Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, September 21, 2021

HOA LỰU - Chu Vương Miện

 





 




READ MORE - HOA LỰU - Chu Vương Miện

HOA SỨ NỞ TRÁI MÙA - Truyện ngắn Nguyễn Đại Duẫn

 


              Hoa sứ nở trái mùa

             Truyện ngắn của Nguyễn Đại Duẫn

                                                                                          

Cơn sốt vật vã cả tuần nay chưa cắt hẳn, người Đại nóng ran, miệng khô ráp. Đã thế, mới đầu mùa khô mà cái nắng trên đất Lào cứ gay gắt. Ngân ngồi bên, cầm chiếc quạt nan quạt lấy quạt để, nhìn anh trìu mến: “Cố lên anh”. Đại nhìn Ngân trong mơ màng. Khuôn mặt trái xoan, nước da trắng hồng lấm tấm vài nốt tàn nhang với ánh mắt rạng rỡ khi cười không giống lần đầu mới gặp.

Ngày đó, Đại được điều động về làm nhân viên Hậu cần của Tiểu đoàn bộ. Hơn năm cây số trên con đường nham nhở đất đá với ba lô nặng trĩu, anh mệt bở hơi tai. Mồ hôi, bụi đường rít rát, khó chịu. Đến ngã ba đường, chưa biết rẽ lối nào, anh thấy hai nữ quân nhân đi tới. Mừng quá, Đại cất tiếng:

- Chào hai đồng chí! Đường về Tiểu đoàn bộ rẽ lối nào ạ? Một cô nhanh nhảu:

- Đồng chí gặp may rồi! Đi theo các “chị”. Lính Tiểu đoàn bộ đây!

Hai người dẫn Đại lội qua con suối, vòng qua đồi tranh, leo qua cầu khỉ rồi đến rừng le. Đại buột miệng:

- Hai “chị” định “bắt cóc” tôi à.  Đi đâu vòng vèo thế này?

Cô có nước da hơi bắt nắng cười:

- Anh yên tâm! Đây là bước đầu thử thách lính Tiểu đoàn bộ đó! Cô gái có nước da trắng hồng điểm vài nốt tàn nhang nghiêm nghị:

- Phải biết “tập luyện” mới thành lính Tiểu đoàn bộ được, đồng chí lính mới ạ!

Đại nghĩ thầm: “Không sao đâu. Đã theo thì theo đến cùng”. Đại lặng lẽ cùng hai cô đào măng, bóc vỏ, bỏ bao rồi vác về. Vừa đi anh vừa lẩm bẩm: “Đúng là, lính buổi mai cai lính buổi hôm!”. Rồi Đại cũng biết một cô tên Hà, cô đi cùng là Ngân. Ngân “tít”, nhân viên thông tin. Biệt hiệu này là do khi cười mắt Ngân cứ nhắm tít lại.

Đại đang thiêm thiếp, bỗng bật cười. Ngân mừng rỡ nắm tay anh:

- Anh! Anh đã tỉnh rồi.

Ngân lấy nước cho Đại uống. Nhìn bàn tay thon trắng, có một vết sẹo chạy dài trông ngồ ngộ. Đại ngạc nhiên:

- Bàn tay em làm sao thế?

Ngân ngại ngùng:

- Khi nào khỏe rồi em kể anh nghe!

Cơn sốt đã tạm qua đi, Đại từ từ ngồi dậy:

- Không sao đâu! Em kể cho vui, biết đâu nghe chuyện rồi anh khỏe lại.

Ngân âu yếm nhìn Đại rồi chậm rãi kể: Quê em ở bên dòng sông xanh trong. Chiều về, những bè nứa, bè gỗ xuôi dòng trong con nước lững lờ. Gia 

đình đông con, bố em hay ốm đau nên chẳng làm việc nặng được. Hằng ngày, ngoài giờ học, em phải đi chăn trâu. Một hôm, đang tập bơi trên sông, nhìn thấy trâu ăn lúa, em vội vàng chạy lên thì trượt ngã, tay đập vào hòn đá rách toác để lại cái sẹo đến bây giờ. Lớn lên em cùng mấy đứa bạn rủ nhau viết đơn tình nguyện đi bộ đội. Thương mẹ nhiều lắm, nhưng em đã quyết rồi. Cũng khó khăn lắm mới nhập ngũ được đó anh. Là do gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thuộc diện miễn nghĩa vụ quân sự. Rồi em xin mãi, mẹ lên năn nỉ Ban Chỉ huy quân sự huyện nên em mới được đi. Tưởng thế nào cũng sẽ được ra biên giới phía Bắc đánh quân bành trướng nên háo hức lắm, nhưng chiến tranh biên giới đã tạm lắng, em và các bạn được điều động về đơn vị làm cầu đường trên đất bạn Lào. Lúc đầu hụt hẫng lắm, bây giờ thì quen rồi. Nhớ mẹ nhiều lắm anh à, cứ mong hết nghĩa vụ để về. Bố mẹ đã già, mưa nắng, ốm đau chẳng biết thế nào, vậy mà đã hơn hai năm xa nhà rồi. Ngân nhìn vào khoảng không, mắt chớp chớp, ươn ướt.

