Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 23, 2026

CHÁY - Thơ Trần Thị Lan Anh

 

Trần Thị Lan Anh

“Cháy trong mắt” – một ánh nhìn khẽ chạm vào tim,
và dù thời gian có trôi, vẫn còn đó, âm ỉ:
“Cháy suốt đời một vết mộng chưa gom.”

Lan Anh xin giới thiệu tới quý độc giả một tác phẩm thơ mới.  

Một mối tình không lời, nhưng luôn sống, luôn cháy trong ký ức.

 

CHÁY

 

Cháy trong mắt một lần nhìn rất lặng,

Cháy trên môi một chờ đợi mong manh.

Cháy vào tay nỗi run mềm chưa chạm,

Cháy vào tim vết nhớ chẳng chịu lành

 

Cháy qua đêm bóng hình xưa quay lại,
Cháy trong mơ mùi tóc gió thu sang.
Cháy nơi gối một lời thương còn ngại,
Cháy giữa đời chút ấm áp muộn màng.

 

Cháy theo bước những ngày xưa khờ dại,
Cháy trong tay dư vị buổi tàn phai.
Cháy bên hiên tiếng thở dài rất nhẹ,
Cháy cuối chiều màu nắng úa trên vai.

 

Cháy lên nhớ giữa đôi bờ xa vắng,
Cháy âm thầm như lửa mọc trong tim.
Cháy theo gió dẫu trôi về lãng quên,
Cháy mãi mãi một mối tình kín tiếng.

 

Cháy rồi tắt, nhưng tàn tro vẫn sáng,
Cháy âm ỉ trong kẽ lá, đầu hôm.
Cháy trong mắt người từng thương rất đậm,
Cháy suốt đời một vết mộng chưa gom.

 

Trần Thị Lan Anh

Aschaffenburg, Germany

 

“Burning in the Eyes” — a glance that softly touches the heart,
and though time may pass, it still remains, quietly smoldering:
“Burning for a lifetime, a dream never gathered.”

Lan Anh would like to introduce to dear readers a new poetic work.
A love without words, yet always alive, always burning in memory.

Burning: A Silent Fire of Love

Burning in the eyes with one silent glance,
Burning on the lips in fragile waiting.
Burning into hands, a trembling yet untouched,
Burning into the heart, a scar that refuses to heal.

Burning through the night, past shadows return,
Burning in dreams, the scent of autumn wind.
Burning on the pillow, a word of love still shy,
Burning in life, a warmth belated, fleeting.

Burning along the steps of foolish days,
Burning in the hands, the aftertaste of fading hours.
Burning by the eaves, a soft, whispered sigh,
Burning at twilight, sunlight withering on the shoulders.

Burning in memory, across distant, empty shores,
Burning silently like fire rising in the heart.
Burning with the wind, though drifting into forgetfulness,
Burning forever, a secret love kept.

Burning then fades, yet ashes still glow,
Burning qui
Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de etly in the leaves at dusk.
Burning in the eyes of one once loved deeply,
Burning a lifetime, a dream never gathered.

Trần Thị Lan Anh

Aschaffenburg, Germany

Email:  Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

 

READ MORE - CHÁY - Thơ Trần Thị Lan Anh

TRẮNG THA HƯƠNG - Lê Thi

 


TRẮNG THA HƯƠNG 

 

   Sáng nay cơn bão tuyết về, như một lời nhắc khẽ mà lạnh buốt của xứ người. Thành phố chìm trong một màu trắng đục mờ, thứ trắng không tinh khôi, mà nặng trĩu nỗi nhớ. Trắng của tuyết, của những phận người tha hương đang lặng lẽ đi qua mùa đông đời mình.

Con đường quen bỗng trở nên xa lạ. Từng đoàn xe nối đuôi nhau bò chậm chạp, 20 km/h mà vẫn thấy chông chênh. Các tài xế căng tròn đôi mắt, không còn nhìn vạch kẻ đường, chỉ lần theo dấu bánh xe mờ nhạt của người đi trước như lần theo số phận. Xe trăm ngàn hay xe vài ngàn bạc lúc này cũng như nhau, cùng cúi đầu đội tuyết, thân mình lấm lem, màu sơn nguyên bản không còn phân biệt được sang hèn.

Dòng người mưu sinh hòa lẫn vào nhau trong cơn bão. Ông chủ tiệm nail thở dài lo khách thưa vì tuyết gió. Người làm xây dựng đứng ngồi không yên, hợp đồng thúc giục mà công việc ngoài trời thì bất lực trước thời tiết khắc nghiệt. Có những nỗi lo rất nhỏ mà rất thật: mấy cụ già tự hỏi sáng mai lấy đâu sức đẩy thùng rác ra lề, rồi làm sao kéo nó vào khi tuyết phủ ngập lối đi.

Tết đang đến. Xuân đang về, ít nhất là trên tờ lịch treo tường. Nhưng ở nơi này, mùa xuân dường như đến muộn hơn trong lòng người. Cuộc sống mưu sinh xứ người vẫn cuốn tất cả vào vòng quay chưa kịp dừng. Bão tuyết, lốc xoáy, cảnh báo liên hồi… rồi cũng phải khoác áo, nổ máy, tiếp tục đi làm. Chưa ai rảnh rỗi để nghĩ đến hoa mai hay bánh chưng, khi mỗi ngày mở thùng thư là thêm một xấp phong bì lạnh lùng réo gọi tiền nhà, tiền điện, tiền bảo hiểm, tiền học, tiền đời.

Tuyết đổ xuống như những thúng muối trắng xóa trút lên đầu ngọn cây trơ trụi. Xe xúc ủi gầm gừ giành giật từng mét đường với tuyết, vừa quay lưng đi, tuyết đã kịp phủ kín lối vừa mở, như thể nhắc rằng con người ở đây chỉ là kẻ tạm trú, ngang qua chợ đời vội vã.

Giữa mênh mông trắng xóa ấy, lòng người bỗng chùng xuống. Nhớ một buổi chiều cuối năm quê nhà, gió chỉ se lạnh, nắng còn vương trên mái ngói. Nhớ mùi khói bếp, nhớ tiếng chổi quét sân, nhớ cái cảm giác Xuân đến không cần phải chống chọi, chỉ cần mở cửa đón vào.

Ở Bắc Mỹ, trong một ngày bão tuyết, Xuân vẫn đang về… nhưng Xuân đi qua rất khẽ. Nó nằm đâu đó trong một nỗi nhớ âm ỉ, trong lời chúc Tết vội vã qua điện thoại, trong giọt nước mắt lặng thầm tan ra cùng bông tuyết trên mi.

