ẤY ĐÂU RỒI?

Trường Bồ Đề, Quảng Trị


GIANG ĐÔNG là bút hiệu của ĐOÀN VĂN ĐÔNG, sinh năm 1954, chánh trú quán Đâu Kênh, Triệu Long, Triệu Phong, Quảng Trị, đang công tác tại UB MTTQ VN Xã Triệu Long. Là người yêu quê hương làng nước và yêu văn học, nên ngoài công tác xã hội và việc gia đình như một nông dân, anh dành hết thì giờ cầm bút ghi lại những cảm xúc của mình về sinh hoạt của làng xóm và những kỷ niệm riêng tư để giao lưu vui vẻ với bạn bè lúc nhàn hạ. Hiện anh là Ủy viên BCH CLB THƠ VN tại Quảng Trị.

ĐT: 0169 981 9670.

VNQT xin giới thiệu một số sáng tác do tác giả gởi tặng.



NGÀY ẤY ĐÂU RỒI?*


Ngày ấy đâu rồi?

Tuổi ấu thơ tôi trôi bồng bềnh trong chiếc nôi và vòng tay ấu yếm của các chị và tiếng ru của mẹ:

Cầu mô cao cho bằng cầu danh vọng
Nghĩa mô trọng cho bằng nghĩa thầy mẹ sinh con
Vi dầu nước chảy, đá mòn
Trăm năm đi nửa lòng còn thương nhớ

Rồi lớn lên dần bước chân đi chập chững, nói bi bô, tiếng cu ơi nghe dễ thương làm sao. Mỗi độ xuân về được mẹ mua cho đôi guốc gỗ, chiếc mũ nhựa, bộ quần áo mới là quá mừng.

Tuổi lên 8 lên 10 theo cậu tôi đi cuốn toóc ở đồng trong làn gió mồm mát rượi với những cánh diều no gió bay cao. Tôi thường đến ngồi học bài ở nhà thờ họ Đoàn đằng sau chiếc cổng tam quan uy nghi. Nhà thờ lợp bằng ngói liệt, bên trong có khán thờ trang nghiêm, lộng lẫy. Năm 1972 nhà thờ đã bị chiến tranh tàn phá, đến nay đã được con cháu trong và ngoài nước trùng tu lại khang trang. Trước mặt nhà thờ có bàu nước và hàng tre rất đẹp, lại có thêm một dãi đất gọi là tháp bút mà đến nay câu ca dao còn lưu truyền:

Bao giờ bút nọ mòn râu
Dĩa nghiêng, lưng cạn mòn câu cung tài.

Xóm Rào thượng, Rào Hạ có bầu sen đầy nước. Mùa hạ về hoa sen, hoa lục bình thoang thoảng hương thơm. Vào tháng 6 âm lịch, khi nước cạn, làng tổ chức phá bầu để bắt cá,với đủ đồ nghề như : chơm, rớ, oi … Tiếng reo hò vui như ngày hội. Giờ thì bàu sen bị lấp cạn, dần trở thảnh vườn rau, ruộng lúa. Hai bên bờ, nhiều hộ đấu thầu làm hồ nuôi cá. Cảnh thơ mộng và vui nhộn ngày xưa không còn nữa.


Ngày ấy đâu rồi?


Cái tuổi rong chơi, bắt bướm, hái hoa trốn nhà đi bắt cá ở các vùng ruộng: Điển Điển, Ổ Gà, Thượng Đuồi. Vào tháng 10 âm lịch, ruộng đã cày phở, ngăn từng ô để tát, ngoài cá có đam (cua đồng) nhiều lắm bắt về làm nước mắm chắm với đọt rau khoai, ăn rất ngon.

Làm sao quên được tuổi học trò hiền lành, vô tư bên những bạn đồng trang lứa, đầy ắp những kỷ niệm, trong đó, có những trò chơi đánh bi, ô làng, tàu bay … Rồi chia phe ném nhau bằng đất ruộng vại vụ trái (hè thu) mỗi chiều tan học về.

Ngày ấy đâu rồi?

Người con gái ở cạnh nhà tôi, tóc còn bỏ thỏng, tính nết hiền từ, dễ thương của cái tuổi mà:

Môi em có cặp trăng rằm
Tóc chưa đầy nữa búi
Trời trong trong mắt trong
(Tuổi mười lăm – Đông Hồ)

Còn tôi vẫn cứ vô tư với những trò nghịch ngợm, có lúc giận hờn vu vơ.

Năm 1971 tôi lên thị xã Quảng Trị học ở Trường Bồ Đề, mà qua cuộc chiến tranh ác liệt, nay vẫn còn lại dấu vết:

Thì thôi thời vận cũng may.
Trường xưa tàn tích, hôm nay vẫn còn
Ngọc em dấu vết chân son
Thầy xưa, bạn cũ sống còn nơi đâu?
(Thăm trường – Giang Đông- 1982)

Những kỷ niệm nơi phố thị ồn ào ngày ấy cứ xa dần trong tôi, kể cả những trò chơi của một thời sau ruộng lúa, lũy tre, dòng sông bến nước …mà mỗi khi ngồi một mình bỗng dưng nhớ lại.

Giờ thì đã mấy mươi năm, tuổi đã gần 60, tóc đã pha màu , mặc dù phải vật lộn với nợ áo cơm nhưng may mắn vẫn hạnh phúc bên vợ con, các cháu. Biết bao người như tôi trong ở tuổi này cũng như vậy. Người mất, người còn với những hoàn cảnh khác nhau.

Những kỷ niệm của một quãng đời hoa niên đẹp đẻ, thơ mộng, dễ thương ấy vẫn còn mãi trong tôi, nhưng đôi khi lại tự hỏi: Ngày ấy đâu rồi ?!


Tháng 6 năm 2010


*Ngày ấy đâu rồi: tên cuả một ca khúc.





DÁNG XUÂN

Gió đưa mưa nhẹ bay về
Hoa mai nở thắm tràn trề hương xuân
Trên đồng lúa mượt màu xanh
Nước về tắm mát dòng kênh quê nhà
Con đò đưa khách lại qua
Cô em nghiêng nón nhẹ khua mái chèo
Lưa thưa cánh én buông chiều
Chao đôi cánh lượn dệt nhiều ước mơ
Quê hương đẹp tựa vần thơ
Dáng xuân in dấu vỗ bờ tháng năm.



XUÂN SANG

Ngoài sân điểm mấy nụ mai vàng
Trong nhà nghi ngút khói trầm nhang
Mưa bụi từng cơn rây hạt nhẹ
Rượu nòng nâng chén đón xuân sang.



ĐÂU KÊNH LÀNG TÔI

Công đức làng tôi đã khai sinh
Thiêng liêng hai tiếng gọi Đâu Kinh (1)
Chín xóm liền nhau xây nên nghĩa
Hội làng kết lại dựng thành tình
Đình làng lễ tế vui ngày hội (2)
Năm miếu trang nghiêm đấng tiên linh (3)
Dù cho dâu bể bao thay đổi
Đá làng vẫn giữ mãi Đâu Kênh (4)

2004

(1) Theo Châu Ô Cận Lục khi mới lập làng có tên Đâu Kinh.
(2) Còn gọi Đình Trung.
(3) Miếu thờ 5 ngài khai khẩn là: Đoàn, Võ, Đỗ, Lê và Nguyễn.
(4) Theo câu ca “Đá trôi làng không trôi”.