Đại nhìn vào mắt Ngân, một cái nhìn thương cảm. Trong lòng anh như có gì thổn thức, xao xuyến. Nghĩ thương hoàn cảnh của Ngân, Đại muốn nói một điều gì đó mà anh chưa thốt nên lời.

Ngày hôm sau, không thấy Ngân ghé thăm, Đại thấy bồn chồn. Đến bữa, Hà mang cháo lên cho anh:

- Anh gắng ăn đi nhé! Hôm nay cái Ngân đi sửa tuyến, nghe đâu đường dây bị cháy do dân bản đốt rẫy.

Nằm một mình trong phòng vắng, nghe tiếng con thạch sùng kêu tành tạch, Đại thấy nhớ cái dáng thon thả, bàn tay quạt dẻo như đang múa của Ngân. Buổi chiều, Ngân về, mang theo bó rau rừng. Nào là rau sam, rau tàu bay, rau dền để nấu bát canh suông, vậy mà Đại thấy ngon miệng.

Chỉ còn vài ngày nữa là đến Tết. Đại đã đỡ sốt. Ngân mừng lắm, những lúc rỗi rãi cô lại ghé qua phòng anh. Ngày nào cô không đến, anh thấp thỏm, chờ mong. Nằm dài trên giường, anh thấy nhớ mẹ. Lúc ở nhà, bị cảm sốt mẹ thường hay nấu cháo hành, ăn nóng, húp xoàn xoạt, mồ hôi đầm đìa. Giá như… Đến giờ ăn trưa, Ngân mang đến bát cháo đang bốc hơi nghi ngút, mùi hành thơm lừng, chỉ ngửi cũng đã thấy ngon, Đại thốt lên: “Ôi! Em đọc được suy nghĩ của anh ư?”. Đặt bát cháo xuống bàn, Ngân nhẹ nhàng:

- Chim rừng Ngân mua ở bản về nấu cháo, anh ăn đi cho nóng!

Bát cháo làm cho mồ hôi tháo ra ướt cả vạt áo, thấy nhẹ nhõm như trút gánh nặng, Đại ngần ngại:

- Anh ăn được rồi, đã khỏe dần. Em vất vả với anh làm gì?

- Nếu anh ăn thấy ngon thì em vui lắm. Cố ăn cho mau khỏe để còn đón năm mới nữa chứ đồng chí “lính Trường Sơn”.

Mấy ngày tiếp theo, Ngân thường xuyên nấu cháo cho Đại. Lúc thì thịt chim, lúc thì gà rừng, lúc thì thịt chồn. Đại ngày càng khỏe thêm, cơn sốt lùi dần. Mỗi lần bưng cháo lên, Ngân không quên kèm một bông hoa sứ tặng Đại. 

Mùi hoa dìu dịu, thoang thoảng thơm làm cho căn phòng ẩm mốc mùi tranh nứa cũng thanh thoát hơn. Anh vui miệng hỏi:

- Ngân có biết hoa này người ta gọi là hoa gì không?

- Hoa này ở quê em gọi là hoa sứ.

- Ở Lào gọi là hoa Chămpa! Một loài hoa với cả một truyền thuyết li kỳ!

- Khi nào hết sốt anh kể cho em nghe nhé! Ngân năn nỉ.

- Ừ! Khi nào khỏi bệnh anh sẽ kể cho em nghe truyền thuyết về hoa Chămpa của Lào. Bông hoa sứ em tặng anh còn có tên khác là hoa sứ cùi hay còn gọi hoa đại. Thấy Ngân chăm chú lắng nghe, Đại hào hứng:

- Đây là loài hoa gắn liền với đất nước Lào. Hoa sứ có màu sắc tinh khiết và mùi hương thanh nhã, thơm ngát. Hoa tập trung ở đỉnh, màu đỏ tím. Không chỉ vậy hương sắc của hoa lan tỏa làm say đắm lòng người. Những đôi trai gái yêu nhau thường trao tặng nhau, để nói lên tình yêu tha thiết, thủy chung của mình. Đại ngừng lại rồi cao hứng cất giọng: “Đêm đêm ngửi mùi hương, mùi hoa sứ nhà nàng. Hương nồng hoa tình ái, đậm đà đây đó gọi tên”. Ngân ngơ ngác tròn xoe mắt trước tiếng hát trầm ấm, thầm thì như lời tâm tình của anh. Cô chợt nắm chặt tay Đại:

- Phải rồi! Từ nay em không gọi là hoa sứ hay hoa Chăm pa nữa. Em sẽ gọi là hoa đại, một loài hoa tình ái mà lại trùng tên với anh.

