Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 30, 2026

CHO ĐI / ÁNH SÁNG NIỀM TIN - Thơ Nguyễn Văn Trình – BD: KA THI

  

Nguyễn Văn Trình – BD: KA THI



   

Cho đi

     

Buổi sớm còn vương hơi sương

cỏ mềm cúi mình bên lối nhỏ

khiêm nhường không phô trương

chỉ một màu xanh dịu mát ven đường

 

Em cũng thế

vẻ đẹp không nằm ở sự quyến rũ hình thể

mà nằm ở cách em biết cho đi lặng lẽ bên đời

như cỏ mềm dịu dàng trong nắng mới

 

Gió đi qua cỏ

cỏ nghiêng mình duyên dáng

cuộc đời đi qua em

em học cách nhẫn nại lắng nghe

 

Cỏ không giữ gió

em không giữ gì cho riêng mình

nhưng ai từng biết đến màu xanh của cỏ

đều biết đến tấm lòng nhân hậu của em

 

Cỏ mềm vì biết uốn mình trước gió

em dịu hiền vì biết cách để yêu thương

và biết cách cho đi lặng lẽ...

 

                           Đông Hà, 2026

                                  NVT

 

Ánh sáng niềm tin                

 

Em là bình minh buổi sáng

khi giọt sương còn long lanh trên những cánh hoa hồng

đẹp đến mức gai hồng kia cũng học cách mềm đi nũng nịu

 

Có đôi khi em như cơn gió mát chiều quê

lướt ngang qua cánh đồng hoa hướng dương

và vô tình khiến chúng hướng về phía mặt trời

 

Cũng có khi, em như loài hoa dại ven đường

không ai biết tên, không ai chăm bón

nhưng vẫn vô tư, lặng lẽ nở hoa dâng đời

 

Nếu một ngày kia, em không được gọi tên xứng đáng

xin hãy đừng buồn

vì em – một loài hoa đã từng bung nở những sắc hồng

và không bao giờ quên

luôn hướng về phía ánh sáng niềm tin

 

                                                    Đông Hà, 2026

                                                            NVT

 

Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

BD: KA THI

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị 

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

 

READ MORE - CHO ĐI / ÁNH SÁNG NIỀM TIN - Thơ Nguyễn Văn Trình – BD: KA THI

TÌNH BẠN GIÀ NƠI ĐẤT KHÁCH - Lê Thi

 



Lê Thi

TÌNH BẠN GIÀ NƠI ĐẤT KHÁCH


Mùa đông ở xứ người luôn dài hơn trí nhớ. Tuyết rơi dày, trắng đến mức làm người ta quên mất màu của đất, quên cả mùi bùn non sau cơn mưa quê nhà. Tôi mua căn nhà trong khu villa này hoàn toàn do một cái duyên rất tình cờ, và cũng không ngờ rằng, ở cái tuổi ngũ tuần, giữa xứ sở lạnh đến cắt da, tôi lại tìm được một tình bạn già ấm áp như vậy.

Nhà tôi và nhà anh cách nhau chừng một trăm mét. Một trăm mét ở mùa hè chỉ là vài chục bước chân, nhưng vào mùa đông, khi tuyết ngập tới đầu gối, nó trở thành cả một cuộc hành trình. Vậy mà sáng nào cũng thế, khi cả khu phố còn đang say ngủ, hai thằng già gốc Việt đã lục đục dậy. Tôi pha cà phê, anh pha trà. Mùi cà phê nóng quyện với hương trà nhàn nhạt, lẫn trong cái lạnh buốt của buổi sớm, tạo thành một thứ mùi rất quê hương – mùi của những buổi sáng làng xóm ngày xưa, khi người ta còn đủng đỉnh sống, chưa bị thời gian thúc giục.

Chúng tôi ngồi với nhau khi cả nhà tôi vẫn còn ngủ yên. Chuyện bắt đầu từ vài câu thăm hỏi vu vơ, rồi dần trôi về những con đường đất đỏ, những bờ tre, những cái tết cũ đã xa. Hai thằng già, mỗi người một vùng quê, nhưng nỗi nhớ thì giống nhau đến lạ. Có lẽ, càng lớn tuổi, người ta càng sống bằng ký ức. Và ký ức quê nhà là thứ không bao giờ cũ.

Mấy tháng nay, tuyết rơi dày. Có hôm tôi phải mặc áo “đặc chủng”, đi đôi giày cao quá bốn mươi phân, bám tuyết như lính ra trận, mới lết nổi ra ngoài. Những hôm như vậy, anh lại lặng lẽ kéo thùng rác giúp tôi, chẳng nói lời nào. Cái tình của người già xa xứ là vậy, không cần phô trương, chỉ cần đúng lúc.

Mùa đông ở xứ người luôn dài hơn trí nhớ. Tuyết rơi dày, trắng đến mức làm người ta quên mất màu của đất, quên cả mùi bùn non sau cơn mưa quê nhà. Tôi mua căn nhà trong khu villa này hoàn toàn do một cái duyên rất tình cờ, và cũng không ngờ rằng, ở cái tuổi ngũ tuần, giữa xứ sở lạnh đến cắt da, tôi lại tìm được một tình bạn già ấm áp như vậy.