TÔI YÊU

Tôi yêu nước Việt của tôi
Những trang lịch sử một thời liệt oanh
Dòng sông – Bến nước – Con kênh
Lũy tre đồng lúa, nghĩa tình quê hương
Yêu nền văn hóa Đông Sơn
Tổ tiên tỏa sáng, nước non một thời
Xã tắc bền vững đời đời
Hồn thiêng đất nước sáng ngời Thăng Long
Biết bao oanh liệt chiến công
Cờ đào khởi nghĩa non sông yên lành
Tôi yêu mãnh đất Hà Thành
Thủ đô hữu nghị, hòa bình vươn lên
Xứng danh nòi giống rồng tiên
Chung tay xây dựng vững bền Việt Nam.


GIANG ĐÔNG
4/2010




READ MORE - GIANG ĐÔNG - NGÀY ẤY ĐÂU RỒI?

Saturday, February 12, 2011

VÕ XUÂN HUY - BA BIẾN THỂ TRANH SƠN MÀI



Nhựa sơn là chất kiến tạo cơ bản trong trò chơi ngôn ngữ tạo hình của tôi. Tôi am hiểu luật chơi vì tôi thiết lập trò chơi. Tôi tạo ra hệ thống kỹ thuật, cách dùng màu, thêm vật liệu mới để thay đổi quan niệm cũ kỹ và có phần mòn vẹt về sơn mài lâu nay. Sáng tạo mới cần phải có một hệ hình mới.

Kỹ thuật chủ động tạo sự nứt nẻ, nhăn, mòn thủng....là ngữ pháp căn bản của trò chơi.

Nứt nẻ - sự khô cằn, sa mạc thực dụng, sự thiếu hụt một thứ gì đó, một dưỡng chất cần thiết bị đẩy ra khỏi cái mà cấu trúc nó vốn phải là.

Nhăn - sự ẩm ướt, tự ti, co cụm, sự dư thừa một yếu tố nào đó.

Nứt nẻ và nhăn tạo nên sự đối lập, phản ảnh sự cực đoan của tiểu khí hậu Huế nói riêng và rộng ra là cả miền Trung. Kỹ thuật tạo sự ăn mòn - gây thêm cảm giác bào mòn của thời gian, sự gậm nhấm trong vùng địa văn hóa ấy và rồi những ký tự, hoa văn, rác thải công nghiệp... được gắn trên nền của những cấu trúc bề mặt ấy để tạo ra các trường liên tưởng mới, ngữ nghĩa mới. Các chủ đề như Tự sự về Cố đô, Xác chết của các mẫu tự, Hóa thạch đương đại...lần lượt xuất hiện.

*

* *

Làm sơn mài là tiếp xúc với kim loại, gỗ, nước, đất, lửa... Vì thế, tôi có cơ duyên sát gần với cái huyền nhiệm của hiện hữu, dù chỉ là sát-na.

Biến thể 1: Vẽ nét, tô mảng; tạo hình cây cỏ, lá hoa, người.....tất cả đều có thuộc tính riêng, dáng vẻ riêng. Có tự tánh riêng biệt.

Biến thể 2: Phủ sơn cánh gián lên toàn bộ mặt tranh. Chất sơn sẽ đưa mọi vật có thuộc tính riêng lẻ trở về một màu tối sẫm. Mọi sự vật hòa lẫn vào nhau, trở về cái chung, muôn mà một. Vạn vật nhất thể. Phi nhất phi nhị.

Biến thể 3: Mài tranh, đưa sự vật hiện tượng trở về với uyên nguyên, nhưng mang thêm dáng vẻ và màu sắc mới. Trở về lại với tự tánh riêng biệt. Một nhưng mà muôn.

Đây là ba biến thể của hình tượng cũng là ba công đoạn trọng yếu của kỹ thuật sơn mài.

*

* *

Tôi thể hiện mình, phát hiện ra mình và cuối cùng sáng tạo lại chính bản thân mình thông qua hành trình tìm kiếm cái Đẹp trên chất liệu sơn mài.

Đó chính là ba biến thể hay là đích đến của sự sáng tạo.


Võ Xuân Huy




READ MORE - VÕ XUÂN HUY - BA BIẾN THỂ TRANH SƠN MÀI

Thursday, February 10, 2011

HOÀNG CÔNG DANH – KÊ CHỎNG TRE, NGHE CHUYỆN LÀNG



Buổi tối, ông nội nhủ con cháu kê chiếc chõng tre ra giữa sân. Sau khi nhấp một ngụm nước, ông bắt đầu kể chuyện làng. Tôi lớn lên bằng những câu chuyện của ông; bởi thế mà tôi luôn biết ơn tuổi thơ và không hề cảm thấy chút tiếc nuối nào khi nghĩ về nó.

Dường như chính ấu thời đã hướng con người ta đến với một cung cách sống nào đó. Nếu đúng vậy thì quả thật, sự thanh bình là gam màu chính phác nên bức tranh cuộc sống của tôi. Sau này tôi khát khao được yên tĩnh hơn bất cứ nhu cầu nào trên đời.

Góc vườn nhà tôi có một cây Dạ Lý Hương, hoa thường nở vào độ mùa xuân, sau tết cổ truyền. Một chút gió đi qua hôn nhẹ vào nhuỵ hoa khiến hương tình lan ra ngát cả sân vườn. Có lẽ là hoa cũng đang nghe chuyện của ông với niềm hân hoan thích thú như tôi vậy! Dạ Lý Hương là hoa chỉ thơm về đêm, đúng như tên gọi của nó (dạ nghĩa là đêm), cũng như hoa Tử Đinh Hương chỉ ngát lừng khi ngày đã muộn. Tháng Năm mới đây, lúc đi qua sân trường độ mười giờ đêm, tôi đã ngửi được mùi hoa Tử Đinh Hương. Thú thật là mùi hương ấy không làm tôi vui, nhưng nó khiến tôi lắng lòng hướng về quê nhà. Thuở xưa lắm, khi chưa khai sinh ra loài người - gọi là cổ tích - chàng út nhà bà Pecxia ở xứ Ba Tư đã hoá thành khóm hoa Tử Đinh Hương để bảo vệ mẹ. Chính sự tích ấy đã làm tôi yêu mến hơn hoa Tử Đinh Hương lặng thầm trong buổi tối vừa rồi. Và do đó, tôi nghĩ rằng, những loài hoa nở về đêm thường biểu hiện cho một thứ tình cảm thiêng liêng, ví như Dạ Lý Hương mà tôi đang nói. Dạ Lý Hương là người bạn vong niên từ cổ tích đã trở về đây để cùng với tôi lắng nghe chuyện quê kiểng.

Trong một đêm trăng, giọng kể của ông như hoà quyện và lắng sâu vào trong mùi hương hoa, vị chát lừng nước chè. Sau này mỗi lần lục lại ký ức để tìm tư liệu, tôi luôn hình dung ra mồn một khung cảnh, ngửi thấy dư vị thảo mộc của ngày ấy.