Đại tủm tỉm cười:

- Nhưng hoa sứ thường nở vào tháng Tư hay tháng Năm, vậy thì mùa này lấy đâu ra để tặng anh?

Ngân cười:

- Loài hoa này chắc hiểu lòng em nên nở trái mùa đó anh. Anh biết không, một hôm, trong lúc san lấp đường, em nhìn thấy một nhành cây sứ nằm bên vệ đường. Thế là em đưa về trồng ở bờ suối, gần doanh trại. Từng ngày, từng ngày cây đâm chồi non xanh, lớn dần.

Một hôm, đang ngắm nhìn cây sứ, Ngân thấy Hà từ đâu ùa đến:

- Từ ngày gặp anh Đại đến giờ tao thấy mày làm đỏm ghê, còn xức cả nước hoa nữa.

- Làm gì có nước hoa, chỉ có mùi mồ hôi thôi.

Rồi bất chợt Ngân chỉ vào bông hoa sứ đang khoe hương sắc trên cành, reo lên: 

- Nước hoa đây rồi. Cậu thấy không mùi thơm lan tỏa, phảng phất như mùi nước hoa ấy. Ngày Tết Bunpimay Lào, hai người hái hoa về cắm vào lọ, thưởng thức cái nồng nàn, hương nhã của hoa.

Không hiểu sao năm nay lại có một chùm sứ nở trái mùa vào tháng Chạp? Như có cơ duyên để cho Ngân đem hương đến với Đại trong những ngày anh sốt nằm nhà. Chắc ông trời cố ý tơ duyên?

Rồi Tết cũng đến, trước cổng doanh trại được vệ sinh sạch sẽ. Cây bên đường được chặt tỉa bớt cành trong thật đẹp mắt. Mấy câu khẩu hiệu “Chúc mừng năm mới” được căng lên khiêm nhường như để vui thêm không khí Tết của những người lính xa nhà. Đêm Ba mươi Tết, đơn vị tập trung về Hội trường đón giao thừa. Những tiết mục văn nghệ ca ngợi Tổ quốc, về bộ đội Trường Sơn cứ ngân nga giữa núi rừng vắng lặng. Giao thừa đến, mọi người quây quần bên chiếc radio nghe Chủ tịch nước đọc thư chúc Tết.

Bình thường, giờ này đơn vị đã chìm trong giấc ngủ. Nhưng đêm nay ai cũng háo hức đón năm mới. Cánh lính trẻ thì chơi Tu-lơ- khơ quẹt nhọ nồi, lính già thì nhâm nhi trà lá kể chuyện Tết quê, nhắc đến vợ con, người thân. Đại ghé vào tai Ngân: “Mình ra bờ suối đi”. “Em ngại lắm”. “Không sao đâu, giờ này không ai để ý đâu!”.

Lát sau, hai người đã ngồi sát nhau bên gốc sứ đại. Mái tóc Ngân xỏa xuống ngang eo thoảng thơm mùi hoa sứ dịu ngọt. Tim Đại đập rộn ràng. Bàn tay Đại vụng về nhặt những hòn cuội ném xuống dòng suối. Hai người lặng yên, chỉ nghe con suối cạn cất tiếng róc rách. Chùm hoa sứ trên đầu hai người đỏ rực như đôi má thẹn thùng của cô gái khi ngồi bên người yêu. Bất chợt Ngân hỏi:

- Anh! Có biết những ngày qua anh ăn cháo thịt gì không? Một giây yên lặng. Không chờ câu trả lời, Ngân tiếp: - Đó là cháo thịt giun đất em đã lén nấu cho anh. Vậy mà hiệu quả thật đó. Giờ anh đã hết sốt, khỏe lại em mừng lắm.

 Đại đưa tay đấm nhẹ lên lưng Ngân:

- Trời ơi! Lâu nay ăn cháo giun đất mà anh không biết. Nếu biết anh không thể nào nuốt nổi! Nhưng giờ thì nó đã ngấm vào từng tế bào của anh rồi. Cảm ơn em nhiều lắm. May mà em đã chịu khó nấu cho anh ăn, giờ đây cơn sốt đã cắt, sức khỏe đã tăng thêm. Mà anh thấy cháo giun đất em nấu cũng ngon đấy chứ!

Ngân im lặng nhìn Đại âu yếm. Dù sao cũng nhờ bát cháo giun đất mà tình cảm hai người ngày càng gắn bó. Bất chợt, Đại khẽ ôm và hôn lên đôi môi nóng bỏng của Ngân. Rất lâu, rất lâu… anh mới run run, thầm thì: “Anh yêu em!”. 

Sự vắng lặng của núi rừng càng làm cho những cảm xúc của hai người thêm rạo rực. Đôi môi nồng thắm của Ngân run rẩy. Một cảm giác đê mê lan tỏa trên thân thể. Ngân cứ để vòng tay Đại nhẹ nhàng bên vòng eo của cô. Cây sứ lặng yên lắng nghe lời thì thầm của hai trái tim  đang loạn nhịp. Và chứng kiến nụ hôn đầu đời của Đại trao cho Ngân ngọt ngào. Con suối cạn róc rách như đang đồng lõa với mối tình trong trắng, thầm kín của họ. 