Nhà tôi và nhà anh cách nhau chừng một trăm mét. Một trăm mét ở mùa hè chỉ là vài chục bước chân, nhưng vào mùa đông, khi tuyết ngập tới đầu gối, nó trở thành cả một cuộc hành trình. Vậy mà sáng nào cũng thế, khi cả khu phố còn đang say ngủ, hai thằng già gốc Việt đã lục đục dậy. Tôi pha cà phê, anh pha trà. Mùi cà phê nóng quyện với hương trà nhàn nhạt, lẫn trong cái lạnh buốt của buổi sớm, tạo thành một thứ mùi rất quê hương – mùi của những buổi sáng làng xóm ngày xưa, khi người ta còn đủng đỉnh sống, chưa bị thời gian thúc giục.

Chúng tôi ngồi với nhau khi cả nhà tôi vẫn còn ngủ yên. Chuyện bắt đầu từ vài câu thăm hỏi vu vơ, rồi dần trôi về những con đường đất đỏ, những bờ tre, những cái tết cũ đã xa. Hai thằng già, mỗi người một vùng quê, nhưng nỗi nhớ thì giống nhau đến lạ. Có lẽ, càng lớn tuổi, người ta càng sống bằng ký ức. Và ký ức quê nhà là thứ không bao giờ cũ.

Mấy tháng nay, tuyết rơi dày. Có hôm tôi phải mặc áo “đặc chủng”, đi đôi giày cao quá bốn mươi phân, bám tuyết như lính ra trận, mới lết nổi ra ngoài. Những hôm như vậy, anh lại lặng lẽ kéo thùng rác giúp tôi, chẳng nói lời nào. Cái tình của người già xa xứ là vậy, không cần phô trương, chỉ cần đúng lúc. Nhiều lúc anh muốn kéo giúp những bà già hàng nhưng khác nhau ngôn ngữ và phong tục cũng ngại sự nhiệt tình đôi lúc lại gánh lấy phiền toái .

Có hôm, tôi đội tuyết sang nhà anh, chỉ để đưa nửa ổ bánh mì đặc sản Việt mua từ tiểu bang khác. Ổ bánh mì bé xíu, nhưng anh cầm trên tay như cầm cả một miền ký ức. Chúng tôi bẻ đôi, ăn chậm rãi, nhai cùng với tiếng gió rít ngoài hiên. Giữa xứ người, một miếng bánh quê cũng đủ làm mắt ai đó cay cay.

Không khí gần tết khiến nỗi nhớ càng thêm rõ. Ở cái tuổi ngũ tuần, người ta không còn háo hức tết vì quần áo mới hay phong bao đỏ. Người ta khát quê hương như đứa bé xa bầu vú mẹ, nhớ đến đau lòng. Nhớ mâm cơm chiều ba mươi, nhớ mùi nhang khói, nhớ cả tiếng cãi cọ lặt vặt trong gia đình – những thứ ngày còn trẻ ta từng muốn trốn đi thật xa.

Xuân ở xứ người đến rất lặng lẽ. Không pháo, không hoa mai, chỉ có tuyết tan chậm và những ngày nắng hiếm hoi. Nhưng xuân vẫn về, trong những buổi sáng có trà, có cà phê, có một người bạn già lội tuyết sang thăm nhau. Xuân nằm trong câu chuyện quê nhà chưa kể hết, trong ổ bánh mì chia đôi, trong bàn tay kéo giúp thùng rác giữa giá lạnh.

Quê hương và kỷ niệm buộc chặt hồn người xa xứ. Đi đâu, sống ở đâu, đến cuối đời, người ta vẫn quay về nơi mình đã sinh ra – nếu không bằng bước chân thì bằng ký ức. Và có lẽ, chính những tình bạn già nơi đất khách như thế này đã giúp chúng tôi đi qua mùa đông dài, để tin rằng, dù ở đâu, chỉ cần còn người để cùng pha một ấm trà, một ly cà phê mỗi sớm, thì xuân vẫn chưa từng vắng mặt trong đời. Mỗi mảnh đời đến miền đất hứa này một hoàn cảnh khác nhau, nhưng phải neo lại nơi đây vì tương lai con cái, vì những hoàn cảnh riêng. Nhưng trong sâu thẳm ai cũng khát khao một cái tết quê nhà, ra vườn hái một quả bưởi, quả dừa, cắm cành mai vàng, thắp một nén nhang cho cha mẹ tổ tiên. Những mơ ước rất bình dị mà xa vời vợi với kẻ tha hương. 

Trước thềm xuân mới xin chúc tất cả mọi nhà bình an bên Xuân mới, nghe vó ngựa phi nước đại, năm mới thành công! Ngày cuối năm!

 Lê Thi

 Ohio


 

 

READ MORE - TÌNH BẠN GIÀ NƠI ĐẤT KHÁCH - Lê Thi

NHỚ NHẠC SĨ TRẦN HOÀN / NGUYỄN TĂNG DOÃN - BẬC TÀI DANH / BÙI DỤC TÀI - MINH TRIẾT TIÊN SINH - Chùm thơ Văn Đoàn


 

Nhà thơ Văn Đoàn

NHỚ NHẠC SĨ TRẦN HOÀN

 

Câu Nhi - Quảng Trị quê nhà

Có người nhạc sĩ tài hoa ân tình.

Thuở xưa áo trắng học sinh,

Mái trường Quốc Học dáng hình tài hoa.

 

Mười sáu tuổi mộng ngọc ngà,

Đã gieo câu hát đậm đà yêu thương.

“Sơn nữ ca” mãi vấn vương,

“Mùa xuân nho nhỏ” vấn vương lòng người...

 

Tình yêu chung thủy chẳng  rời,

Bên nhà, bên nước trọn đời sắc son.

Lời ca theo gió vẫn còn,

Làng quê thương nhớ chờ mong tháng ngày.

 

Ra đi vương vấn đong đầy

Ngàn bài nhạc nhẹ đắm say tuổi hồng.