Thuở tôi lên bảy. Tôi nhớ lắm một chiếc chõng tre giản đơn, bộ vạc tre được bện bằng chạc mây và nhẵn bóng đi. Ấm nước chè giữ nhiệt hầu như suốt đêm, cho đến khi nước nguội thì câu chuyện của ông chấm dứt. Ông nội pha nước chè rất ngon! Lá chè sau khi rửa sạch phải vò bằng tay rồi nhúm vào ấm, cho thêm một ít gừng củ đã giã nát, sau đó rót nước sôi cẩn thận. Nước chè phải trong và có màu vàng tươi, có vị chát lẫn cay. Uống nước chè phải dùng chính cái chén ăn cơm mới đúng. Những cái chén ngày ấy thường in cảnh họp làng bằng mực xanh. Bây giờ chén kiểu này không ai sản xuất nữa. Thời sinh viên ở Huế, tôi có ghé vào ven đường bên bờ sông Hương và thấy những chiếc chén này đã thành đồ cổ đưa ra bán cho giới sưu tập. Chao ôi, những nét đẹp làng quê mới đây thôi, vẫn đấy thôi mà đã hoá cổ ngay trước mắt ta sao? Người ta bảo thời gian đời người trôi nhanh. Ấy vậy mà thời gian của dòng chảy văn hoá có lẽ còn nhanh hơn. Đấy mới là cái đáng sợ hơn cả!



Từ đường họ Hoàng ở làng Phúc Lộc

Chuyện của ông không có hệ thống, không trật tự, nhớ đâu kể đấy, nhưng tôi không hề cảm thấy lộn xộn rắc rối. Tôi tự sắp xếp những câu chuyện ấy vào trong ngăn đẹp nhất và trang trọng nhất của tâm hồn mình.

Ông ngồi trong đêm, tĩnh tại mà sâu sắc, trầm ngâm nhưng nhiệt huyết - hình ảnh ấy khiên tôi liên tưởng đến một người nhắc sử làng vĩ đại. Ông kể và tôi nghe, không hề có giấy bút ghi lại; thế nhưng tháng năm đi qua vẫn không làm tôi quên được.

Tôi không quá tự tin vào trí nhớ của mình, nhưng tôi có thể khắng định rằng, nếu như một ngày nào đó tôi bị xoá nhoà nhiều thứ, thì cái còn lại sau cùng là những câu chuyện làng mà ông đã kể. Bởi như một triết gia đã nói: "Người ta có thể mang đứa trẻ ra khỏi quê hương của nó, nhưng không thể nào mang quê hương ra khỏi trí nhớ và tâm hồn một con người!".

Minsk 9.2009

H.C.D

READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH – KÊ CHỎNG TRE, NGHE CHUYỆN LÀNG

TRƯƠNG LAN ANH - VƯỜN XUÂN





Hoa lê nở trắng cành cao

Đôi chim én nhỏ bay vào vườn xuân

Chuồn chuồn ớt cánh phân vân

Đậu rồi bên nụ tầm xuân biếc lòng

Cỏ xanh ngậm hạt sương trong

Chập chờn cánh bướm thong dong ven bờ

Xuân sang rải giọt nắng mơ

Con ong kiếm mật thẩn thơ ra vào

Em về má ửng sắc đào

Gió xuân thầm thỉ chạm vào yêu thương

Sao khuya thức đếm đêm trường

Buông mình rơi xuống vấn vương tình đời!

Vườn ai nẩy lộc đâm chồi

Áo xuân đã khoác cho người thêm xuân!



T.L.A

READ MORE - TRƯƠNG LAN ANH - VƯỜN XUÂN

Wednesday, February 9, 2011

VĂN QUANG - TÀI TRÍ NGƯỜI QUẢNG TRỊ QUA ĐỐI ĐÁP DÂN CA


Có thể nói rằng về thể loại dân ca của các miền đất nước, hò đối đáp là nét độc đáo tiêu biểu cho người và đất quê hương Quảng Trị (và vùng Bình-Trị-Thiên nói chung). Qua hò đối đáp, người bình dân bày tỏ và trao đổi tâm tư tình cảm, thể hiện tài trí của mình về cả hai mặt nội dung tư tưởng và nghệ thuật diễn đạt. các phép tu từ mà ngày nay chúng ta đang dạy cho học sinh trong nhà trường và các nhà văn, nhà thơ sử dụng trau chuốt, làm đẹp tác phẩm của mình đều được các các nghệ sĩ vô danh ngày trước thể hiện trong các tác phẩm của họ một cách tài tình, độc đáo đến bất ngờ. Dân Quảng Trị chất phác, lời lẽ mộc mạc đơn sơ, nhưng đã dụng công trau chuốt thì khó mà chê được.

Hò giã gạo và hò mái nhì là những làn điều thường được dùng để đấu trí, thi tài; nhưng phổ biến nhất vẫn là hò giã gạo, bởi vì nó có nhịp điệu nhanh, khoẻ, dễ gây không khí hoá hức , sôi nổi. để có thể đối đáp xứng hợp, kịp thời, đòi hỏi người nghệ sĩ dân gian phải có một vốn kiến thức nhất định và đặc biệt là tài ứng đối mau lẹ, sít sao. Đầu óc họ phải hết sức tinh tế, nhanh nhạy mới có khả năng vừa phân tích, tổng hợp tình ý đối phương, vừa sáng tác kịp thời lời lẽ đáp lại làm sao cho cân xứng, lấn lướt được đối phương càng tốt. hò đối đáp có thể mang những nội dung khác nhau : Đối đáp ân tình, đấu trí, thi tài về việc đời, triết lý cuộc sống, kiến thức văn học nghệ thuật, địa lý, lịch sử …

Trước đây những đêm hò là những buổi hội ngộ của những đôi trai gái và nhân dân trong làng ngoài xã. Họ vừa là lao động vừa sinh hoạt văn nghệ. Mỗi lần có câu hò hay khán giả vỗ tay reo hò và có quan viên, chức sắc đánh trống chầu để tán thưởng. trong sinh hoạt văn nghệ dân gian này không loại trừ sự góp mặt của các ông nghè, ông Tú thất cơ lỡ vận về sinh sống ở nông thôn. Họ có thể trực tiếp tham gia hoặc tham gia cố vấn cho các chàng trai, cô giá mối khi họ cần đến. nhờ vậy mà tầm hiểu biết của người bình dân cũng rộng hơn.


1. Hò đối đáp ân tình:

Trong lối hò này đôi trai gái trao đổi tình cảm với nhau nhưng đối đáp thế nào cho xứng, thể hiện được tài trí của mình. Có khi cả hai bên đều dùng tình ý, lời lẽ thật với nhau, nhưng thường là có tính cách mỉa mai, châm chọc.

Hai bên đối đáp thật thà về lời, nhưng ngụ ý mỉa mai:

Trai làng ở quá cũng đông

Có sao em bậu lấy chồng đàng xa?

Ơ làng cũng có người thương

Số em đáng số lấy chồng tha hương mới thành.

Dù câu hỏi của người con trai có vẻ thật thà, nhưng ít nhiều cũng có ngụ ý là cô gái ế chồng, trai làng không ai thèm dòm tới ! nên dùng lười lẽ bóng gió xa xôi:

Gặp em đây hỏi thiệt em đây

Sông sâu, sông cạn, đò đầy, đò lưng?