Tất cả đều ngập trong tuyết, một màu trắng tha hương. Nỗi lòng những đứa con xa xứ khát khao giọt nắng quê nhà!

Lê Thi 

Bắc Mỹ ngày bão tuyết.

READ MORE - TRẮNG THA HƯƠNG - Lê Thi

Ca khúc CHIỀU MƯA CAO NGUYÊN - Lời: Nguyễn Khắc Phước - Nhạc và giọng ca: SUNO AI

 

 

CHIỀU MƯA CAO NGUYÊN

 

Verse 1:

 

Một chiều đi trên cao nguyên,

Gặp em loài hoa không tên,

Màu hoa dường như hoa tím,

Và mùi hương còn trinh nguyên.

 

Verse 2:

 

Một chièu mưa trên cao nguyên,

Gặp em đội mưa qua hiên,

Tóc em cài nhành hoa tím,

Nụ cười trên vành môi duyên.

 

Chorus 1:

 

Phố cao nguyên nằm,

Dưới mưa dăng hàng,

Em yêu phố chợ miền núi,

Em theo những con đường trơn.

 

Chorus 2:

 

Vẫn luôn tươi cười,

Với bao nhiêu người,

Em yêu trái ngọt miền núi,

Em yêu những nụ hồng tươi.

 

Verse 3:

 

Và thời gian trôi qua mau,

Mưa rơi biết trôi về đâu,

Sông sâu con đò tách bến,

Có một người luôn trông theo.

 

Outro:

 

Nhớ sao dáng người,

Nhớ sao tiếng cười,

Trong tôi có nhành hoa tím,

Trong tôi có nụ hồng tươi.

READ MORE - Ca khúc CHIỀU MƯA CAO NGUYÊN - Lời: Nguyễn Khắc Phước - Nhạc và giọng ca: SUNO AI

Thursday, January 22, 2026

NGÀI BÙI DỤC TÀI: - VỊ TIẾN SĨ KHAI KHOA CỦA ĐẤT THUẬN HÓA, ĐẦU TIÊN CỦA XỨ THUẬN QUẢNG, - NIỀM TỰ HÀO CỦA LÀNG CÂU NHI VĂN VẬT! - Lê Chí Dũng


Khu Lăng mộ của Ngài Bùi Dục Tài tại làng Câu Nhi


NGÀI BÙI DỤC TÀI:

- VỊ TIẾN SĨ KHAI KHOA CỦA ĐẤT THUẬN HÓA,

ĐẦU TIÊN CỦA XỨ THUẬN QUẢNG.

- NIỀM TỰ HÀO CỦA LÀNG CÂU NHI VĂN VẬT!


Lê Chí Dũng


Ngày còn học tiểu học ở làng, có lần ăn giỗ bên ngoại của cha, gia đình bạn cùng lớp Bùi Ngọc Ngữ, tôi có dịp cùng chú Ngữ ngồi đọc gia phả họ Bùi và được biết làng mình vinh dự có ngài Bùi Dục Tài là vị Tiến sĩ đầu tiên của đất Quảng trị. Ngài Bùi Dục Tài có hiệu Minh Triết, sinh năm Đinh Dậu (1477) tại làng Câu Lãm, Phủ Hải Lăng (nay là làng Câu Nhi, thôn Câu Hà, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị). Ngài là con của ông Bùi Sỹ Phường, cháu đời thứ 5 của Ngài thủy tổ Bùi Trành. Ngài đỗ khoa thi Hương năm 1501, khoa thi Hội vào mùa Xuân năm 1502 rồi đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa thi Đình năm  Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502), đời vua Lê Hiến Tông (con của vua Lê Thánh Tông) thời Hậu Lê còn hưng thịnh. Nước Đại Việt thời đó đã mở mang đến Bình Định.


Bia đá khắc tên Ngài Bùi Dục Tài


Là cư dân của đất Thuận Hóa nên Ngài Bùi Dục Tài là vị Tiến sĩ khai khoa của vùng đất Thuận Hoá. Tên Thuận Hóa do vua Trần Anh Tông đặt vào năm 1307 sau khi sáp nhập vào Đại Việt 2 châu Ô và Rí là quà cưới công chúa Huyền Trân của vua Chế Mân nước Chiêm Thành. Thuận Hóa là vùng đất từ Quảng Bình vào Bắc Quảng Nam, gồm các châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, Ô và Rí (Lý) của Chiêm Thành cũ.


Văn Thánh nơi thờ Ngài Bùi Dục Tài tại làng Câu Nhi

Cũng có thể nói Ngài là vị Tiến sĩ đầu tiên của vùng đất Thuận Quảng tức Thuận Hoá và Quảng Nam (xưa). Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đánh thắng vua Chiêm là Trà Toàn và mở mang bờ cõi đến Bình Định. Nhà vua đã đặt tên "Quảng Nam thừa tuyên đạo" bao gồm Đà Nẵng, Quảng Nam ngày nay, Quảng Ngãi và Bình Định.

Đối với quê hương thì đây là một kết quả rất đáng tự hào, đầy vinh dự của làng Câu Lãm (Câu Nhi hiện nay). Làng chỉ mới thành lập được khoảng 100 năm ở vùng “Ô châu ác địa” mà từ trong gian khó đã sản sinh ra nhân tài thi đậu Tiến sĩ!

Tuy nhiên nếu nói ngài là người tiến sĩ khai khoa của Đàng Trong thì không đúng vì vào thời điểm đó (năm 1502 lúc ngài Bùi Dục Tài đậu tiến sĩ) thì Trịnh Kiểm (sinh năm 1503) và Nguyễn Hoàng (sinh năm 1525) còn chưa sinh ra đời và hơn 170 năm sau (năm 1672) mới có cụm từ Đàng Ngoài – Đàng Trong để chỉ thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh. Giai đoạn này chỉ tồn tại 114 năm, chấm dứt vào năm 1786 khi Vua Quang Trung- Nguyễn Huệ tiêu diệt cả 2 tập đoàn chúa Nguyễn và chúa Trịnh.