Điệu hò câu hát mặn nồng

Ơn người nhạc sĩ mênh mông đất trời.

 

Quê hương lặng lẽ một thời,

Người đi xa khuất mà lời còn vang.

Tấm lòng xin khắc đá vàng,

Trần Hoàn – tên ấy rỡ ràng sử xanh!

Văn Đoàn

 

NGUYỄN TĂNG DOÃN - BẬC TÀI DANH

 

Câu Nhi quê mẹ thanh cao,

Địa linh nhân kiệt, vận trao nước nhà.

Nguyễn Tăng Doãn bậc tài hoa,

Hiển vinh đỗ đạt bước ra quan trường.

 

Tự Đức trọng dụng đảm đương

Thượng thư bộ Lại, giữ đường nước non.

Ngoại giao khéo léo vuông tròn,

Dọc ngang thương thuyết, vẹn toàn bang giao.

 

Nam Kỳ ngăn Pháp mưu cao,

Giữ gìn bờ cõi, dạt dào trung trinh.

Buôn thương mở rộng văn minh,

Hải Dương, Hà Nội, thương tình ngoại giao.

 

Đình làng xây dựng to cao

"Thình thình" nỗi tiếng xôn xao một vùng.

Thanh liêm chính trực lẫy lừng

Vì dân vì nước, nghĩa tình thanh cao.

 

Sách Tây du học biết bao,

Mở mang trí tuệ, đón vào Việt Nam.

Nguyễn Tăng rạng rỡ giang san

Đức tài hậu duệ, vẻ vang muôn đời.

 

Trần Hoàn nhạc sĩ sáng ngời,

Dòng tộc nối bước rạng ngời núi sông.

Ơn người lưu mãi trong lòng,

Tên vàng sử sách ghi công muôn đời...

Văn Đoàn

 

BÙI DỤC TÀI - MINH TRIẾT TIÊN SINH

 

Bùi Dục Tài chí hiên ngang,

Tuổi thơ nghèo khó, bần hàn chẳng lay.

Mười ba chưa được học hay

Sách đèn nuôi chí, miệt mài hôm mai.

 

Mười hai năm quyết không nài,

Ngũ kinh tường tỏ đạo người kinh qua.

Thi đình hỏi chuyện nước nhà

Đáp lời lưu loát thực là minh tâm.

 

Khoa danh tiến sĩ ghi thêm

Đệ Nhị Giáp ấy muôn năm rạng ngời.

Làm  quan Lại Bộ một thời,

Giúp dân giữ nước, sáng ngời sử xanh.

 

Thuận Hóa dẹp giặc tung hoành,

Nào hay gian đảng hại thành trung quân.

Thương người chí cả trung trinh,

Văn tài, võ lược lưu danh muôn đời.

 

Quê hương rạng rỡ sáng ngời,

Tộc Bùi hiển hách rạng ngời tổ tiên.

Khói nhang tưởng nhớ tài hiền

Bùi Dục Tài mãi lưu truyền nước Nam...

 

Văn Đoàn

(Nguyễn Văn Dòa)

nguyenvandoa51@gmail.com

READ MORE - NHỚ NHẠC SĨ TRẦN HOÀN / NGUYỄN TĂNG DOÃN - BẬC TÀI DANH / BÙI DỤC TÀI - MINH TRIẾT TIÊN SINH - Chùm thơ Văn Đoàn

LINH LAN - Thơ PhamPhanLang - Nhạc Mai Hoài Thu - Ca sĩ Vân Khánh


Linh Lan

Ngày xưa Mẹ tôi yêu hoa chuông trắng,
Đẹp dịu dàng, hoa bé tí xinh xinh,
Mẹ xin hoa ở trước cổng sân đình,
Ba bảo Mẹ, để Ba trồng cho nhé?

Ba trồng hoa, sau hè và trước ngõ,
Mỗi buổi chiều Mẹ tưới nước chắt chiu,
Mong sao hoa tươi thắm, nở thật nhiều,
Ba cắt nhánh chưng trong phòng ngủ Mẹ

Một ngày kia, khi thu vàng chớm hé,
Tôi ra đời trong tiếng khóc vỡ òa,
Mẹ bảo Ba con đẹp tựa đóa hoa,
Hoa chuông trắng, đẹp băng trinh ngoài ngõ.

Và hôm đó, Linh Lan, hoa chuông trắng,
Tên của tôi, đứa bé gái họ Phan,
Hôm sau, Nội từ Giã vào Nha Trang,
Thăm cháu gái đầu tiên của dòng họ.

Ôm cháu bé, Nội ầu ơ nựng nịu,
Bỗng nhíu mày, Nội nghiêm mặt bảo Ba,
Đổi tên ngay, không thể đặt tên hoa,
Cho con gái để đời sau vất vả.
 
Không dám cãi, Mẹ Ba dù buồn bã,
Đổi tên con như lời Nội giãi bày,
Đặt tên Lang, như thế vậy mà hay,
Đời con sẽ, ngọt bùi và no ấm.

Tôi lớn lên với tên mình xấu xí,
Bị bạn trêu chọc ghẹo thật tủi thân,
Rất lắm khi giận Nội, tôi bỏ ăn,
Nằm khóc mãi, con bắt đền Nội đó!

Thời gian trôi... tôi xa nhà, biệt xứ,
Chốn quê nhà, Nội mỏi dạ chờ mong,
Phút lâm chung, Nội nước mắt lưng tròng,
Khoai lang Nội, bây giờ con đâu hỡi?