Trong câu hỏi chàng trai đã sử dụng thể ti, phép ẩn dụ để biểu đạt tình ý của mình: Sông và đò ám chỉ người con gái. Cô gái đã đáp lại thật sắc sảo:

Sông này cửa khẩu chưa khai

Thuyền đang đậu bến, chưa ai mà lưng đầy.

Dùng cách đơn giản mà chơi chữ, thủ pháp nghệ thuật dễ chơi xỏ đối phương:

Chiếc thuyền quyên em mỏng mảnh mong manh

Biết đưa anh có đến bên kênh ghềnh hay không?

Người con trai phải hiểu từ ẩn dụ “ Chiếc thuyền quyên” “ Gềnh” là gì mới đáp xứng được.

Và đây, ta thử nghe anh đáp lại:

Chiếc thuyền quyên em mỏng mảnh mong manh

Anh dựng cột buồm dậy chạy hai canh là đến bờ!

“ Dựng cột buồm” là cách nói ẩn dụ rất đắc ý ở đây.

Ta thử nghe thêm vài câu người con gái hò châm chọc:

Càng ngày càng nới dây lưng

Thương anh trong dạ không biết chừng dội mô!

Thương thì thật là thương nhưng xỏ lá đáo để ”Thương anh trong dạ” là cách chơi chữ tài tình để nói rằng: Em đang mang thai anh trong bụng !

Người con trai không nhận thấy xỏ lá ấy thì chỉ đành chịu nhục trước gái thuyền quyên!.Nhưng anh đáp lại còn già giặn hơn:

Bắt lấy dây lưng xin em đừng vội nói

Thiếp còn ân ái chi chi

Thầy mẹ sinh em là phận nữ nhi

Sao không thương thầy với mẹ, nghĩa chi thương chàng.

Ý anh bảo con gái “ Người em thương trong dạ là thầy mẹ em”. Có khi cô gái còn nổi đến cả cha mẹ đối phương:

Kể từ này em đẻ, mẹ ra

Anh không lui tới, thiệt là vô tâm.

Cách chơi chữ rất tài tình : “ Em đẻ mẹ ra” có thể hiểu là khi em sinh ra con thì mẹ anh ra thăm, nhưng ở đây cô nói liền mạch thì có nghĩa là “ Em đẻ mẹ anh ra”.

Đến lượt các chàng trai châm chọc thì cũng chẳng vừa chi:

Ôi thôi rồi đứa con tui hắn chết ngay đơ!

Cửa xa nhà ngái, chôn nhờ đất em

“ Con tui chết ngay đơ” nghe rất tội mà xỏ lá vô cùng. Nhưng cô gái nào có chịu lép vế:

Đất em sâm sẩm ổ gà

Chôn cha cũng lọt huống là chôn con

Đòi chôn cả cha đứa con ấy vào đất em thì xấc đáo để. Chàng con trai cũng có thể hỏi bóng gió:

Chuông vàng đánh tiếng kêu rè

Hay là thợ đúc chế hàn the vô rồi?

Ý nói cô gái đã lang chạ, không còn trinh tiết. Ta có ngờ cô gái đáp lại già giặn như sau không?

Chuông treo trước cửa Cần Chánh

Ai dám vô mà đánh chuông rè

Anh nghiêng tai, cúi trôốc mà nghe

Chuông vàng thanh tiếng, anh chê rè là răng?

Ý cô gái bảo em cao sang như chuông vàng treo trước cửa điện Cần Chánh của Vua, anh dốt nát nói bậy chứ không ai dám đụng vào em đâu! Không tin thì anh nghiêng tai, cúi đầu mà nghe.

Ngay trong lối hò đối đáp ân tình, người bình dân cũng đã sử dụng cách nói lái rất độc đáo ở Quảng Trị. Nói lái là một nghệ thuật chơi chữ để khi đảo các âm của từ thì tạo thành nghĩa mới. cách nói lái thường giúp cho lời nói đỡ thô tục.

Ở Làng Bồ Bản xã Triệu Trạch có một ông Nghè hay chữ rất sành hò, tục gọi là cậu Ba, ông Nghè Ba. Một hôm ông hò ân tình với một cô gái ở vùng Gio linh. Ông than thở trách móc:

Trời mưa , trời gió, vác đó ra đơm

Chạy vô ăn cơm, chạy ra mất đó

Nào ai lấy đó, đó ơi

Đó không phân đi, nói lại đôi lời cho đây hay?

Cậu Ba có ngờ đâu cô gái gái nhanh nhẩu và xấc xược đáp liền:

Nỏ có ai như cậu Ba làng Bồ

Đó treo côi trại, không biết chỗ mô mà tìm!

“ Đó treo côi trại” theo thổ âm Quảng Trị khi nói lái lại rất tục. Ông Nghè hiểu ngay cô gái chơi xỏ mình nhưng đành chịu nhịn và phục tài.


2. Hò Đấu Trí :

Trong lối hò này, đôi trai giá đã vận dụng hết tài năng để thi thố kiến thức về nhiều mặt của cuộc sống. thủ pháp nghệ thuật cũng rất điêu luyện, bảo đảm vần điệu, tiết tấu của thể thơ lục bát và các biến thể của nó. Đôi khi pha giọng ân tình, nhưng đó chỉ là một thách thức thử tài.


Đối đáp châm chọc :

Ô hô đòi Ngô thế lọng

Tui chửi cụ một điều, trọng vọng chỉ không?

Cái gáo úp côi cái đội

O chửi tui một điều, tui trọi chết cha O

Tuy lời lẽ hỏi và đáp lại còn thô tục nhưng ý khá đạt: O mới đòi chửi tui thì tui vừa chửi cha O vừa trọi chết cha O!

Thường các cô gái dùng lời lẽ bóng bẩy, sử dụng phép tu từ bắt đối phương phải vắt óc suy nghĩ cho ra cái ngụ ý của mình:

Nước trong khe chảy ra róc rách ro re

Thân anh như con bìm bịp ngồi nghe sự tình!

“ Nước trong khe” là cách nói bóng gió, anh là con bìm bịp ngồi dưới khe để nghe sự tình của nước trong khe ấy chảy thật là xấc. nhưng chàng trai còn xỏ lá hơn:

Nước trong khe chảy ra róc rách ro re

Anh đây cúng hứng lấy vài ghè

Để khi mụ gia qua thăm rể nấu đọi nước chè uống chơi.

Anh chàng đòi nấu nước trong khe ấy cho mẹ cô giá uống. Có cô gái lên giọng kẻ cả :

Tay cầm bảy tấc roi mây

Ai muốn tầm sư học đạo, tới thầy dạy cho.

Chàng trai giả đò tỏ vẻ ngoan ngoãn:

Đó làm thầy, đây xin thủ đạo làm trò

Đó ngả nghiêng ra mài mực, đây thò bút vô.

Ý xấc láo ở đây là cách lái của hai từ “ thủ đạo” và cách nói ẩn dụ của “ ngã nghiên”, “ thò bút”.


Đối đáp về kiến thức địa lý:

Nước Tam sơn chảy xuống Ba Hà: hà Thanh, Hà Thượng, Hà Trung

Nam nhơn chàng đối đặng, thiếp mới đành lòng thương !