Lược lại sử sách thì Nguyễn Kim là người đã khởi binh phò Vua Lê, dẹp họ Mạc, tạo nên thời kỳ Lê trung hưng. Sau khi Nguyễn Kim mất, quyền bính rơi vào tay con rể Trịnh Kiểm. Lo sợ bị giết như người anh Nguyễn Uông nên Nguyễn Hoàng nhờ chị là Ngọc Bảo xin với anh rễ Trịnh Kiểm cho vào đất Thuận Hóa là một vùng đất mới, còn nhiều bất ổn của Đại Việt. Vì vậy vào năm 1558 đời vua Lê Anh Tông, Trịnh Kiểm xin vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá & và sau này cả xứ Thuận Quảng. Sự đối nghịch Trịnh><Nguyễn bộc lộ rõ ràng hơn sau khi Chúa Nguyễn Hoàng mất vào năm Quí Sửu (1613) và Chúa Trịnh Tùng mất (1623). Hai bên đánh nhau 7 lần, lần đầu vào năm 1627 và lần thứ bảy vào năm 1672 bất phân thắng bại nên phải chấp nhận chia đôi 2 miền Đàng Ngoài và Đàng Trong, lấy ranh giới là Linh Giang (sông Gianh) ở Quảng Bình... Khi cả 2 Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đều bị vua Quang Trung của nhà Tây Sơn tiêu diệt vào năm 1786 thì không còn Đàng Trong, Đàng Ngoài nữa.

Do đó, nôm na nếu nói ngài Bùi Dục Tài là vị Tiến sĩ đầu tiên của Đàng Trong (như nhiều văn bản hiện nay) thì cũng tương tự như công nhận đại thi hào Nguyễn Du là nhà thơ lớn của thời kỳ VN XHCN vậy!!!

Theo gia phả họ Bùi thì từ thuở thiếu thời, cậu bé Bùi Dục Tài là người thông minh đĩnh ngộ, cha ông làm trưởng làng. Năm 1491 nhân chứng kiến cảnh quan huyện trách mắng, sỉ nhục cha mình do thu nộp thuế không đủ. Cậu đã hỏi “Cha ơi, ôn nớ làm chi mà mắng nhiếc cha dữ rứa?" "Ông nớ làm quan huyện, cố tình trách mắng ai chả được" "Ông nớ mần răng mà được làm quan huyện?” " Ông ấy học cao thi đỗ nên được bổ ra làm quan" ""Con tưởng ông ta có tài cán chi, chứ còn học cao thi đỗ rồi được ra làm quan thì con cũng làm được. Cha cho con đi học đi, con sẽ quyết chí thi đỗ và làm quan cho cha coi". Nghe con trẻ có chí hướng như vậy, dù gia cảnh nghèo khó cha ông đã quyết tâm cùng bà con họ tộc khuyến khích giúp đỡ cho cậu đi học từ năm 1492.  

Năm Tân Dậu-1501, vua Lê Hiến Tông tổ chức kỳ thi hương tại Huế. Sau 4 ngày thi cử, ông Bùi Dục Tài đã đậu Cử nhân (hương cống). Mùa Xuân năm Nhâm Tuất-1502, ông lặn lội từ Thuận Hóa xa xôi lều chỏng ra kinh đô Thăng Long dự kỳ thi Hội. Trải qua 4 trường thi ông đã thi đỗ cùng với 63 người khác trong tổng số 5.000 sĩ cống. Đến kỳ thi Đình cùng năm 1502, ngài Bùi Dục Tài được vào sân Kính Thiên cung đình tham dự, đề thi do đích thân nhà Vua biên soạn. Ông đã trả lời xuất sắc, được nhà Vua khen ngợi và thi đỗ “Nhị giáp Tiến sĩ xuất thân”, đứng thứ 24 trong tổng số 64 Tiến sĩ. Trạng nguyên khoa ấy là ông Lê Ích Mục người làng Thanh Lãng, huyện Thanh Đường (nay là Hải Phòng).

Ngài Bùi Dục Tài nổi tiếng uyên bác về văn học và có tài thao lược. Ngài được bổ nhiệm vào Viện Hàn lâm giữ chức Hàn lâm Hiệu Lý rồi Tham chính Đạo Thanh Hoa (nay là Thanh Hóa) và là danh thần đời vua Lê Túc Tông. Bấy giờ nhà Lê bước vào giai đoạn suy tàn. Nhờ công lao phò Lê Tương Dực lên ngôi vua, nên vào năm Hồng Thuận thứ nhất (1509), ngài được thăng chức Lại bộ Tả thị lang. Đương thời, ông được xưng tụng là vị quan liêm khiết, công bằng, ngay thẳng, luôn cất nhắc đề bạt những kẻ có thực tài và hiền đức nên được mọi người khen ngợi và mến phục.

Năm Quang Thiệu thứ nhất (1516), đời vua Lê Chiêu Tông đất nước càng loạn lạc hơn, ngài được cử giữ chức Tham tướng về kinh lý tại quê nhà Thuận Hóa nhằm vận động nhân dân và sĩ phu chống lại âm mưu tiếm ngôi vua của Mạc Đăng Dung. Đội quân phiến loạn do 2 anh em Đô Chúc và Đô Kiểm cầm đầu. Ngài Bùi Dục Tài đã chỉ huy quân đánh dẹp, giết được Đô Kiểm còn Đô Chúc tẩu thoát. Trên đường trở lại kinh đô Thăng Long, qua xứ Bàu Đá huyện Võ Xương hiểm trở (nay là làng Cẩm Thạch, Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị), ngài bị tàn quân nhà Mạc là Đô Chúc và Minh Lương (?) phục kích. Ngài đã dũng cảm chiến đấu và hy sinh vào ngày 12 tháng 8 năm Mậu Dần-1518, hưởng dương 41 tuổi. Dân làng Cẩm Thạch dựng miếu lớn thờ Ngài tại vị trí này. Thân nhân đã đưa thi hài của Ngài về bản quán làng Câu Lãm và an táng Ngài tại cánh đồng Yên Biều gần Cọ Mỹ Xuyên. Nhiều vị Tổ của các Họ cũng được chôn cất tại đây. Bài vị của Ngài được thờ phụng ở Văn Thánh, ở Chùa Quan khố và gia tộc họ Bùi của làng. Tương truyền một người con của Ngài ra sinh sống ở Cẩm Thạch, Cam Lộ; ở đây cũng có một ngôi mộ (mộ gió?) của Ngài và tạo nên một phái họ Bùi ở đây (?). Sử sách có ghi lại một người con trai của Ngài là Bùi Vĩ đậu Nho sinh trúng thức bị Vua Mạc Thái Tổ xử tử do có người em gái đi theo giặc Liễn (!). Nếp nhà sa sút từ đây!.

Trong sách "Ô Châu cận lục" của Dương Văn An (đỗ tiến sĩ năm 1547) đã nhận xét "Bùi Dục Tài về chính trị và văn chương xứng đáng là bậc hiền tài trong thiên hạ" "Cái chết của ông Bùi Dục Tài chẳng phải là sự bất hạnh của riêng ông mà chính là sự bất hạnh của triều Lê...". Nhà bác học Lê Quí Đôn khen ngợi ngài Bùi Dục Tài “Văn mạch một phương dằng dặc không dứt”.