PhamPhanLang


READ MORE - LINH LAN - Thơ PhamPhanLang - Nhạc Mai Hoài Thu - Ca sĩ Vân Khánh

CUNG CHÚC TÂN XUÂN VĂN NHÂN THI SĨ - Thơ Trần Hữu Thuần


 


 

Trần Hữu Thuần

Cung Chúc Tân Xuân

Văn Thi Nhạc Sĩ


 

Cung hỉ, mời nhau cạn chén nồng,

Chúc bài dang dỡ, viết thành xong.

Tân kì, giai điệu lâng lâng ý,

Xuân khúc, hòa âm phơi phới lòng.

Vạn vật tưng bừng, quyền thay biến,

Sự tình hoan hỉ, tắc thành thông,

Như giả tình xuân còn chưa thỏa,

Ý Trời xin nguyện thuận cầu mong.

 

(Grand Rapids, Michigan 08 th 02, 2016

 - Tết Bính Thân)

T.H.T

jbtranthuan@hotmail.com

READ MORE - CUNG CHÚC TÂN XUÂN VĂN NHÂN THI SĨ - Thơ Trần Hữu Thuần

Wednesday, January 28, 2026

KHOẢNG CÁCH IM LẶNG - Thơ Lan Anh, bản dịch tiêng Nga của Мусакун Сатыбалдиев

 

Lan Anh


Мусакун Сатыбалдиев


Мусакун Сатыбалдиев (Musakun Asangulovich Satybaldiev) là nhà thơ, nhà văn và dịch giả người Kyrgyzstan, sinh năm 1950 tại làng Saru, huyện Jety-Oguz, tỉnh Issyk-Kul (Kyrgyzstan). Từ nhỏ, ông bị khuyết tật và không thể học chính quy, nhưng tự học chữ viết và bắt đầu sáng tác. Từ tuổi trẻ, ông đã xuất bản các tác phẩm trên báo chí và dần trở thành tác giả của nhiều tác phẩm văn học — trước tiên là thơ, sau đó là văn xuôi.

Đến nay, ông đã xuất bản khoảng 15 cuốn sách, bao gồm thơ, tiểu thuyết và các bản dịch, đồng thời làm việc tại các tòa soạn báo, biên tập và chuẩn bị xuất bản sách của các tác giả khác (137 cuốn sách do ông biên tập). Ông là thành viên Hội Nhà văn Quốc gia Kyrgyzstan, đã đoạt các giải thưởng văn học như “Chiếc bút vàng”, và được trao danh hiệu “Công dân danh dự của làng Saru”.

Một số tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới, bao gồm tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Mông Cổ, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và các ngôn ngữ khác.

Hôm nay, Lan Anh xin gửi tới bạn đọc tác phẩm của mình và của ông Мусакун Сатыбалдиев:
“Khoảng cách im lặng”.
Bài thơ này của
Lan Anh đã được nhà thơ Мусакун Сатыбалдиев dịch sang hai ngôn ngữ khác nhau: tiếng Kyrgyztiếng Nga.
Dưới đây là bản tiếng Việtbản tiếng Nga.

Khoảng cách im lặng

Không ai nghe thấy tiếng vỡ
Chỉ là một buổi sáng
Cà phê không còn ấm
Và ánh nhìn trượt qua nhau như người lạ

Chúng ta vẫn ở đó
Trong cùng một căn phòng
Nhưng khoảng cách
Đã học được cách im lặng

Những cái chạm quen thuộc
Trở nên thừa thãi
Nụ hôn đặt lên môi
Không còn biết tìm đường về tim

Tình yêu không rời đi vội vã
Nó nguội dần
Như tro tàn sau lửa
Vẫn còn hình dạng
Nhưng chẳng còn hơi ấm

Chúng ta ngủ cạnh nhau
Mang theo những giấc mơ khác hướng
Ngoài cửa sổ
Mùa đông đến
Không cần báo trước

Không có lời chia tay
Chỉ có sự chấp nhận
Rằng đôi khi
Điều đau nhất
Là khi tình yêu vẫn còn tên
Nhưng không còn sự sống

Lan Anh

Вьенамдык акын кыз Лан Андын бир ырын котордум:

Лан Ань

ЧЫЙЫРЫГУУ

Сынганын бир нерсенин,
Уккан жок бир дагы жан.
Кофе да калган муздап,
Демейки жаңы аткан таң.

Кездешти көздөр - көзгө,
Баштагы жылуулук жок.
Бир бөлмө ичиндебиз,
А бирок, тартылуу жок.

Жабышты жаман адат,
Үйрөндүк сөз катпоону.
Табылга кылдым окшойт,
Көөдөндү сага ачпоону.

Ээринден өбүшүүнүн,
Кумары жок болду эми.
Кайтуучу жол табылбай,
Жүрөккө жетпейт деми.

Сүйүүбүз соолуп барат,
«Дүрт» этип өчкөн оттой.
Сезимдин түпкүрү бош,
Табы жок калган чоктой.

Жаштыктын төрүндөмүн,
Көрүнбөйт бирок, жигер.
Жатсак да жанаша, бир,
Максаттар башка түгөл.

Күттүрбөй келди кыш да,
Эч кандай кечирим жок.
«Жылт» этет сүйүү дале,
А бирок, жашообуз жок.
18.01.16.

Которгон Мусакун Сатыбалдиев

READ MORE - KHOẢNG CÁCH IM LẶNG - Thơ Lan Anh, bản dịch tiêng Nga của Мусакун Сатыбалдиев

SÀI GÒN BỖNG LẠ À NHA! - Thơ Hoàng Thị Bích Hà

 


SÀI GÒN BỖNG LẠ À NHA!