Đáp :

Nước Tứ Hải Hải xao lên bốn thuỷ: Thuỷ khê, Thuỷ Tú, Thuỷ Bạn, Thuỷ Cần

Nam nhơn đà đối đặng, thiếp phải gá nghĩa châu trần ngàn năm

Cách chơi chữ thật tuyệt đẹp: Tam sơn, Ba Hà, Tứ Hải, Bốn Thuỷ

Thách đối bằng cách dùng nghệ thuật nói lái ở Quảng Trị:

Con cá dối nằm trên cối đá

Con mèo cụt nằm trên mút kèo

Trai nam nhơn đối đặng , thiếp xin theo về cùng

Đáp :

Con rắn hổ nằm trên rổ hắn

Cây cau tươi mọc trước cưới tau

Nam nhơn đà đối đặng, ta theo nhau cùng về


Thách đối dựa theo cách gọi tên phi lí của đồ vật:

Hỏi :

Bánh cả mâm sao gọi là bánh ít?

Trầu cả chợ sao gọi trầu không?

Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi.

Chàng trai kia chẳng thua kém chút nào:

Chuối không qua Tây sao gọi là chuối sứ

Cây không biết chữ răng lại gọi cây thông?

Nam nhơn chừ đối đặng quyết làm chồng nữ nhi!


Dùng tên bốn mùa để thách đối :

Con gái Xuân đi chợ mùa Hạ

Mua con cá Thu chạy về, chợ hãy còn Đông

Răng biết em là gái chưa chồng

Mà anh chỉ sá băng đồng tới đây?

Chàng trai đã dùng tên 4 phương để đối lại thật sắc sảo:

Trai phương Nam ra ngồi hàng thuốc Bắc

Gái Đông sang ra dựa chốn lầu Tây

Ông tơ bó buộc, xe dây

Xui anh đáo tới chốn này gặp em.


Trong hò đấu trí có lối hò đố rất xương xóc. Thường là các cô gái nêu những vấn đề hóc búa để thử tài đấng mày râu. Nhưng đã mang danh trượng phu các chàng trai luôn tỏ ra đủ tài ba, bản lĩnh.


Đố về đạo lý làm người, tam cương, ngũ thường:

Quân, sư, phụ: Tam cang giả

Qua chuyến đò đầy, sóng ngã cứu ai?

Câu hỏi đặt chàng trai vào thế lúng túng khó xử, nhưng anh chàng sau đây đáp ba cách khác nhau mà cách nào nghe cũng lọt tai không bắt bẻ được:

Vua băng đi, có triều đình hiệp nghị

Thất sư thiên hạ tầm sư

Không có thân phụ, ai ừ được cho ?

Anh chàng này lý luận là dù cha là bậc thấp nhất trong Tam cương nhưng anh phải cứu cha vì không ai thay cha mình được cả!


Liều mình lọt xuống vực sâu

Hai vai sư, phụ trên đầu đế vương.

Anh này nói thiên lôi nhưng vẹn cả trung lẫn hiếu.


Ngộ phong vũ, điếc óc , đoãng tai

Liều mình vọt xuống quơ quơ, túm túm may ai nấy nhờ.

Anh này nói cho qua chuyện nhưng nghe ra rất thực tế, chẳng mất lòng ai.


Đố về lịch sử:

Tiếng đồn anh học hết Kinh Thi

Ngày xưa vua Văn Vương đi cưới bà Hậu Phi hôm nào?

Hỏi về lịch sử Việt Nam còn điều biết điều không. Cô gái hỏi đến tích xưa chuyện cũ của Tàu thì thật là tai ác! Nhưng chàng trai vẫn tỏ ra thông thạo đáp:

Bà Hậu Phi đi hái rau Quyền nhỉ

Lên ngồi năn nỉ trên hòn đá Trương Kỳ

Vua Văn Vương đi săn bắn, gặp bà Hậu Phi đem về.

Ý anh nói : Chẳng cưới xin gì cả, em đừng hỏi bậy!


Đố về triết lý :

Gặp trượng phu hỏi thiệt trượng phu

Tiên sinh mi răng mi đoản, hậu sinh tu răng, tu trường?

May ra trời biết nói mà trả lời được!

Thế mà chàng trai vẫn dùng phép nguỵ biện để đáp lại, không những thế anh còn đối trả:

Mi sinh tiền là thiên sinh đoản

Hậu sinh tu trường là huyết hoá sửa sinh

Thế cái răng sinh sau cái lưỡi mà răng rụng trước, hỏi mình là nghĩa chi?


Đố cách viết và nghĩa của chữ Hán để ngụ một ý sâu xa hơn:

Hai ngang ba phết, em học không hết em lại hỏi anh

Từ tỉnh Nghệ cho đến kinh Thành

Từ Gia Định cho đến kinh Thành

Quan sầu, dân thảm, hỏi anh chữ gì ?

Hai ngang , ba sổ ( phết) viết thành chữ thất, ý cô gái nói Thất thủ kinh đô Huế thời Pháp thuộc.

Hai ngang ba phết , kết lại chữ thất

Anh đây buồn tình cất một phết bên vai

Kẻ ấy là ai ?

Thiếp mà nói đặng mới gọi rằng tài nữ nhi!

Chữ Thất mà cất một phết bên vai còn lại chữ phu nghĩa là chồng. Đáp được rồi anh chàng đòi làm chồng cô ả. Chữ nghĩa tài trí là thế . Có phải người bình dân là “ Dân ngu khu đen” cả đâu! Người ta bảo : Kinh đô cũng có người rồ / Man di cũng có sinh đồ Trạng nguyên. Thật quả không ngoa.


Biết bao giờ sưu tầm hết được những câu hò đối đáp tài tình trên quê hương Quảng Trị! Tuy nhiên qua bài viết này, tôi hy vọng các bạn thưởng thức, cảm nhận được phần nào tài trí, chất văn học thể hiện qua các tác phẩm của họ. Chúng là nguồn tư liệu quý giá cho những ai mê thích dân ca, những ai muốn học tập, nghiên cứu để làm phong phú cuộc đời mình , làm đẹp tác phẩm văn học của mình.


Văn Quang

1996

READ MORE - VĂN QUANG - TÀI TRÍ NGƯỜI QUẢNG TRỊ QUA ĐỐI ĐÁP DÂN CA

VÕ VĂN HOA - THƠ XUÂN NGÀY CŨ



Ta còn lại tháng ngày thơ bé
Chùm thơ xuân mộng mị bên trời
Em còn không lá rụng ven đồi?
Tình áo trắng phai mùa xa vắng!


" Ngộ" ra mình dấu lặng
Thơ ấp iu vành đỏ môi chiều
Cơ chi anh cùng với giáng kiều
Đi tận cùng trái đất


Nghe thơ mình rung lên sự thật
Mùa xuân ư ? Hoa lá cành ư?
Mà sao loáng thoáng những ngôn từ?
Thơ thời lơ ngơ là thế!


Em đừng trách bờ ao cây khế
Chim chìa vôi khản cổ rao mời !
Giờ đọc lại thơ xuân ngày cũ
Vầng trăng khuya không nói hết ...bằng lời!