Sau khi mất, ngài Bùi Dục Tài được vua Lê truy tặng chức Lễ Bộ Thượng Thư. Năm Tự Đức thứ 11 (1858), ngài Bùi Dục Tài được truy phong "Tuần lương tôn thần".

Gia phả họ Bùi đã ghi chép đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp của Ngài và tri ân Ngài bằng 2 câu thơ:

      Nam kỳ khoa giáp thụ tiền mao, kỳ sanh bất ngẫu

      Cẩm thạch sơn hà lưu chính khí, thị tử du

dịch là:

      Văn chương lừng lẫy xứ Nam kỳ, bia còn tạc

      Khí tiết lưu truyền làng Cẩm Thạch, chết thơm danh.  

Tên của ngài Bùi Dục Tài được khắc vào bảng vàng bia đá tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. Các vị Tiến sĩ khác của đất Quảng Trị đều đỗ đạt dưới thời nhà Nguyễn và được khắc bia ở Văn Thánh, Huế. Những ai đã đến viếng thăm Văn miếu Hà Nội và quan tâm đến ngài Bùi Dục Tài thì đều thắc mắc xen lẫn ấm ức khi thấy ghi quê quán ngài là “Hải Dương ?!”. Có người cho rằng sở dĩ ghi như vậy là vì quê vợ của ngài ở Hải Dương ?. Người khác lại nghĩ hay là do viết chữ Hán bị nhầm giữa Hải Lăng và Hải Dương chăng?. Trong những lần trước đây, tôi đã nhiều lần góp ý bằng thư, nhưng không thấy sửa đổi! Trong lần ra hội thảo ở Hà Nội năm 2002, ghé thăm Văn miếu-Quốc tử giám, tôi đã để ra một buổi sáng ngồi trao đổi, góp ý với giám đốc và phó giám đốc Văn Miếu về những sai sót (trong đó có những điểm rất ấu trĩ) và về phương thức họat động của Văn Miếu. Buổi họp mặt với giám đốc và phó giám đốc Văn Miếu hôm đó còn có BS CKII Đinh Văn Thuỷ, Trưởng Khoa Chấn thương Chỉnh hình Bệnh viện Nhân dân Gia Định- TPHCM. Một số hoạt động sau đó được khởi xướng từ năm 2003 như tổ chức vinh danh các Tiến sĩ, Giáo sư/Phó Giáo sư tại Văn miếu-Quốc tử giám (không rõ là từ góp ý của tôi hay chỉ là sự trùng hợp (?!). Nhưng những sai sót về hình thức cũng như chi tiết về quê quán của ngài Bùi Dục Tài thì vẫn như cũ!

Như vậy, ngài Bùi Dục Tài là vị Tiến sĩ khai khoa của đất Thuận Hoá, là vị Tiến sĩ đầu tiên của xứ Thuận Quảng và của cả các tỉnh phía Nam dãy Hoành sơn (đèo Ngang), vùng đất mà có một giai đoạn của lịch sử được gọi là Đàng Trong (từ năm 1672-1786). Ngài là tấm gương sáng về lòng hiếu học, tinh thần vượt khó khăn khổ cực để thành tài, làm rạng danh truyền thống học hành khoa cử. Ngài đã thể hiện đức tính liêm chính, đạo nghĩa của làng Câu Nhi, của tỉnh Quảng Trị và vùng Thuận Hoá, cho cả xứ Thuận Quảng xưa và Việt Nam ngày nay.


Tác giả LCD viếng mộ Ngài Bùi Dục Tài tại làng Câu Nhi


Tôi được biết vào năm 2003, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị đã ban hành quy chế giải thưởng Bùi Dục Tài để khen thưởng cho các học sinh, sinh viên đạt kết quả cao trong các kỳ thi. Tên ngài còn được đặt cho trường trung cấp dạy nghề ở TP. Đông Hà, trường phổ thông trung học xã Hải Sơn. Khi đi ngang qua Phò Trạch, tỉnh Thừa thiên, tôi lại thấy một con đường nhỏ mang tên Bùi Dục Tài. Về làng, tôi đã cùng cha ra thăm khu Văn Thánh nơi thờ ngài Bùi Dục Tài vừa được xây dựng lại ở ngay trước đình làng, thấy cũng còn đơn sơ lắm. Như vậy thì tuy làng Câu Nhi được vinh hạnh có người con ưu tú là ngài Bùi Dục Tài nhưng vẫn còn thiếu những hoạt động xứng tầm với tên tuổi của Ngài cũng như chưa phát huy được tinh thần Bùi Dục Tài trong việc thúc đẩy học tập, công tác. Ngôi mộ của ngài ở đồng Yên Biều xóm Hòa gần “cọ” Mỹ Xuyên vẫn còn quạnh quẻ. Có thể nói tầm vóc ngài Bùi Dục Tài xứng đáng hơn những gì mà làng Câu Nhi và tỉnh Quảng Trị đã vinh danh ngài. Theo tôi, để phát huy tinh thần hiếu học, làm việc công minh cho con cháu học tập, noi theo và phát huy, tên Ngài Bùi Dục Tài xứng đáng được đặt cho một trong những ngôi trường và con đường lớn nhất ở tỉnh Quảng Trị cũng như ở thành phố Huế.

Năm 2025, dự án tôn tạo ngôi mộ của ngài ở đồng Yên Biều gần Cọ Mỹ Xuyên và Miếu thờ Ngài ở đầu đình làng Câu Nhi được hoàn thành. Con đường bê tông rộng 6m từ quốc lộ 49B vào thẳng khu mộ của ngài tạo điều kiện cho con cháu và khách thập phương, khách du lịch đến viếng người con ưu tú của làng "Câu Nhi văn vật" và của vùng đất Thuận Hoá xưa. Khu lăng mộ của Ngài đã được khánh thành đầu tháng 1 năm 2026.

Con đường lớn, đẹp bên bờ hồ Hải Lăng cũng vừa được vinh dự mang tên Ngài.

LCD

Những ngày đầu năm, cuối năm nhớ về làng quê yêu dấu.