(Thơ tự do) 

 

Hai hôm nay, Saigon hơi đỏng đảnh

Sáng 17 độ trong nhà, “bày đặt” lạnh sương sương

Ai cũng biết Sài Gòn - xứ sở không mùa đông

Suốt quanh năm khí trời luôn nắng ấm

Khi thi thoảng mưa ào như trút nước

Áo chưa kịp choàng vào thì đã tạnh cơn mưa

 

Sài gòn lạnh vừa làm tôi nhớ Huế

Nhớ cả buổi sáng Tây Hồ,… từng có dịp ghé qua

Saigon không phải nơi tôi sinh ra

Tôi vẫn thấy yêu Saigon lắm lắm!

Bởi Sài Gòn bao dung và khí chất hào sảng

luôn mở rộng vòng tay mà chẳng xét nét: “Bạn là ai?”

 

Tôi dân nhập cư, đi “ba đông bảy đoài” rồi mới tới nơi đây

Nhưng Saigon với tôi như tri âm từ kiếp trước

Tôi cảm thấy “thuộc về” khi chọn dừng gót Thành Đô

Có phải Lễ Thành Hầu* người mở cõi năm xưa

Đã mời gọi và ban ơn mưa móc

Nên dù lạ, dù quen, trong hay ngoài nước

Vẫn có thể tụ về đây trong văn hóa cộng đồng

 

Cơ hội, thách thức –Saigon có đủ

Nhưng khi là nhà, ta coi nơi đó cũng …quê hương

Ai bảo Saigon khó tính cũng không sai

Khó hay dễ đều do mình thỏa hiệp

Ta tự tìm bình an ngay trong chính tâm ta

 

Sáng uống trà, chiều lại ngắm mây qua

Khi thi thoảng lên metro hay xe buýt

Trái gió trở trời ốm vặt, khám bệnh cũng free

Sáng cà phê quận này, chiều vui thú quận kia

Sau hưu trí, xe buyt, metro đều miễn phí

Rất hiện đại văn minh và lịch sự

Tôi hài lòng khi sống ở Thành Đô.

Saigon, 10/1/2026

Hoàng Thị Bích Hà

* Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh

READ MORE - SÀI GÒN BỖNG LẠ À NHA! - Thơ Hoàng Thị Bích Hà

Tuesday, January 27, 2026

CÀ PHÊ CHIỀU BÊN SÔNG ĐỒNG NAI - Thơ Jos. Nhật Quang

 

Nhà thơ Jos Nhật Quang

Cà Phê Chiều Bên Sông Đồng Nai

                          Kính tặng nhà báo Lương Minh

 

Bóng chiều nghiêng

nắng trải vàng trên sóng nước

Giọt cà phê rơi như nhịp thở thời gian

Bên bờ sông gió thầm thì hát

Lòng dâng tràn niềm vui phút gặp nhau

 

Ly cà phê thơm sóng sánh bao kỷ niệm…

Gợi ta nhớ những ngày xưa thân ái

Đã mấy mùa đi qua

Còn thắm mãi trong tim

trong hơi ấm chiều nay nắng nhạt

 

Chiều bên sông Đồng Nai

thoang thoảng hương lan dịu mát

ấm áp từ những nụ cười

từ ánh nhìn thân thương

từ  những bàn tay từng nắm mà nay đã xa

 

Phút chia ly - gió nhẹ nhàng qua hàng ghế

hương cà phê thoảng bay theo gió mây

một mình - ta ngồi lại

nghe lòng mình lặng lẽ trôi

theo dòng sông

về phía hoàng hôn - không trở lại.

 

                               Jos.Nhật Quang

                                                   nhatquang18@gmail.com

 

READ MORE - CÀ PHÊ CHIỀU BÊN SÔNG ĐỒNG NAI - Thơ Jos. Nhật Quang

CHIỀU RƠI PHẬN NGƯỜI - Thơ Trần Thị Lan Anh

Nhà thơ Lan Anh

 

CHIỀU RƠI PHẬN NGƯỜI

 

Chiều rơi xuống đáy phận người
Bao nhiêu váy cưới rã rời gió mưa
Người đi quen nẻo gió lùa
Bỏ sau lưng mấy đời thừa đợi mong

Có người chửa cả mùa đông
Có người vá víu tấm chồng đã phai
Có người tóc rụng đêm dài
Chờ tin người cũ như ai chờ mò

Đàn ông quen những chuyến đò
Bến lạ nào cũng hẹn hò trăm câu
Đàn bà quen một nhịp câu
Đau sâu một chút là đau cả đời

Có người bưng kín nụ cười
Đêm ôm gối chiếu đẫm lời thề chôn
Có người đi giữa phố đông
Mà hồn lạc bước quên không lối về

Chiều ai chôn mấy lời thề
Chôn luôn tuổi ngọc, chôn mê muội tình
Có người một kiếp lặng thinh
Chưa từng oán hận, chỉ mình xót xa

Người thì cưới vội người ta
Để quên một kẻ hôm qua phụ mình
Người thì hoá kẻ vô tình
Để khỏi đau tiếp đoạn tình dở dang

Người thì trụ giữa lỡ làng
Làm mẹ đơn độc giữa ngàn cơn mưa
Thương nhất những kẻ ngày xưa
Yêu ai cũng mặc nắng mưa cuộc đời

Chiều trôi qua những phận người
Ai còn giữ nổi một lời yêu xưa
Chỉ còn gió thổi như mưa
Rơi vào những kẻ từng thừa niềm tin.