Gà rừng cất tiếng gáy le te. Hai người dắt tay nhau về doanh trại với niềm hạnh phúc lâng lâng chào đón mùa xuân trong mùi hoa sứ thoảng thơm

 

              ***

Tin đồn quan hệ bất chính giữa Đại và Ngân trong đêm giao thừa loang nhanh như ngọn gió độc làm xôn xao cán bộ chiến sĩ từ Tiểu đoàn bộ đến các Đại đội. Nhiều người tụm năm, tụm ba bàn ra tán vào. Ngân không ăn, không ngủ. Hà ngày đêm chăm sóc an ủi động viên cô. Ngân tránh mặt không gặp Đại, anh đi đi lại lại trong phòng, tâm trí cứ để đâu đâu, công việc có phần lơ đễnh.

Ông Tiểu đoàn trưởng đứng lên, ngồi xuống trầm ngâm suy tính. Đại là một chiến sĩ tích cực được ông tin yêu, tín nhiệm. Nhiệm vụ gì đơn vị giao cho đều hoàn thành xuất sắc, lại đang là đối tượng Đảng. Ngân là nhân viên thông tin có năng lực chuyên môn, nhiệt tình công việc, chan hòa với anh em. Ông tự nói với mình: “Không thể để sự việc này kéo dài mãi thế được. Mà có nên tin lời đồn đại này không? Phải giải quyết thế nào cho thấu tình, đạt lí”. Từ khi ông nhận chức đến giờ chưa xảy ra sự việc nào như thế này.

Sáng hôm sau, ông gọi Đại lên phòng:

- Cậu tường trình cho rõ mọi chuyện xem nào. Đại kể hết sự tình và nói:

- Báo cáo thủ trưởng, chúng em yêu nhau trong sáng.

Ông định đập bàn, mắng: “Qui định của đơn vị không cho phép trai gái yêu đương trong thời kỳ đang quân ngũ”. Nhưng rồi như kiềm chế cơn nóng giận, ông nhỏ nhẹ: “Thôi! Cậu cứ bình tĩnh và yên tâm, mọi việc tôi sẽ giải quyết. Nhớ là động viên cái Ngân kẻo nó suy sụp tinh thần, ảnh hưởng sức khỏe”. Buổi chiều, Tiểu đoàn bộ triệu tập cuộc họp cốt cán để tìm ra được người tung tin đồn và để ổn định tình hình đơn vị. Sau khi Tiểu đoàn trưởng trình bày nội dung cuộc họp, mọi người tham gia tranh luận, cân nhắc. Ông Thừa, trưởng bộ phận xe máy phát biểu:

- Việc đồng chí Đại và đồng chí Ngân có quan hệ bất chính đã rõ. Phải làm cho ra nhẽ. Không thể để chiến sĩ muốn làm gì thì làm. Phải có kỷ luật, kỷ cương để giữ uy tín cho Tiểu đoàn bộ chứ!

- Khi kỷ luật một cá nhân nào đấy phải có cơ sở, có bằng chứng cụ thể. Vậy đồng chí căn cứ vào đâu mà kết luận hai người có quan hệ bất chính? Nhìn thẳng vào ông Thừa, Tiểu đoàn trưởng gằn giọng: - Nếu đồng chí không nêu được bằng chứng cụ thể thì sẽ bị kỷ luật về tội vu khống.

Ông Thừa đỏ mặt, tía tai ấp úng:

- Dạ… là… bữa đó tôi thấy… thấy hai người không về phòng mà đi xuống suối nên… nên tôi nghĩ là... sẽ có chuyện như vậy…

Thế là đã rõ. Mọi người trong đơn vị đều biết lâu nay ông Thừa có ý tán tỉnh Ngân. Ông đã có vợ con ở quê nhưng do hai gia đình gán ghép. Hơn nữa, người vợ già hơn ông đến mấy tuổi lại quê mùa nên ông chán. Biết Ngân yêu Đại, ông cay cú “hãy đợi đấy!” và muốn làm một điều gì đó. Bây giờ mọi điều đã vỡ lẽ ông mới thấy sự tung tin của mình là một sự trả đũa vô lý, tồi tệ. Gặp Ngân, ông muốn một lời xin lỗi hai người.

 

*

Ra Giêng, Đại được Tiểu đoàn cử về nước tập huấn lớp tài vụ cấp Sư đoàn. Ngân được điều về làm thông tin ở đại đội. Đơn vị tổ chức bữa cơm thân mật chia tay hai người. Đại nắm chặt tay Ngân im lặng, ánh mắt như muốn nói: “Cố lên em nhé! Hãy đợi anh!”.