14/01/2026

Liên kết:

FACEBOOK LÊ CHÍ DŨNG


READ MORE - NGÀI BÙI DỤC TÀI: - VỊ TIẾN SĨ KHAI KHOA CỦA ĐẤT THUẬN HÓA, ĐẦU TIÊN CỦA XỨ THUẬN QUẢNG, - NIỀM TỰ HÀO CỦA LÀNG CÂU NHI VĂN VẬT! - Lê Chí Dũng

ƯỚC NGUYỆN NĂM NGỰA - Thơ Trần Thị Lan Anh






ƯỚC NGUYỆN NĂM NGỰA

Ngựa
tung vó trên cánh đồng thưa nắng
bờm bay trong gió
lòng tôi mở ra
như những cánh hoa chưa nở

Năm này
không chỉ là con số
mà là bước chân
vững, phi qua bão tố
vẫn không ngã

Niềm vui
như đồng hoang dại
hoa rải nắng, cười lan xa
mơ vẫn đến gần
dù đường dài và rừng rậm

Tình yêu, bạn bè, nghĩa thân
bến đỗ bình yên
mọi hơi thở, mọi ánh sáng
dù nhỏ, cũng đủ

Tôi ước cho thế giới này
một hơi thở hiền, một tia hy vọng nhỏ
để tất cả
như ngựa tung vó
chạy tự do
trên đồng rộng
vui sướng
bình yên


Lan Anh,

Aschaffenburg, Germany

Email: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de



READ MORE - ƯỚC NGUYỆN NĂM NGỰA - Thơ Trần Thị Lan Anh

Tuesday, January 20, 2026

Chùm ảnh BÊN DÒNG Ô LÂU - NAM HẢI LĂNG - Nguyễn Điền

Cầu Mỹ Chánh - Làng cổ Phước Tích

 


Bình minh trên dòng Ô Lâu

 


Ngày mới bên dòng Ô Lâu

 


Chiều bên hồ sen

 


Hái sen cúng Phật

 


Chờ thuyền sang sông

 

READ MORE - Chùm ảnh BÊN DÒNG Ô LÂU - NAM HẢI LĂNG - Nguyễn Điền

Monday, January 19, 2026

BÁNH AYƠH: HƯƠNG VỊ ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU QUẢNG TRỊ - Video từ Facebook Trúc Dương - Bài của Nguyễn Khắc Phước

 

Bánh Ayơh: 

Hương Vị Độc Đáo Của Người Vân Kiều Quảng Trị

 

Dọc theo dãy Trường Sơn hùng vĩ, nơi đại ngàn Quảng Trị nắng gió, người Bru - Vân Kiều từ bao đời nay đã tạo nên một nền văn hóa ẩm thực vô cùng phong phú và độc đáo. Giữa vô vàn những món ăn mang hương vị của núi rừng, có một loại bánh không chỉ đơn thuần là món ăn, mà còn là biểu tượng của lòng hiếu khách, sự gắn kết cộng đồng và những giá trị tâm linh sâu sắc. Đó chính là bánh Ayơh – món bánh giã tay truyền thống mang đậm bản sắc của người Vân Kiều.

Ảnh từ Facebook  Ẩm Thực Bru Vân Kiều

 


1. Nguồn gốc từ hạt lúa rẫy và sự chắt chiu của đất trời

 

Để hiểu về bánh Ayơh, trước hết phải hiểu về hạt lúa rẫy của người Vân Kiều. Khác với lúa nước ở đồng bằng, lúa rẫy (người địa phương gọi là nếp Than hoặc nếp Nhung) được trồng trên những sườn đồi cao, lớn lên nhờ nước trời và linh khí của núi rừng.

 

Bánh Ayơh ra đời từ chính sự trân trọng những hạt ngọc của Giàng (Trời) ban cho. Theo các già làng kể lại, bánh Ayơh đã có mặt trong đời sống người Vân Kiều từ rất lâu đời. Chẳng ai rõ nó xuất hiện chính xác từ khi nào, chỉ biết rằng khi những bản làng bắt đầu biết canh tác lúa rẫy, biết làm lễ mừng lúa mới, thì mùi thơm của bánh Ayơh đã bắt đầu lan tỏa khắp gian bếp của những ngôi nhà sàn.

 

2. Quy trình chế biến: Sự kỳ công từ đôi bàn tay khéo léo

 

Bánh Ayơh nhìn vẻ ngoài có vẻ đơn giản, giống như bánh dày của người Kinh, nhưng quy trình để tạo nên một chiếc bánh chuẩn vị lại đòi hỏi sự tỉ mỉ và sức lực đáng kể.

 

Lựa chọn nguyên liệu

 

Nguyên liệu quan trọng nhất chính là nếp rẫy. Nếp phải là loại mới thu hoạch, hạt tròn, mẩy và có mùi thơm nồng nàn. Bên cạnh đó, một thành phần không thể thiếu tạo nên hương vị đặc trưng là vừng (mè) đen. Vừng đen được người dân trồng ngay trên rẫy, hạt nhỏ nhưng rất bùi và thơm.

 

Công đoạn chế biến

 

Ngâm và đồ xôi: Gạo nếp được vo sạch, ngâm trong nước suối khoảng vài tiếng cho mềm rồi cho vào chõ gỗ để đồ (hấp). Người Vân Kiều có bí quyết riêng để xôi chín đều, dẻo nhưng không được nát.

Giã bánh (Công đoạn quan trọng nhất): Đây là lúc cần đến sức mạnh của những chàng trai và sự khéo léo của những người phụ nữ. Khi xôi còn nóng hổi, người ta cho vào cối gỗ. Vừng đen đã rang chín, thơm lừng cũng được cho vào cùng. Hai người đàn ông lực lưỡng sẽ dùng chày gỗ giã liên tục, đều tay.

Giã bánh Ayơh không chỉ là làm nhuyễn xôi, mà là làm sao để hạt vừng đen hòa quyện hoàn toàn vào từng thớ nếp, tạo nên một màu xám đậm đặc trưng và mùi thơm béo ngậy.

Nặn bánh: Sau khi khối bột nếp đã mịn màng và dẻo quánh, những người phụ nữ sẽ thoa một ít dầu thực vật (hoặc mỡ lợn) lên tay để nặn bánh. Bánh thường có hình tròn dẹt, to bằng lòng bàn tay.

 

3. Hương vị độc bản của đại ngàn

 

Thưởng thức bánh Ayơh là một trải nghiệm vị giác thú vị. Ngay từ miếng đầu tiên, bạn sẽ cảm nhận được độ dẻo quánh của nếp rẫy – cái dẻo không hề dính răng mà lại rất mềm mại. Ngay sau đó là vị bùi, béo ngậy của vừng đen tan tỏa trong khoang miệng.

 

Cái hay của bánh Ayơh là sự mộc mạc. Bánh không cần thêm đường hay bất kỳ loại gia vị phức tạp nào. Vị ngọt thanh tự nhiên từ tinh bột nếp hòa quyện với mùi thơm đặc trưng của khói bếp và nắng gió Trường Sơn tạo nên một sức hút khó cưỡng. Đối với người đi rừng, một chiếc bánh Ayơh có thể cung cấp đủ năng lượng cho cả một ngày dài làm việc bền bỉ.