Lan Anh, 

Aschaffenburg, Germany

Email:  Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

 


 

 

READ MORE - CHIỀU RƠI PHẬN NGƯỜI - Thơ Trần Thị Lan Anh

TOẠC - Thơ Lê Thi

 


TOẠC

 

Con nướng củ khoai giêng hai

Thoảng mùi thơm của mẹ

Giọt nước mắt giấu sau ngày xuân lặng lẽ

Mẹ về trước ngõ rét Nàng Bân

 

Con nướng con cá rô tháng mười

Thơm béo ngậy

Gắp cái đầu lại nhớ “nhường cha”

Giọt nước mắt nhạt nhòa

Đường cày toạc sương mai của bố!

                                         Lê Thi

READ MORE - TOẠC - Thơ Lê Thi

SÔNG TUYẾN - KHI LỊCH SỬ ĐI QUA TÂM THỨC CON NGƯỜI - Nguyễn Văn Trình

 


 

Sông tuyến 

- Khi lịch sử đi qua tâm thức con người

 

Nhà giáo - Nhà thơ: Nguyễn Văn Trình

 

Sinh ra và lớn lên bên dòng sông giới tuyến Bến Hải - Hiền Lương (Vĩnh Thành, Vĩnh Linh, Quảng Trị), mảnh đất mang trong mình tính biểu tượng cao nhất của lịch sử chia cắt dân tộc, chiến tranh cách mạng và khát vọng hòa bình, Văn Xương được giới nghiên cứu và bạn đọc đánh giá là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn xuôi đương đại Việt Nam. Với hành trình sáng tác bền bỉ, miệt mài và giàu nội lực, ông đã để lại những dấu ấn đáng kể qua nhiều tác phẩm thuộc các thể loại khác nhau: Hoa gạo đỏ bên sông (tập truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn, 2006); Hồn trầm (tập truyện ngắn, NXB Lao động, 2008); Búp lửa (tập thơ, NXB Thuận Hóa, 2011); Mạch nguồn tuyền lâm (tập bút ký, NXB Thuận Hóa, 2020); Lỗ thủng (tập truyện ngắn, NXB Văn học, 2021); Những chặng bay ký ức (tập truyện ngắn, NXB Quân đội, 2024); Thượng nguồn (tập truyện ngắn, NXB Quân đội, 2025) và đặc biệt là Sông tuyến (tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, 2025).

Dù ở thể loại nào - truyện ngắn, thơ, bút ký hay tiểu thuyết - sáng tác của Văn Xương vẫn nhất quán ở chiều sâu nhân văn, ở khả năng phản ánh tinh tế đời sống con người cùng những trăn trở của thời đại. Ông không chỉ kể chuyện quá khứ, mà luôn đối thoại với hiện tại, góp phần làm giàu thêm diện mạo và chiều sâu tư tưởng của văn xuôi Việt Nam đương đại.

Việc được sống và trải nghiệm trong không gian từng là giới tuyến quân sự giữa hai miền đã góp phần hình thành ở Văn Xương một cái nhìn hiện thực đa chiều nhưng không cực đoan. Thay vì dừng lại ở sự phân định rạch ròi đúng - sai hay bạn - thù, văn xuôi của ông luôn chú trọng đến phương diện tâm lý, đạo đức và những tổn thương tinh thần của con người trong bối cảnh lịch sử dân tộc bị chia cắt Bắc - Nam đầy nghiệt ngã. Trong dòng chảy ấy, tiểu thuyết Sông tuyến nổi lên như một tác phẩm tiêu biểu, kết tinh đầy đủ tư duy tự sự, bản lĩnh nghệ thuật và chiều sâu tư tưởng của nhà văn. Nếu nhiều tiểu thuyết chiến tranh trước đây chủ yếu tập trung khắc họa chiến công, lý tưởng hoặc những nhân vật mang tính đại diện ý thức hệ, thì Sông tuyến lại chuyển trọng tâm sang bi kịch tâm lý của con người cá nhân khi bị lịch sử phân rẽ, buộc phải đứng về hai phía đối nghịch.

Sông tuyến có thể được xem như một diễn ngôn lịch sử mang chiều sâu tâm lý hiếm thấy. Bối cảnh tiểu thuyết trải dài từ sau Hiệp định Giơnevơ (Genève) năm 1954 đến tận thời hậu chiến, bao trùm những biến động lớn như cải cách ruộng đất ở miền Bắc, cuộc chiến tranh chia cắt hai miền và những hệ lụy kéo dài sau năm 1975, đặc biệt là khát vọng hòa hợp, hòa giải dân tộc. Lịch sử trong Sông tuyến không được tái hiện theo lối biên niên, sự kiện thuần túy, mà được nội tâm hóa thông qua số phận và những chấn động tâm lý của từng nhân vật. Ngay từ nhan đề, “sông tuyến” đã mang tính biểu tượng kép: vừa là đường ranh giới địa - chính trị, vừa là đường ranh giới tâm lý, nơi con người bị đặt vào tình thế phải lựa chọn căn cước, niềm tin và chuẩn mực đạo đức sống. Trong không gian nghệ thuật ấy, các nhân vật không chỉ đối diện với kẻ thù bên kia chiến tuyến, mà còn phải đối diện với chính mình - với những xung đột nội tâm âm ỉ, dai dẳng như một vết thương tinh thần khó có thể chữa lành.