 Những lá thư đều đặn như chắp cánh cho tình yêu của họ ngày một thắm thiết hơn. Sau những giờ học tập, Đại có mặt trên sân bóng để quên đi nỗi nhớ người yêu. Tối đến, ngoài thời gian học bài Đại viết nhật kí, viết thư cho Ngân. Còn Ngân, ngoài công việc chuyên môn, chiều về chăm bón vườn rau, ca hát với đồng đội. Đêm, những hình ảnh của Đại cứ hiện về như đang vui cười với cô. Nụ hôn ngày nào như vẫn còn đó, nồng nàn.

Mùa mưa sắp đến, công trường ngày càng bộn bề. Tình hình sốt rét của anh em trong đơn vị ngày một tăng. Đại đội tổ chức họp đột xuất cử một số chiến sĩ đi chốt để phát tuyến. Trước tình hình đó, Đại đội trưởng cho chiến sĩ lấy tinh thần xung phong. Người đầu tiên giơ tay là Ngân.

- Tinh thần của đồng chí Ngân rất đáng hoan nghênh, nhưng đồng chí là nhân viên thông tin không thể đi được. Để đồng chí khác. Đại đội trưởng nói.

- Báo cáo thủ trưởng, không sao đâu. Em cũng sắp ra quân, công việc thông tin đã có người về thay rồi. Cho em xuống công trường để cùng “nếm” những vất vả của đồng đội một lần. Ngân khảng khái như bảo vệ ý kiến của mình.

Biết không thể từ chối được, đại đội nhất trí cho Ngân đi chốt. Một Trung đội được điều về chốt, phát tuyến. Công việc không vất vả lắm, nhưng thiếu thốn về vật chất và tinh thần. Một cái lán chia hai phòng, một bên là nam, một bên là nữ. Sinh hoạt phức tạp, không báo chí, không điện đài. Đêm về ngắm trăng suông, mấy anh chị em kể chuyện nhà, chuyện người yêu làm Ngân thao thức nhớ Đại.

Cũng như mọi hôm, trong lúc mọi người xuống suối rửa tay, chuẩn bị về lán nghỉ ngơi ăn trưa, Ngân nán lại chặt nốt cây le cuối cùng. Mồ hôi chảy ròng trên má, đậu trên mi mắt cô cay cay. Ngân thấy mệt vì mấy bữa nay khó ngủ. Cây dao quắm vung cao, mắt Ngân hoa lên. Hình như trong bụi le có một quả bom bi dứa vàng chóe. Nhưng, không kịp nữa rồi. Lưỡi dao quắm bổ xuống. Cánh bom xòe ra. Một tiếng nổ khô khốc, chát chúa vang lên.

Khói, bụi đất đá bay mù mịt. Mọi người đứng như chết lặng vài giây rồi lao về phía cột khói. Ngân gục bên vũng máu. Trải chiếc áo, đưa Ngân lên đám đất bằng phẳng, mọi người xúm lại băng bó vết thương. Ngân nhìn mọi người, ánh mắt dại dần, thều thào: “Vĩnh… b..iệt các đồng chí. Cho em gửi lời chào…anh Đ..ạ..i…!”.

Mấy tháng tập huấn kết thúc, Đại trở về đơn vị. Lòng nôn nao mong sao xe chạy nhanh hơn để được về quây quần bên đồng đội, được gặp lại người yêu. Đại cứ hình dung Ngân chạy ào đến, ôm chầm lấy anh trong vòng tay trìu mến.

Rồi anh sụp xuống khi nghe tin như sét đánh bên tai. Đại xin phép đơn vị về để tang cho Ngân. Anh đến bên cây sứ đỏ ở bờ suối chặt hai nhánh, một nhánh mang về trồng ở quê, một nhánh sẽ trồng bên mộ của người yêu.

      

                 *

 Tay xách chiếc làn đựng mấy bó hương và chiếc hộp đựng hoa sứ khô, Đại bước chậm rãi trên con đường đến nghĩa địa. Ngọn gió xuân se sẽ thoảng qua, khiến lòng Đại thêm se sắt nỗi cô đơn. Vậy mà đã mấy chục năm trôi qua, nay Đại mới có dịp trở lại nơi này.

Con đường hữu nghị Việt – Lào đã hoàn thành bàn giao cho nước bạn. Đơn vị chuyển về nước, Đại xin chuyển ngành trở lại nghề dạy học với bề bộn lo toan. Nhiều khi những kí ức xưa ùa về, Đại chỉ biết thầm thì với Ngân và tin cô sẽ hiểu. Thắp nén hương trên ngôi mộ người đồng đội, người yêu, Đại mơ màng, mông lung. Lời hứa kể về truyền thuyết hoa Chăm pa cho Ngân còn đây. Bên anh, cây sứ tỏa cành lá sum suê vươn dài như bàn tay ôm ấp che chở cho người dưới mộ. Đại rải những bông hoa sứ đã phơi khô trên mộ Ngân như đang níu về những kỉ niệm.