 

4. Giá trị văn hóa và tâm linh

 

Đối với người Vân Kiều tại Quảng Trị, bánh Ayơh không phải là món ăn hằng ngày mà thường xuất hiện vào những dịp đặc biệt quan trọng:

 

Lễ mừng lúa mới (Lễ hội đâm trâu): Đây là lúc bánh Ayơh được dâng lên các vị thần linh, tổ tiên để tạ ơn một mùa màng bội thu và cầu mong cho năm tới mưa thuận gió hòa.

Cưới hỏi: Bánh là lễ vật không thể thiếu trong các nghi thức dạm ngõ, cưới hỏi, thể hiện sự gắn kết bền chặt giữa hai dòng họ.

Đãi khách quý: Khi có khách quý đến thăm bản, người Vân Kiều sẽ tổ chức giã bánh Ayơh. Tiếng chày giã bánh vang lên rộn ràng khắp bản làng như một lời chào đón nồng hậu nhất.

 

 "Bánh Ayơh không chỉ là món ăn, nó là tấm lòng của người Vân Kiều. Giã bánh càng kỹ, bánh càng dẻo, cũng như tình cảm dân làng càng bền chặt." - Một già làng tại huyện Hướng Hóa chia sẻ.

 

 5. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản

 

Trong xu thế hội nhập, dù có nhiều loại bánh công nghiệp tiện lợi ra đời, nhưng người Vân Kiều ở Hướng Hóa, Đakrông (Quảng Trị) vẫn giữ thói quen làm bánh Ayơh. Ngày nay, bánh Ayơh không chỉ nằm lại ở các bản làng xa xôi mà đã bắt đầu xuất hiện tại các lễ hội văn hóa, các hội chợ đặc sản vùng miền, trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo.

 

Du khách khi đến với các bản du lịch cộng đồng như bản Khe Đá, bản Phường hay thị trấn Khe Sanh thường rất hào hứng với trải nghiệm tự tay giã bánh cùng dân bản. Đó là cách tuyệt vời nhất để văn hóa truyền thống được sống mãi và lan tỏa.

 

 Lời kết

 

Bánh Ayơh là sự tinh túy được kết tinh từ những hạt gạo nếp thấm đẫm mồ hôi trên nương rẫy và sự cần cù của con người vùng cao. Nếu có dịp ghé thăm mảnh đất Quảng Trị nắng cháy, đừng quên dừng chân nơi những ngôi nhà sàn của người Vân Kiều để nghe tiếng chày giã bánh thình thịch và nhâm nhi vị dẻo thơm, bùi ngậy của chiếc bánh Ayơh. Bởi trong từng miếng bánh ấy, bạn sẽ cảm nhận được cả hơi thở của đại ngàn và tấm lòng hồn hậu, chất phác của con người nơi đây.

 

Liên kết:


FACEBOOK ẨM THỰC BRU VÂN KIỀU 

  FACEBOOK TRÚC DƯƠNG

READ MORE - BÁNH AYƠH: HƯƠNG VỊ ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU QUẢNG TRỊ - Video từ Facebook Trúc Dương - Bài của Nguyễn Khắc Phước

ĐÔI BẠN - Truyện ngắn Lê Yên

 

Nhà văn Lê Yên

ĐÔI BẠN

Lê Yên

 

   Nâu Đất là tên của nó. Từ lần đầu tiên nghe cậu chủ nhỏ nói với mẹ: “Mẹ ơi! Con gọi nó là Nâu Đất nhé!” Lúc đó nó còn nhỏ và chưa có cái tên nào. Nó nghĩ thầm tên nó đẹp hơn con Lu, con vện nhà hàng xóm cũ, nó vểnh tai khoái chí. Giờ này cậu chủ sắp đi học về, nó canh con nắng xuôi dài mái hiên chạy ra đầu ngõ hết đứng lại ngồi nhấp nhổm. Trừ thời gian đi học ra, Nâu Đất và Tâm không rời nhau, kể cả khi ngủ nó cũng nằm dưới chân giường cậu chủ.

   Từ xa Tâm đã nhìn thấy chú Chó vẫy đuôi, rên ư ử tỏ vẻ vui mừng, và Tâm biết thế nào Nâu Đất cũng nhảy chồm lên, cậu vội né tránh rồi cười ha hả, một cuộc rượt đuổi thú vị bắt đầu quanh vườn cho đến khi tiếng mẹ gọi vang mới dừng lại. “Thưa mẹ, thưa ngoại con mới học về.” Ngoại lên tiếng: “Con để ý luống rau ngoại mới trồng, trông chừng Nâu Đất dẫm hư của ngoại.” Tâm dạ rồi lấy chân hích nhẹ vào chú chó đang nằm dưới đất tỏ ra ngoan ngoãn. “Đi tắm vào ăn cơm con.” Tiếng mẹ vọng lên từ chái bếp, Tâm dạ thật to cố ý cho mẹ nghe thấy rồi cất cặp sách.

 

  Tâm thay bộ đồ đi học treo sau móc cửa phòng, trên mình chỉ còn quần shot, không quên đem theo xà bông tắm. Cậu chủ nhỏ chạy như bay xuống triền dốc đến con suối, phía sau Nâu Đất theo bén gót, có khi nó chồm lên chạy trước cả Tâm. Con suối có dòng nước hiền hòa quanh năm không cạn, làn nước trong rất sạch vào mùa hè, mùa mưa nước chảy mạnh hơn và không còn trong nữa, vì cơn mưa cuốn bao đất đá sạt lở đất vườn, không biết cuối nguồn về đâu. Cả hai lao vào dòng suối thích thú đùa giỡn, bộ lông sát da của Nâu Đất được Tâm bôi xà bông chà xát cẫn thận, rồi lấy bàn chải mềm chải xuôi, sau đó hụp lặn mấy lần cho sạch với dòng suối chảy róc rách. Tâm vỗ vào lưng Nâu Đất nói lớn “xong rồi, lên đi”. Chừng như chưa chơi đã,  nó còn hụp lặn thêm vài lần nữa mới nhảy lên tảng đá bàng bên suối giũ bộ lông bắn nước tung toé. Tâm bắt đầu tắm cho mình, đây là khoảng thời gian thư giãn không phải vội vàng như giấc sáng đi học. Nghĩ thế, cậu cũng không cà kê vì biết ngoại và mẹ đang chờ cơm.