Ngày khai hạ Tết Tân Mão
V.V.H
READ MORE - VÕ VĂN HOA - THƠ XUÂN NGÀY CŨ

VÕ QUÊ – VIẾT ĐẦU NĂM MỚI

Mỗi sát na tôi nhủ mình vui
Cuộc sống lung linh màu sắc


Mỗi giây qua tôi nhắc mình tươi

Hoa cỏ ngát hương trời đất


Mỗi phút tới tôi dặn tôi cười

Đàn ngân tiếng trong veo sông suối


Mỗi giờ đến tôi nguyện thương đời

Vị sóng mặn trầm hùng biển núi


Mỗi ngày lên tôi thầm mong tôi

Ngọt lành thơ khát vọng tặng người...


2.2010

READ MORE - VÕ QUÊ – VIẾT ĐẦU NĂM MỚI

Thursday, February 3, 2011

ĐỒNG DAO - Nhạc Võ Công Diên - phổ thơ Trương Nam Hương





Muốn xem rõ bản nhạc, xin bấm vào hình, khi thấy xuất hiện dấu +, bấm thêm lần nữa.




READ MORE - ĐỒNG DAO - Nhạc Võ Công Diên - phổ thơ Trương Nam Hương

Wednesday, February 2, 2011

NỮ CA SĨ TÂN NHÂN





Tân Nhân (15 tháng 7 năm 1932 - 14 tháng 2 năm 2008) là một ca sĩ nổi tiếng trong thập niên 1950-1970. Tên tuổi của Bà gắn liền với ca khúc Xa khơi của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ và nhiều ca khúc trữ tình cách mạng khác.
Tiểu sử và sự nghiệp
Bà tên thật Trương Tân Nhân, sinh năm 1932 tại làng Mai Xá, xã Gio Mai, huyện Gio Linh, Quảng Trị, trong một gia đình trí thức. Cha bà là ông đốc Hy, mẹ là con gái trong một gia tộc họ Hoàng. Lớn lên bà học tại trường nữ sinh Đồng Khánh (Huế).

Cách mạng tháng 8 thành công, bà thoát ly gia đình theo cách mạng khi mới 13 tuổi. Bà tham gia đội phản gián, làm nhiệm vụ đưa tin, rải truyền đơn. Năm 1949, bà tham gia vào Đoàn Văn công Quân đội mặt trận Bình Trị Thiên và Trung Lào. Năm 1954, bà là diễn viên đơn ca tại Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương. Năm 1963, bà theo học khoa Thanh nhạc Trường Âm nhạc Việt Nam và tốt nghiệp năm 1968. Từ năm 1969 đến năm 1972, bà tu nghiệp tại Nhạc viện Sofia, Bulgaria. Về nước năm 1973, bà làm việc tại Đài Phát thanh Giải phóng, rồi Đài Tiếng nói Việt Nam. Bà còn là ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa II. Bà còn tham gia công tác đào tạo diễn viên cho Lào, xây dựng dàn hợp xướng cho các đội hợp xướng thiếu nhi ở Thủ đô Hà Nội.

Tân Nhân có một giọng nữ cao trữ tình, đậm chất miền Trung. Bà thành công với nhiều ca khúc dân ca và trữ tình cách mạng như Xa khơi (Nguyễn Tài Tuệ), Tát nước đêm trăng, Nắng Ba Đình, Tình quê, Ru con (dân ca Nam Bộ), Tình quê hương (Trọng Bằng), Anh về miền Bắc, Chim Pongkle (Nhật Lai), Lăm tơi, Bên nôi con mẹ hát (Lê Lôi), Câu hò bên bờ Hiền Lương (Hoàng Hiệp - thơ Đăng Giao), Nhớ... và một số ca khúc nước ngoài. Đặc biệt với Xa khơi, được thu âm vào thập niên 1960, bà được đánh giá là người thể hiện thành công nhất ca khúc này, và đây cũng là một ca khúc gắn liền với tên tuổi của bà, được công chúng yêu thích và đón nhận rộng rãi.

Tân Nhân đã được trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất và danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú (1988). Bà mất vào ngày 14 tháng 2 năm 2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 76 tuổi.
Đời sống riêng
Năm 1949, trong trận càn ở Phong Lai, bà đã mất liên lạc với cơ sở. Tưởng bà đã chết, trường Huỳnh Thúc Kháng (nơi bà đang theo học) đã tổ chức truy điệu bà. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ - người bạn học cùng quê - đã viết ca khúc Xuân chết trong lòng tôi để tưởng nhớ tới bà :
... Xuân ơi xuân
Chim xa đàn
Xuân ơi xuân
Ngờ đâu xuân chết trong lòng tôi
Trong tiếng đàn...

Về sau bà đã yêu Hoàng Thi Thơ. Sau này ông Hoàng Thi Thơ sang bên kia chiến tuyến, riêng bà lúc đó đang mang thai. Về sau, Tân Nhân ở lại đất Bắc nuôi dạy con là ông Lê Khánh Hoài (lấy họ theo người cha dượng tức người chồng thứ hai của bà là nhà báo Lê Khánh Căn nguyên phụ trách Phòng Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ sở 2, tại TPHCM) và nguyên Trưởng ban Bạn đọc Báo Nhân Dân. Hiện nay ông Lê Khánh Hoài đang làm phóng viên, hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh và kịch nghệ. Bà có 2 người con với người chồng thứ 2 là ông Lê Khánh Châu và bà Lê Khánh Như. Ông Lê Khánh Châu hiện là Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học của Đại học Bochum - Cộng hòa Liên bang Đức.


Theo vi.wikipedia.org
---------------------------------





ĐẶNG ANH ĐÀO - TÂN NHÂN THỜI ẤY


Cho đến tận tháng bảy năm nay, tôi mới biết rằng chỉ cần đi một đọan đường ngắn là có thể gặp lại chị. Đối với nhiều người, nói đến Tân Nhân là nghĩ đến Xa khơi, một bài hát của Nguyễn Tài Tuệ, và cũng thể là hình ảnh của một thời Tân Nhân – soliste nổi tiếng, từ sau 1954 đến những năm 60. Nhưng với tôi, dẫu có thấp thỏang gặp lại chị trong thời gian ấy, những ấn tượng khó quên nhất về người_con_gái_hát lại gắn với thời chị còn là một nữ sinh, hai bím tóc kết dày nặng, tràn đầy sức sống của tuổi thiếu nữ.