Đại biết rằng, mùa này hoa sứ chưa nở nên đưa theo những bông hoa mà Đại đã phơi từ vườn nhà mấy chục năm nay. Mà lạ lắm, mùi hương dìu dịu, nồng ấm không chỉ tỏa ra từ những bông hoa sứ khô mà cứ như đang phảng phất đâu đây trong làn gió xuân.

Đại ngước nhìn lên cành sứ. Kìa! Một bông hoa sứ vừa nở. Ôi! Hoa sứ trái mùa. Hoa sứ đỏ dịu dàng đang đung đưa khoe sắc trong gió xuân. Đại thấy rưng rưng đến lạ.

Một thoáng mơ màng, bóng Ngân hiện về trên cành hoa như đang mỉm cười nhìn anh rồi bỗng chốc hòa vào dòng người đi trẩy hội xuân. Đại đuổi theo, bóng Ngân cứ xa vời, xa vời. Mùi hương sứ từ bóng dáng mờ ảo của Ngân thoảng thơm, dịu nhẹ lan tỏa trong gió xuân - hương của tình yêu, hương của hoa sứ nở trái mùa.


                                                        

Nguyễn Đại Duẫn

Hội viên Hội VHNT Quảng Bình

nguyenduanqh@gmail.com







READ MORE - HOA SỨ NỞ TRÁI MÙA - Truyện ngắn Nguyễn Đại Duẫn

Monday, September 20, 2021

CON TRĂNG – Thơ Lê Phước Sinh




CON TRĂNG
 
Đi dong đi dài đến khi mệt mỏi
Trăng gối đầu Đa, Chú Cuội quạt nan
Nằm ngửa nằm nghiêng cho nên Trăng khuyết
Gió máy trở trời, bắt vạ la làng...
 
                                       LÊ PHƯỚC SINH
......
 
* Giữa Thu tháng 8 Al.

READ MORE - CON TRĂNG – Thơ Lê Phước Sinh

Sunday, September 19, 2021

MÙA TRĂNG THU BUỒN - Thơ Nhật Quang

 


MÙA TRĂNG THU BUỒN



Thu xưa Nguyệt toả ánh vàng

Hằng Nga mơ mộng…dịu dàng dễ thương

Đàn em nhỏ khắp bốn phương

Rước đèn, vui hát trên đường múa lân


Đêm Thu ánh ngọc trong ngần

Trẻ, già phá cỗ ngoài sân tươi cười

Mùa trăng sáng đẹp tuyệt vời

Toả hồng mơ ước…đất trời bao la


Thu nay Côvid  tràn qua

Chị Hằng mắt lệ nhạt nhoà mưa bay

Phố buồn quạnh vắng ngủ say

Giật mình còi hú*…đắng cay cõi lòng


Trẻ thơ tan giấc mơ hồng

Không quà, không bánh, đèn lồng hát ca

Bé ngồi nhìn hạt mưa sa

Bóng trăng hun hút, cây đa khuất mờ


Bé chắp tay nguyện ước mơ…

Quê hương, đất nước bến bờ an vui

Xua tan dịch bệnh qua rồi

Đón mùa Thu đến bé cười rước trăng.


                                        Nhật Quang

nhatquang18@gmail.com


* (tiếng còi xe cứu thuơng)




READ MORE - MÙA TRĂNG THU BUỒN - Thơ Nhật Quang

VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM | CHÙA CỔ TRẤN QUỐC | CHIỀU HỒ GƯƠM | THAM QUAN CHÙA MỘT CỘT - Chùm thơ Nguyễn Văn Trình

 

 



Văn Miếu - Quốc Tử Giám (1)

                     Nguyễn Văn Trình

                          

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

trường đại học đầu tiên

của Nước Nam văn hiến

bốn ngàn năm dựng nước

mãi trường tồn lưu danh

bước qua cổng tam quan

có ba cửa ra vào

Đại Trung Môn ở giữa

hai bên là tả hữu

cửa Thành, Đạt khoa cử (2)...

 

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

đến thăm Khuê Văn Các

chân đế bốn khối trụ

xây bằng gạch vồ vuông

bàn đỡ gác Khuê Văn

kết cấu toàn bằng gỗ

gác có bốn cửa tròn

ngắm nhìn ra bốn hướng

Đông Tây và Nam Bắc

hàng lan can con tiện

mái ngói chồng hai lớp

cổ kính và rêu phong

gác Khuê được công nhận

biểu tượng của văn hóa

Hà Nội thủ đô ta

danh hiệu vì hòa bình…

 

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

trước gác Khuê Văn Các

là hồ Thiên Quang Tỉnh

giếng soi ánh mặt trời

gột rửa những bụi trần

xây nhân cách sạch trong

hai bên hồ, bia tiến sĩ

chất liệu làm bằng đá

ghi danh người đỗ đạt

sau các kỳ khoa cử (3)

làm rạng danh nước nhà…

 