 

   Ngôi nhà cấp bốn nằm giữa khu vườn. Ba mẹ trồng rất nhiều cây ăn trái, bây giờ ba không còn nữa để nhìn thấy những cây ba trồng cao lớn xum xuê. Vườn ổi mẹ và ngoại trồng sau này, ngoại già nhưng vẫn thích làm vườn, lưng ngoại không còn thẳng nữa, vậy mà cả ngày cứ ở ngoài vườn, tối đến lại rên đau nhức. Học bài xong Tâm xoa bóp cho ngoại.

 

  Tâm thích nhất mùa hè, không phải dậy sớm đi học, nên tối đến được thức khuya một chút để canh đàn khỉ trong rừng ra trộm ổi. Vườn ổi với những trái chín quanh năm tỏa mùi hương thơm ngọt hấp dẫn đàn khỉ về phá vườn. Vào đêm trăng sáng, Tâm và Nâu Đất nép mình bên tảng đá bàng lớn giữa vườn, chú chó căng thẳng kêu ư ừ, Tâm kéo nó sát vào, Hai mắt mở to nhìn về hướng khu rừng nơi đàn khỉ xuất hiện, chúng đu trên dây điện đi rất nhanh, khỉ mẹ cõng con trên lưng cũng nhanh không kém, chúng sà vào vườn ổi và thế là một cuộc tàn phá bắt đầu. Chúng hái trái ổi được bọc cẩn thận xé toạc bao bên ngoài, cắn một hai miếng xong vứt đầy trên đất, rồi hái trái khác. Nhìn vườn ổi xác xơ đến đau lòng. Mẹ và ngoại đã chuẩn bị sẵn thau chậu, cây chày giả tiêu gõ vào nhau inh ỏi, chổi chà rượt đuổi đàn khỉ. Xong việc ngoại ngồi bệt xuống đất thở hổn hển, mẹ xót xa thở dài…

   Đó là lần đầu mẹ cho Tâm thức đêm cùng mẹ canh đàn khỉ. Sau lần đó, mẹ lấy lon sữa bò làm chuông báo động. Bây giờ chỉ cần thấy bóng đàn khỉ từ xa, Tâm kéo sợi dây báo động, tiếng những chiếc lon sữa bò va vào nhau inh ỏi khiến chúng sợ hãi chạy nhanh vào rừng.

   Cuộc sống nông thôn thanh bình đơn giản, mỗi lần bác ba nhà bên cạnh từ thành phố trở về kể đủ chuyện về cuộc sống văn minh, những tòa nhà cao tầng, đường sá xe cộ đông đúc. Mọi thứ với Tâm chỉ nằm trong trí tưởng tượng… Nhà bác ba nấu bếp điện, nhà Tâm mẹ nấu bằng cái bếp kiềng ba chân đun củi, ngày cuối tuần Tâm giúp mẹ nhặt củi quanh vườn nấu còn không hết. Tiếng nổ lách tách từ những nhánh củi khô và mùi khói vương trên chái bếp của mẹ có lẽ cả đời này không quên, như tình thương dành cho ngoại, cho mẹ, cho Nâu Đất trên mảnh vườn dốc thoải được bao quanh con suối nhỏ hiền hòa. Mùa mưa cho cá, những con cá suối thịt ngọt mẹ kho với nghệ, hay làm chả cá thì không chê vào đâu được.

 

   Đêm nay trăng tròn, ánh sáng đủ cho nó và Nâu Đất nằm cạnh nhau trên tảng đá bàng hiu hiu gió, Nâu đất theo thói quen hướng đôi mắt về phía rừng canh đàn khỉ, Tâm nhìn về chân trời xa lấp lánh ánh đèn, nghĩ về thành phố của bác ba với suy tư… Dẫu mai này nó lớn, cuộc sống có bao đổi thay thì những ngày hiện tại vẫn mãi là quãng thời gian tươi đẹp, hạnh phúc trong cuộc đời. Nơi có ba mẹ, có ngoại, có Nâu Đất như người bạn gắn bó trung thành, tất cả đủ thương đầy ắp trong tim, chưa xa nó đã thấy nhớ… Tâm quay sang vuốt bộ lông ngắn mịn, chú chó nằm im tận hưởng, như đang lim dim ngủ. Hương ổi chín theo gió ngọt lịm, đàn Khỉ không về đêm yên bình quá đổi./.

 

Sài Gòn 12/2/25

Lê Yên

 leyen01203028253@gmail.com

READ MORE - ĐÔI BẠN - Truyện ngắn Lê Yên

NHƯ TẤC LÒNG THAO THỨC - Nguyễn Văn Trình giới thiệu tập thơ NGHIÊNG PHÍA MIÊN MAN của Xuân Lợi

 

 

            NHƯ TẤC LÒNG THAO THỨC*


   Sinh ra từ Hà Thượng, Gio Châu, Gio Linh, tỉnh Quảng Trị mảnh đất giàu trầm tích lịch sử, văn hóa và ký ức chiến tranh, nhà thơ Xuân Lợi đã mang vào thơ mình một phong cách thơ riêng khác: Lặng lẽ, bền bỉ và thấm đẩm chiều sâu cảm xúc nội tâm. Trong dòng chảy thơ ca đương đại Quảng Trị, Xuân Lợi là một gương mặt thơ tiêu biểu, không ồn ào nhưng bền bỉ khẳng định dấu ấn bằng con đường thơ giàu suy tư và nhân hậu, tính đến nay, Xuân Lợi đã xuất bản được bốn tập thơ in riêng: “Lá gọi mùa, NXB Giao thông vận tải - Năm 2009; Như ngộ, NXB Thuận Hóa - Năm 2019; Lời rêu hồn đá, NXB Hội Nhà văn- Năm 2021; Nghiêng phía miên man, NXB Hội Nhà văn - Năm 2024 ” cho thấy một hành trình sáng tác nghiêm túc, nhất quán. Đặc biệt trong đó tập thơ: “Nghiêng phía miên man”được bạn đọc và giới chuyên môn đánh giá rất cao, không chỉ bởi chất lượng nghệ thuật, mà còn bởi chiều sâu cảm xúc và triết lý nhân sinh thấm đượm trong từng câu chữ.

 

Nhà thơ Xuân Lợi

        Đọc tập thơ:“Nghiêng phía miên man” của nhà thơ Xuân Lợi, ta bắt gặp một tiếng lòng nhẹ nhàng, sâu lắng của một hồn thơ giàu suy tư và giàu yêu thương, không ồn ào ngôn từ, không cầu kỳ trong xây dựng hình ảnh thơ. Thơ Xuân Lợi đã chạm đến người đọc bằng sự chân thành, mộc mạc và cảm xúc đời thường. Các đề tài trong thơ Xuân Lợi tuy quen thuộc, nhưng luôn mang dấu ấn riêng của cái tôi cá nhân từng trải, giàu chiêm nghiệm.