…Ngôi nhà nhỏ ở trong ngõ, hoặc là hẻm, sẹc, theo lối gọi của người dân Sài Gòn. Giọng nói vẫn ấm và trầm, chỉ không còn độ lan tỏa đến ngợp người của ngày xưa. Có năm, lên gác nhà tôi ở Hà Nội, chị bảo “Ở dưới sân nghe, cứ tưởng là cãi nhau, hóa ra các con trai em nói chuyện”. Chắc chúng đã làm khổ đôi tai của ca sĩ. Giọng Tân Nhân êm mượt như nhung, nhưng thời chúng tôi còn là học sinh trường Huỳnh Thúc Kháng, đâu có micro, vậy mà giọng hát ấy khi cất lên rung động cả khỏang không và đêm tối bao la. Trong những đêm liên hoan ấy, sang lắm mới có đèn măng sông, mà lại còn phải tắt ngay nếu có tiếng rù rì của máy bay địch. Tôi đứng dưới đám đông học sinh và dân làng, tất cả lặng đi, ngước nhìn bóng chị in rõ trên nền trời, tiếng ca mở rộng hết cỡ, những bài hát phơi phới của ngày ấy như Nắng Ba Đình, và cả những bài hát đậm sắc giọng miền Trung, như bài Bà Mẹ Gio Linh… Khi gặp nhau ở “nhà riêng” (có nghĩa là nhà dân cho chúng tôi ở nhờ), bọn “tiểu tư sản” chúng tôi được nghe những bài hát khác. Tôi nhớ mãi lần đầu tiên chị tới nhà, ngôi nhà tranh nhỏ bé rung lên như không chứa nổi giọng hát của chị. Đó là những bài như Thiên Thai, Trương Chi… Sérénade của Schubert, và cả Quand Le Soleil D’or Descend (Khi mặt trời vàng lặn xuống…) mà diễn viên Shirley Temple nổi tiếng đã hát trong bộ phim tôi được xem từ thời trước Cách mạng, Cô gái của khu rừng bị nguyền rủa. (Chị nói thời còn là một học sinh trường Đồng Khánh Huế, nhờ giọng hát mà con bé nhà quê như chị đã được Nam Phương hòang hậu mời tới cùng với mấy đứa bạn con nhà quyền quý, cho ăn bánh ga tô và hát…Để rồi mới 14 tuổi đã “thóat ly” đi kháng chiến). Hôm đó, chị ca bài Xuân chết trong lòng tôi, một bài hát được Nhạc sĩ-Người tình viết cho chị trước đó ít lâu, khi tưởng rằng Tân Nhân-Mùa xuân của anh đang ở chiến khi Bình Trị Thiên_Trung Lào đã bị địch giết chết trong một trận càn… Lúc này đã được ban chỉ huy chiến trường cho về đi học tiếp, chị hát, còn Nhạc sĩ-Người tình đệm đàn, dường như là một kết thúc có hậu. Hôm chị đến nhà chúng tôi, nắng rực rỡ trong vườn. Dù lúc này chị đã gặp lại trường xưa, người cũ, nhưng lúc chị cất tiếng hát “…Bướm rồi lìa hoa/ trùng phùng xa lắm…”, cảm kích vì mối tình của nhạc sĩ, nước mắt chị vẫn chảy dài trên gò má hồng như trái bồ quân, làm đôi mắt đen to rợp hàng mi dày của chị gần như xanh biếc lại. Chị mặc một tấm áo bằng vải thô trắng-ngày nay là mốt, là hàng xịn- nhưng thời ấy là thứ vải dệt tay của dân quê thuộc lọai rẻ nhất. Dù nổi tiếng về nhan sắc, nhưng với Tân Nhân không mấy ai lúc bấy giờ đánh giá hết vẻ hiện đại, bí quyết của sức hấp dẫn ở chị: tràn trề sức sống mãnh liệt, chân chất của một vùng đầy sỏi đá, cô bé từng lên “lòi” ăn móc ăn sim tím cả môi, chân trần lội “hói”, ra tắm sông Thạch Hãn, hát theo giọng hò khoan và những điệu đưa đò khỏe mạnh thừa hưởng từ người mẹ ấy lại rất tài tử với những điệu “hát Tây” của thời Tino Rossi, Shirley Temple,… Chúng tôi chỉ cần đòi “Tân Nhân hát đi”… là chị cất tiếng. Ở Tân Nhân, có gì đó vừa sâu thẳm, vừa phù phiếm, vô tư. Cho tới ngày chị rời trường. Bởi thật trái khoáy, dẫu lời ca của người nhạc sĩ ấy đã “truy điệu” nhầm cái chết của Tân Nhân, nhưng lại trở thành lời tiên báo của một cuộc chia tay: “Bướm rồi lìa hoa”… Thời ấy, đã có những người trở về vùng quê cũ địch chiếm để rồi bị kẹt lại họăc cũng có khi vì “phồn hoa quen vui em ra đi”. Chỉ có điều người ra đi ở đây không phải là cô gái mà là nhạc sĩ.

Cô nữ sinh nhí nhảnh và nhẹ dạ ấy đã làm đủ nghề, kể cả lao động chân tay cực nhọc để nuôi con. Chị dệt vải, chằm nón, gánh gồng, dạy trẻ… Chị không hoàn toàn giống những nữ sinh yếu đuối tản cư từ thành thị về. Lúc này, trong chị càng trỗi dậy sức sống, bắt nguồn từ người mẹ gắn bó với ruộng đồng, người cha từng phiêu bạt kiếm sống tận Viengchian, đất Lào. Vả chăng, Tân Nhân ở đâu cũng rất dễ gần gũi dân làng, được họ cưu mang. Cho đến ngày nhạc sị Nguyễn Văn Thương từ ngòai Bắc “lội bộ” tới - như lời chị kể - đón chị từ ngôi làng heo hút ấy, về nhập đòan Văn công Trung ương. Chị cùng “lội bộ” ra Bắc, cắp theo chiếc nón cời, hai bộ quần áo.

Hòa bình lập lại, năm 1954, màu áo dài đang mốt của Hà Nội là màu xanh cổ vịt, màu đỏ tím của hoa mười giờ… Tấm ảnh đen-trắng thời ấy không giữ lại màu áo, nhưng đã xuất hiện một Tân Nhân mới, áo dài cổ điển, gương mặt điển hình cho một cô gái Huế. Tôi không mấy khi đến Nhà Hát Lớn và các rạp lộng lẫy ánh điện thời bình để nghe biểu diễn ca nhạc, tôi cũng chưa có rađio. Nhưng các loa phát thanh, rất hào phóng, tỏa ra mọi góc phố. Tôi rất thích Bài Ca Hy Vọng do Khánh Vân hát. Và những đợt sóng của Ra Khơi, với sức lan tỏa của giọng ca Tân Nhân, người trước đây đã làm rung động cả không trung lấp lánh sao trời, những đêm thôn dã, chẳng cần đến micro. Rồi chị trở thành người mẹ của ba đứa con, nhưng những người bạn của tôi nói rằng từ khung cửa sổ căn phòng ở khu tập thể Cầu Giấy 9 mét vuông (ở chung) của chị, họ vẫn nghe thấy Tân Nhân luyện giọng vút lên, hạ xuống mãnh liệt mỗi sớm mai.