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

ghé thăm hai tòa nhà

Bái Đường và Thượng Cung

nơi thờ phụng Khổng Tử

và các vị Tứ Phối (4)

đề cao nền Nho học

đến khu nhà Thái học

và Tiền Đường, Hậu Cung

thờ các Vua thời Lý

Tư Nghiệp Quốc Tử Giám

thầy giáo Chu Văn An…

 

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

trường đại học Nước Nam

ngọn lửa luôn soi sáng

cho học vấn nước nhà

xây nên nền văn hiến

đất Việt bốn ngàn năm

trường tồn và phát triển…

 

                       NVT

               Hà Nội, 2019               

 

(1) Văn Miếu - Quốc Tử Giám : Xây dựng năm 1070 dưới thời Vua Lý Thánh Tông, là nơi thờ tự Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối. Đến năm 1076 Vua Lý Nhân Tông cho lập thêm Quốc Tử Giám, bên cạnh trường đại học dành riêng cho con Vua và các gia đình quý tộc đến đây tu tâm, luyện tài. Sang thời hậu Lê, đời Vua Lê Nhân Tông bắt đầu cho dựng bia tiến sĩ, để ghi danh những người đỗ đạt cao trong khao cử, nhằm khuyến khích, đề cao việc học hành thi cử.

(2) Hai cửa tả hữu có tên là: Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn, với ý nghĩa đi vào đây là để đỗ đạt thành tài. Vừa là người có đức, vừa là người có tài để sau này phụng sự đất nước.

(3) Khoa cử thời phong kiến gốm có ba kỳ thi: Thi Hương, thi Hội, thi Đình. Kỳ thi Đình là bậc thi cao nhất để chọn người tài đức, học rộng tài cao để ra làm quan gánh vác trách nhiệm quốc gia, có hiệu quả cao nhất.

(4) Thờ Tứ Phối là gồm thờ bốn vị: Nhan Tử,Tăng Tử, Tư Tử và Mạnh Tử.

 



Chùa cổ Trấn Quốc (1)

                  Nguyễn Văn Trình

              

Trấn Quốc ngôi chùa cổ của Thăng Long

tọa lạc trên một hòn đảo nhỏ

nằm ở phía Đông của Tây Hồ

có vẻ đẹp thâm nghiêm, cổ kính

có nét nên thơ và nhã nhặn

có vườn cây cổ thụ tươi xanh

xung quanh chùa, hồ nước mênh mông

chùa ghi danh, đẹp nhất thế giới (2)

là nơi phật tử thường lui tới

du khách thập phương

ngưỡng vọng vãn cảnh chùa…

 

Trấn Quốc ngôi chùa cổ của Thăng Long

thuộc hệ phái phật giáo Bắc Tông (3)

chùa xây theo kết cấu chữ “ Công ”

gồm Tiền Đường, Thiêu Hương, Thượng Điện

mỗi tòa nhà lại có kiến trúc riêng

tiếp sau nhà Tam Bảo tâm linh

hai dãy hành lang, song song

nhà Thiêu Hương và nhà Thượng Điện

tháp chuông sừng sững, tiếp liền phía sau

tiếng chuông vang vọng mặt hồ

nghe trong thanh tịnh, tâm linh

bâng khuâng đứng lặng, chốn Phật thiền…

 

Trấn Quốc ngôi chùa cổ của Thăng Long

ghé thăm vườn tháp, đượm mùi khói hương

có Bảo Tháp lục độ đài sen

xây cao mười một tầng vững chãi

mỗi tầng tháp, đặt một pho tượng Phật

A Di Đà làm bằng đá quý

trên đỉnh có tháp sen chín tầng

tạc bằng đá cẩm thạch rất uy nghi…

đối diện tháp là cây bồ đề (4)

chiết từ cây đại bồ đề Đạo Tràng

nơi Đức Phật Thích Ca xưa kia hành đạo

trời Hồ Tây xanh cao lồng lộng

dưới gốc bồ đề, của cây xứ Phật

nghe lòng thanh tịnh, bụi trần vơi tan…

 

                                    NVT

                              Hà Nội, 2019

                             

(1) Chùa Trấn Quốc là ngôi chùa cổ có hơn 1500 tuổi. Ban đầu Chùa có tên là chùa Khai Quốc, được xây dựng từ năm 541 thời tiền Lý. Sau nhiều lần thay đổi, do biến cố của thiên nhiên và chiến tranh, chùa dời vị trí và đổi tên thành Chùa Trấn Quốc vào đời vua Lê Hy Tông ( 1681-1705). Xưa Chùa Trấn Quốc là trung tâm phật giáo của thành Thăng Long.

(2) Chùa Trấn Quốc được trang Thrillist uy tín quốc tế bình chọn là ngôi chùa đẹp nhất thế giới.

(3) Phật giáo Bắc Tông là phật giáo Ấn Độ được truyền sang các nước phía bắc, nên gọi là Bắc Tông. Sư Bắc Tông không đi khách thực, mà tự nấu chay ăn, khác với các vị sư Nam Tông thường đi khách thực.