Trung tâm của tiểu thuyết là hình ảnh một gia đình nhỏ gồm hai vợ chồng và bốn người con được xây dựng như một mô hình thu nhỏ của lịch sử chia cắt dân tộc Việt Nam trong chiến tranh và hậu chiến. Mỗi con người đại diện cho một hướng vận động khác nhau của lịch sử, song điểm chung là tất cả đều bị đẩy vào trạng thái tâm lý phức tạp, dồn nén và đầy tổn thương do hoàn cảnh lịch sử khắc nghiệt tạo nên.

Nhân vật người cha trong gia đình ấy vốn chỉ là một thầy thuốc lương thiện, sống bằng nghề chữa bệnh cứu người, nhưng lại bị đội cải cách ruộng đất quy kết là địa chủ, phản động. Ông bị kết tội chỉ vì có con gái lấy chồng là lính ngụy chạy vào Nam sinh sống, có con trai tham gia vệ quốc quân nhưng bị vu oan là làm chỉ điểm cho địch. Sau những vụ án oan nghiệt của ông thầy giáo Chương hiền lành chỉ biết gắn đời mình với phấn trắng bảng đen, và của ông Lê Nguyên - một cán bộ cách mạng bị quy chụp là trở cờ, phản động - người cha ấy cũng bị tòa án nhân dân tuyên án tử hình.

Biết mình mang án tử oan, trong một đêm tối, ông buộc phải cùng con trai bí mật vượt sông tuyến vào Nam để tạm lánh nạn. Thế nhưng, dù phải rời bỏ quê hương trong hoàn cảnh nghiệt ngã, lòng ông chưa bao giờ nguôi hướng về mảnh đất nơi mình sinh ra và gắn bó cả đời. Khi nghe tin tình hình quê nhà có phần lắng dịu, ông lại liều mình bí mật vượt sông tuyến trở ra Bắc, dù biết rằng bản án oan kia vẫn còn treo lơ lửng trên đầu. Qua số phận nhân vật này, Sông tuyến khắc họa một cách sâu sắc tâm thế của người dân vùng giới tuyến: dù bị đẩy vào những hoàn cảnh oan khuất đến tận cùng, họ vẫn một mực hướng về quê hương, về cách mạng và về Bác Hồ - như một niềm tin tinh thần son sắt, khó gì có thể dập tắt.

Nhân vật Thủy - người con dâu trong gia đình (vợ Quang) - là hình ảnh tiêu biểu cho kiểu số phận sống trong tâm thế cam chịu nhằm sinh tồn thầm lặng giữa hoàn cảnh lịch sử chia cắt Nam - Bắc. Có chồng đi lính ngụy, Thủy lựa chọn một cách tồn tại ít va chạm, tránh né xung đột trực diện về ý thức hệ. Tuy nhiên, chính sự lặng lẽ ấy lại che giấu một đời sống nội tâm bị giằng xé kéo dài. Ở Thủy không có những xung đột ý thức hệ bộc lộ ra bên ngoài, nhưng lại tồn tại một dạng xung đột âm thầm, dai dẳng, nơi ký ức mất mát và chia lìa luôn trở đi trở lại như một ám ảnh khó nguôi. Thủy mang trong mình nỗi đau của những con người bị chiến tranh tước đoạt quyền được yêu thương trọn vẹn: “Anh có nhớ không, hai dòng sông từng là chứng nhân của một thời chia cắt - Bến Hải và Thạch Hãn? Một dòng sông từng là lằn ranh nghiệt ngã, chia đôi đất nước, chia lìa bao gia đình, bao đôi lứa yêu nhau...” (Sông tuyến, tr. 260).

 Qua nhân vật Thủy, Văn Xương khắc họa một dạng bi kịch ít được chú ý trong văn học chiến tranh: bi kịch của những con người không cầm súng, không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, nhưng chiến tranh lại chiếm đoạt đời sống tinh thần của họ một cách triệt để. Đây là một kiểu nhân vật mới trong cách viết của Văn Xương, khác biệt rõ nét so với mô hình nhân vật chiến tranh - hậu chiến quen thuộc trước đó, vốn thường tập trung vào hành động và lựa chọn mang tính sử thi.

Nhân vật Minh người con trai thứ hai trong gia đình, anh là người lính vệ quốc quân thời kháng chiến chống Pháp. Nhân vật này tiêu biểu cho xung đột giữa lý tưởng cách mạng và những tổn thương tinh thần do bi kịch gia đình để lại. Ở giai đoạn đầu, tâm lý Minh mang tính nhất quán, hướng ngoại đặt cái “chúng ta” lên trên cái “ tôi” nhưng do hoàn cảnh lịch sử để lại, diễn biến tâm lý của nhân vật ngày càng đa chiều, trải nghiệm. Minh từ một chàng trai lạc giữa rừng sâu, anh đã tìm thấy lý tưởng và dân tộc: “Từ một chàng trai lạc giữa rừng sâu, tôi đã tìm thấy con đường của mình - con đường của lòng tin, của lý tưởng và của dân tộc” (Sông tuyến, Tra. 82). Minh khẳng định sự lựa chọn của mình là đúng đắn, và sẽ mãi trung thành với lý tưởng cách mạng. Sau chiến tranh, dù mất đi một phần thân thể, Minh vẫn tự hào vì đã hiến dâng cuộc đời cho Tổ quốc.    