Dẫu sao, chính Tân Nhân sớm hiểu hơn ai hết rằng trong nghệ thuật biểu diễn, nghề xướng ca thuộc vào lọai đoản mệnh nhất. Chị cảm thấy đã đến thời mà thành công không thể kéo dài nhờ giọng ca trời phú. Cũng may, vào những năm 70-72, chị đã được cử đi đào tạo bài bản ở nước ngòai, không bị rơi vào tình cảnh mà câu vè hồi ấy tếu táo: “Khi người ta cần trẻ thì tôi đã già/ Khi người ta cần đàn bà thì tôi là đàn ông/ Khi người ta cần công nông thì tôi là trí thức/ Khi người ta cần đức thì tôi lại có tài/…”. Và Tân Nhân vẫn là một soliste số một của những bài đậm chất dân ca. Với phần đệm của dàn nhạc dân tộc, trong đó có cây đàn bầu của Mạnh Thắng, chị đã tạo nên một hình ảnh Việt Nam bằng tiếng hát, ở những Đại hội Thanh niên, liên hoan sinh viên quốc tế. Trong khi đó, các ca sĩ khác bắt đầu biểu diễn những lọai hình nghệ thuật nước ngòai. Tôi đến nhà hát lớn, xem Quý Dương đóng Evgueni Oneguine, thanh mảnh bên cạnh một Tachiana Ngọc Dậu có dáng đẫy đà của người ca sĩ opera người Nga.Thật hay nhưng cũng buồn cười khi nghe Quý Dương hát trên đủ mọi cung bậc: Yếu ém/ Yều èm/ Yếu ém/ Yều èm (Yêu em…). Anh nổi tiếng đến nỗi một nam sinh ở trường tôi dạy, khi phát bệnh điên, đã làm cho cả trường cười rũ rượi. Mỗi lúc tan trường, với cái tên tự xưng là Trùng Dương, cậu ta đứng hát (khá hay) ở ngòai cổng trường và gào lên: “Cây cao đâu có sợ gió cả/ Trùng Dương đâu có sợ Quý Dương”. Đấy là thời mà Trần Hiếu với giọng nam trầm, hát những bài hát Nga bi tráng thật hợp, đặc biệt là bài Hò kéo gỗ trên sông Volga. Nhưng Tân Nhân với tôi bao giờ cũng mới.

Đến nỗi hôm nay đây, gặp mặt chị, câu đầu tiên tôi hỏi là: Chị ơi, ai đặt tên cho chị mà hay thế? Một cái tên tôi không hề thấy ai có, cho đến nay.

Thời gian ăn thịt những đứa con của mình_ huyền thọai cổ đại đã nói vậy. Song tôi vẫn nhận ra giọng nói, ánh mắt Tân Nhân, biểu tượng của thanh sắc một thời. Chị cười buồn, nói rằng nhìn lại, chị thấy vì nghệ thuật, chị đã sống hết mình. “Nhưng đôi khi cũng thấy cực quá em ơi, nhất là tội nghiệp cho ba đứa con…” Làm sao được, tính cách trời sinh. Cả chị và chồng chị_ thanh tao, trong sáng và thông minh, đúng với chất của dòng họ Lê Khánh_ cả hai đều xa thực tế. Nerhu từng nói: tư tưởng một người có thể thay đổi, nhưng tính cách thì không. Có một câu danh ngôn Trung Quốc cũng có hàm ý tương tự: Giang sơn dĩ biến, bản chất nan di. Chị hỏi tôi xem có biết nơi chung cư nào tốt, chị muốn bán cái nhà này đi. Chị nhớ Hà Nội, nhớ miền Bắc. Tôi bảo chị nhà Hà Nội đắt một cách vô lý, và giờ đây chắc sức khỏe chị không thể chịu nổi cái nóng Hà Nội. Chị bảo: “Ừ, trái đất nóng lên rồi. Chị mong bán cái nhà cũ đi để thừa được một ít tiền tiêu”. Nhưng chị có mua nổi khí hậu ở đây mang ra ngòai ấy không?

Khi tôi ra về giữa trưa, ngẩng nhìn thấy trên hẻm, bầu trời xanh lồng lộng, mây bồng bềnh. Không hiểu sao tôi lại nhớ đến câu hát của Nguyễn Vĩnh Tiến nói về “Nắng to, gió to...”. Rồi nhớ đến chuyện chị gặp Bác Hồ, tình cờ móc túi mình làm rơi tiền, người ca sĩ ấy, do một liên tưởng hồn nhiên đã hỏi: “Bác ơi, Bác có tiền không ạ?” Giờ đây, con người ấy vẫn ngơ ngác giữa đời thường, giữa thực tế mới. Nhưng với tôi, chị không cũ chút nào.


Đ.A.Đ

(Đã đăng trên báo An ninh thế giới)

READ MORE - NỮ CA SĨ TÂN NHÂN

PHẠM BÁ NHƠN - CHÙM THƠ XUÂN

MÙA XUÂN SANG


Làng xóm tưng bừng đón xuân sang

Đất trời tô đậm nét hân hoan

Luống cải cuối vườn hoa nở rộ

Trước sân hé nụ gốc mai vàng


Đám trẻ đùa nô rộn tiếng cười

Cụ già ngồi nhớ tuổi đôi mươi

Có cô thôn nữ nghiêng vành nón

Má hồng thêm đậm nét son tươi


Có kẻ từ lâu mới trở về

Một nhà sum họp giữa làng quê

Nếp thơm nồi bánh xanh màu lá

Khói cuộn hương bay tỏa bốn bề


Năm tháng trôi theo bước thời gian

Tha hương cũng đã mấy đông tàn

Tình cũ quê xưa lòng canh cánh

Chớ để xuân sau đến muộn màng


Xuân đến xuân đi xuân lại sang

Cuộc đời một chuỗi hợp và tan

Kiếp người còn lại bao năm tháng

Chớ để ngày xuân sớm lỡ làng.



XUÂN MỚI


Xuân đến xuân đi, giữa đất trời

Để người nhớ lắm, dáng xuân ơi

Bao mùa giữ trọn, lời ước hẹn

Nay đã về đây, với cuộc đời


Mời xuân nhấp cạn chén cùng tôi

Một mai duyên nợ kết thành đôi

Say sưa ngủ giấc trong vườn mới

Rộn rã đào mai đã nở rồi


Nắng vẫy chào xuân vừa đang tới

Chen chân góc phố chật niềm vui

Chúc mừng năm mới, mừng thêm tuổi

Nội ngoại sum vầy khách tới lui


Rồi đây chim én qua đầu núi

Để giữa đất lành lá vẫn xanh

Âm thầm tôi gọi tên mùa cũ

Lặng lẽ vườn em trái trỉu cành



XUÂN ĐI


Lặng nhìn vạt nắng ngang qua

Dường như xuân đã vừa xa mất rồi

Chén trà đắng lịm môi tôi

Lã lơi mây trắng buồn trôi cuối trời

Ước gì nắng ở đây chơi

Cùng ta suốt cả một đời với xuân

Trăm năm dẫu cũng bao lần

Vẫn còn vẹn kiếp phong trần dẻo dai.



XUÂN VỘI VÀNG


Xuân đến xuân đi vô tình quá

Bao mùa người vẫn mịt mờ xa

Ta nghe từng nỗi xao xuyến lạ

Cứ chảy tràn qua trước cổng nhà


Ngoài hiên giọt nắng rơi lác đác

Ngọn gió bên thềm vọng tiếng em

Vô tình chiếc lá khua xào xạc

Trong mắt mơ màng dáng thật quen


Hỡi ơi duới bến đàn chim én

Lưu luyến gì đây mãi lượn vòng

Có phải say nhìn ta bẻn lẽn

Vì cùng ước hẹn với chờ mong


Năm nay thấy bóng xuân vàng óng

Đôi mắt long lanh dáng dịu dàng

Có lẽ vì chàng đang đứng đợi

Nên nàng vội bõ kẽ lang thang./.



P.B.N

READ MORE - PHẠM BÁ NHƠN - CHÙM THƠ XUÂN