   Trước hết khi viết về mình, Xuân Lợi không ngại bộc lộ những trăn trở nội tâm. Cái tôi trữ tình hiện lên vừa khiêm nhường,vừa khao khát được chia sẻ, được thấu hiểu: “Rồi đến khi/ Buông tất cả mà ngậm cười cay đắng/ Quay về không người đợi, ai chờ ?” (Rồi đến)

Thơ Xuân Lợi vì thế mang dáng dấp của một trang nhật ký tâm hồn, nơi con người đối thoại với chính mình trong sự chân thực đến giản dị.

 Về hình ảnh người mẹ trong thơ Xuân Lợi là một điểm tựa thiêng liêng, là lời tri ân trân trọng: “Có hiểu bao giờ/ Lòng mẹ héo hon đếm đong chi hết/ Om cơm môi mớm cho con đến giờ ” (Cuộc đời mẹ)

Người mẹ hiện lên không qua những lời ca ngợi lớn lao, mà qua những chi tiết đời thường. Tình mẹ trong thơ Xuân Lợi là thứ tình cảm lặng lẽ bền sâu, khiến người đọc dễ xúc động bởi ai cũng bắt gặp hình bóng của mẹ mình trong đó.

 Còn khi viết về hình ảnh người lính, thơ Xuân Lợi mang âm hưởng trầm lắng, giàu suy tư hơn hào sảng. Người lính trong thơ Xuân Lợi không chỉ là biểu tượng cho lý tưởng cao đẹp, mà còn là bằng xương bằng thịt, biết hy sinh thân mình cho Tổ quốc: “Bến hoa sông này sao quên/ Nỗi nhớ người lính trẻ hiền khô cọng cỏ ? Đêm chới với dòng sông máu đỏ/ Nghĩa trang sông không nấm mộ, dòng tên” (Nghĩa trang sông) Qua hình ảnh thơ đó, nhà thơ thể hiện sự trân trọng sâu sắc với những người lính đã hy sinh tuổi trẻ của mình cho đất nước được độc lập, đồng thời gợi lên nỗi xót xa trước những mất mát đau thương do chiến tranh để lại.

 Xuân Lợi cũng đã dành một mảng thơ khá xúc động khi viết về những người con yêu của mình. Viết về người con gái yêu, Xuân Lợi dành những tình cảm yêu thương, cưng chiều: “Ba cưng chiều thương con từng bữa cơm/ Lo da diết lưng rau thiếu cá/ Con gái mê canh chua măng khế/ Dăm ba ngày điện hỏi han.” (Nghiêng phía miên man)

Còn khi viết về người con trai yêu quý không may đã mất, Xuân Lợi đau đớn rụng rời, không ghìm được tiếng khóc vì nhớ thương con, khi nhìn thấy di ảnh của con trai trên bàn thờ: “Tượng hình chai bóng, nghe nói chẳng thưa lời. Nghiêng phía miên man...” (Rụng rời)

 Cuối cùng, tình yêu trong thơ Xuân lợi, trong: “Nghiêng phía miên man” không nồng nhiệt dữ dội, mà sâu lắng bền bỉ. Đó là tình yêu gắn với sự thủy chung và nuối tiếc:

“Đôi mắt trao nhau chới với, hơn ngàn lần ân ái/ Tình lỡ xao lòng ngần ngại mãi bâng khuâng” (Mãi bâng khuâng)

Xuân Lợi viết về tình yêu như viết về một phần tất yếu của đời sống, nơi con người tìm thấy niềm vui, nỗi buồn và cả ý nghĩa về sự tồn tại của mình.

     Tóm lại, thơ Xuân Lợi hấp dẫn không phải bởi sự mới lạ về hình thức, mà bởi chiều sâu của cảm xúc. Qua những đề tài gần gũi, Xuân lợi đã dựng nên một thế giới thơ của riêng mình giàu nhân ái yêu thương, nơi con người được sống thật với cảm xúc của chính mình. Thơ Xuân Lợi vì thế đã để lại những dư âm nhẹ nhàng, nhưng bền lâu trong lòng người yêu thơ và giới phê bình văn học gần xa, trong và ngoài nước.

 

      Viết tại Phường Nam Đông Hà, ngày 16/12/2025

           Nhà giáo - Nhà thơ NGUYỄN VĂN TRÌNH

                   Hội VHNT Tỉnh Quảng Trị

                           Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

 (*) Trích câu thơ: “Như tấc lòng thao thức” trong bài thơ: "Vời vợi khôn cùng" – Tác giả: Xuân Lợi.

READ MORE - NHƯ TẤC LÒNG THAO THỨC - Nguyễn Văn Trình giới thiệu tập thơ NGHIÊNG PHÍA MIÊN MAN của Xuân Lợi

THỰC MƠ – Thơ Lê Kim Thượng


   

Thực Mơ
 
1.
Ước gì trở lại với quê
Buông rơi phiền muộn, trở về tuổi thơ…
Làng quê như thực, như mơ
Bâng khuâng xao xuyến bài thơ không lời
Bồng bềnh, lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi ngọt lành
Bến sông sóng vỗ đầu gành
Lời ru Đất Mẹ… ru anh ngàn trùng
Cuối mùa con nước khô bùn
Gió Heo May thổi qua hun hút đồng
Cô đơn đá núi trông chồng
Lưng còng như bóng Mẹ trông con về
Chiều quê lặng lẽ cảnh quê
Đong đưa cánh võng tỉ tê gió lành
Nước sông in bóng trời xanh
Chênh vênh bóng núi, chòng chành đò ngang…
 
2
Rượu quê uống cạn lại tràn
Cơn say, say giữa mênh mang đất trời
Thương nhau chín bỏ làm mười
Thật thà, chân chất, nụ cười trẻ son…
Chiều xa khuất bóng hoàng hôn
Ai xuôi tiếng sáo thả hồn vào mơ
Sông trăng đẹp tựa bài thơ
Bồng bềnh câu chữ đứng chờ lời ca
Canh khua trăng đậu mái nhà
Ánh vàng gieo rắt tình ta vơi đầy
Trời đêm xanh ngắt không mây
Ánh trăng thì vẫn như ngày xa xưa
Kẽo cà… kẽo kẹt võng đưa
Bà ngồi kể chuyện đời xưa vuông tròn
Một nồi khoai luộc cho con
Bát ngô của Mẹ rang giòn… đêm mưa…
        
Nha Trang, tháng 01. 2026
Lê Kim Thượng

 

READ MORE - THỰC MƠ – Thơ Lê Kim Thượng