Nhân vật Quang - người con trai thứ ba - theo cha vượt sông vào Nam sau biến cố gia đình, được học hành bài bản và trở thành sĩ quan Đà Lạt của quân đội Sài Gòn. Quang là nhân vật có diễn biến tâm lý phức tạp nhất trong gia đình, đại diện cho bi kịch của những con người đứng về phía thua cuộc của lịch sử. Ánh mắt trĩu nặng u uẩn của người cha bị kết án oan trong cải cách ruộng đất đã in dấu sâu sắc vào ký ức tuổi thơ của Quang: “Tôi nhìn sang cha. Ông thở dài, rất khẽ. Đôi mắt thăm thẳm, trĩu nặng những nỗi niềm mà tôi, một đứa trẻ, chỉ có thể cảm nhận bằng bản năng mơ hồ…” (Sông tuyến, tr. 16).

Từ khoảnh khắc ấy, Quang cảm nhận rõ sự rạn vỡ và chia lìa của gia đình. Khác với nhiều nhân vật trong tác phẩm mang diễn biến tâm lý khá đơn tuyến, Quang tồn tại trong trạng thái xung đột nội tâm phức hợp. Bi kịch của anh không chỉ nằm ở lựa chọn ban đầu đã trở nên vô nghĩa khi lịch sử sang trang, mà còn ở chỗ quá khứ không thể xóa bỏ hoàn toàn, trong khi tương lai lại mơ hồ và khó định vị. Những tổn thương chiến tranh để lại trên thân thể, cảm giác mặc cảm, tự vấn và bị bỏ rơi khiến Quang sống dai dẳng trong nỗi buồn của ký ức, dù đã được gia đình dang tay an ủi để xây dựng một đời sống mới. Qua nhân vật này, Văn Xương đặt ra một câu hỏi nhạy cảm nhưng cần thiết: trách nhiệm của lịch sử đối với những con người thua cuộc là gì? Đây cũng là một trăn trở xuyên suốt trong Sông tuyến, gắn liền với khát vọng hòa hợp và hòa giải dân tộc.

Nhân vật Giang, người em gái út. Sau biến cố của gia đình vẫn ở lại quê nhà, với mặc cảm bản lý lịch bị vu oan là con địa chủ, phản động, nhưng Giang vẫn hăng say công tác: Vừa lao động, vừa chiến đấu. Giang là nhân vật tiêu biểu cho ý thức phân mảnh và khát vọng hòa giải. Nhân vật Giang có chiều sâu triết luận rõ nét. Sinh ra và trưởng thành trong hoàn cảnh lịch sử bị chia cắt, Giang không sở hữu một trạng thái tâm lý ổn định, mà luôn sống trong trạng thái tâm lý bị phân mảnh. Giang không đứng về phía nào trong gia đình, mà nổ lực hiểu cả hai phía. Chính trạng thái tâm lý này khiến nhân vật rơi vào trạng thái cô đơn hiện sinh, nhưng đồng thời cũng mở ra khả năng hòa hợp, hòa giải trong gia đình: “Chiến tranh đã kết thúc, nhưng hậu quả của nó vẫn len lỏi vào từng ngõ ngách làng quê, từng mái nhà , từng số phận. Nó không chỉ để lại những vết thương trên thân thể, mà còn hằn sâu vào lòng người. Gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Dù từ hồi chúng tôi còn nhỏ, mẹ tôi vẫn thường bảo: “Anh em ruột thịt, có chi mà không bỏ qua cho nhau được”. (Sông tuyến, Tr. 241). Giang là nơi hội tụ của ký ức gia đình và ký ức lịch sử dân tộc, là điểm tựa để tiểu thuyết hướng đến một thông điệp cốt lõi: Khát vọng và khả năng hòa hợp, hòa giải dân tộc sau chiến tranh.

Có thể khẳng định rằng, thành công nghệ thuật của tiểu thuyết Sông tuyến trước hết nằm ở cách tổ chức kết cấu truyện chặt chẽ, nghệ thuật xây dựng hệ thống nhân vật điển hình và việc sử dụng giọng kể tiết chế, tạo nên những cao trào kịch tính không bằng hành động bề mặt mà bằng các xung đột nội tâm âm ỉ. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng tiểu thuyết tâm lý của văn học đương đại, đồng thời tạo nên giá trị bền vững cho tác phẩm. Về phương diện tư tưởng, Sông tuyến hướng đến khát vọng hòa hợp, hòa giải dân tộc không như một khẩu hiệu chính trị, mà như một tiến trình tâm lý - đạo đức lâu dài và phức tạp. Văn Xương cho thấy: khi chiến tranh đã kết thúc trên bản đồ, nó vẫn tiếp tục tồn tại trong tâm thức con người; vì thế, hòa hợp và hòa giải chỉ có thể bắt đầu khi mỗi cá nhân được thừa nhận như một chủ thể mang trong mình đau khổ, ký ức và phẩm giá.

Trong tiểu thuyết Sông tuyến, Văn Xương không chỉ tái hiện một giai đoạn lịch sử đầy biến động, mà còn thực hiện một cuộc “giải phẩu tinh thần” đối với con người Việt Nam trong và sau chiến tranh, thông qua bi kịch của một gia đình. Tiểu thuyết đã đặt ra những câu hỏi lớn căn bản về sự lựa chọn, trách nhiệm và khả năng hàn gắn, nối chiều sâu tâm lý với tư tưởng nhân văn sâu sắc. Với những đóng góp ấy, Sông tuyến xứng đáng được đánh giá là một tác phẩm có vị trí quan trọng trong dòng tiểu thuyết lịch sử - hậu chiến của văn học Việt Nam đương đại.

 

           Viết tại Phường Nam Đông Hà, ngày 20/1/2026.

                                                                           

                                                        NVT    

 Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

 Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị       

READ MORE - SÔNG TUYẾN - KHI LỊCH SỬ ĐI QUA TÂM THỨC CON NGƯỜI - Nguyễn Văn Trình