(4) Cây bồ đề: Do tổng thống Ấn Độ tặng năm 1959 trong chuyến ông sang thăm Hà Nội. Cây bồ đề được chiết từ cây Đại bồ đề Đạo Tràng, nơi khi xưa Đức phật Thích Ca ngồi tu thiền hành đạo.

 

 


Chiều Hồ Gươm (1)

           Nguyễn Văn Trình

 

Chiều Hồ Gươm quá đổi thân thương

chân dạo bước trên đường diễm phố

Hàng Khay nét cổ đẹp mê say

thả hồn hóng mát theo ngày gió

lòng vui cảnh sắc đất Thăng Long

Hồ Gươm xanh, giữa trái tim hồng

Hà Nội văn minh Sông Hồng đỏ

ngàn năm dấu tích vẫn còn đây

gươm báu thiêng, trả lại Rùa Vàng

xây độc lập, rạng ngời Nước Nam …

 

 

Chiều Hồ Gươm điểm hẹn bốn mùa

xuân về, sắc hoa đào rực rỡ

lễ hội tưng bừng truyền thống

mùa hạ đến, gió lồng lộng thổi

xua tan đi cái nóng oi nồng

thu sang, lấp loáng lá vàng rơi

bời bời những cành cây liễu rũ

ven hồ nhìn tựa dáng tóc tiên

màn sương mơ hồ, thêm huyền ảo

mùa đông, lất phất giọt mưa phùn

mưa như níu bước chân quên về…

 

Chiều Hồ Gươm lòng thấy bồi hồi

ghé tham quan hai hòn đảo nổi

giữa lòng hồ thanh tịnh, tâm linh

Đảo Ngọc nằm ở phía bắc hồ

cầu Thê Húc cong cong uốn nhịp

nối bờ ra đảo, sắc tươi hồng

trên đảo có, đền thiêng Ngọc Sơn

là nơi thờ phụng thần Văn Xương

ngôi sao sáng, văn chương một thời

có đền thờ Thánh Trần hào kiệt (2)

anh hùng dân tộc chống ngoại xâm

giữa hồ có một hòn Đảo Rùa

trên đảo là ngọn tháp trầm tư

kiến trúc kết hợp Đông và Tây

ngọn tháp cao ba tầng vững chãi

biểu tượng tinh thần của Thủ Đô…

 

Chiều Hồ Gươm quá đổi thân thương

lòng háo hức về đây chiêm ngưỡng

ngọn Tháp Bút, Đài Nghiên sừng sững

tháp cao năm tầng, hiên ngang đứng

trên đỉnh tháp có hình ngọn bút

hướng thẳng bầu trời xanh cao vút

Đài Nghiên, đứng trên ba cóc đá

kiên gan trụ vững với thời gian…

Tháp Bút, Đài Nghiên “ Thế bút chống trời ”

nhằm đề cao vai trò ngọn bút

truyền thống hiếu học của cha ông

anh hùng hào kiệt, danh thơm mãi

“con Lạc, cháu Hồng” dân Nước Nam …

 

                               NVT

                         Hà Nội, 2019

                            

(1) Hồ Gươm nằm ở giữa trung tâm thủ đô Hà Nội, được bao quanh bởi ba con phố chính: Hàng Khay, Lê Thái Tổ, Đinh Tiên Hoàng. Hồ Gươm gắn liền với sự tích trả gươm báu cho Rùa vàng của Vua Lê Thái Tổ, sau khi đánh tan quân xâm lược phương Bắc, thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc Việt. Một dân tộc hòa hiếu và yêu chuộng hòa bình. Nên Hồ Gươm còn có tên gọi khác là Hồ Hoàn Kiếm.

(2) Đền thờ Đức Thánh Trần, là đền thờ anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, người có công đánh thắng giặc ngoại xâm phương Bắc, giành lại nền độc lập cho nước nhà.

 

 


Tham quan Chùa Một Cột (1)

                    Nguyễn Văn Trình

                

Chiều thăm Chùa Một Cột

biểu tượng của văn hóa

Hà Nội thủ đô ta

hơn ngàn năm văn hiến

thành phố vì hòa bình

có công trình Phật giáo

mang tính thẩm mỹ cao

qua nghệ thuật tạo hình

“Đài liên hoa” trên nước

nằm giữa hồ Linh Chiểu

có tường bao quanh hồ

nhìn đẹp tựa đài sen

giữa lòng hồ kiêu sa…

 

Chiều thăm Chùa Một Cột

ngắm nhìn lên mái chùa

được lợp bằng ngói Vảy

truyền thống màu đỏ gạch

phủ lớp bụi thời gian

mái chùa có cấu trúc

hình uốn cong đầu đao

cao vút hướng lên trời

trên đỉnh của mái chùa

có “ Lưỡng long chầu nguyệt ”

đây là nét kiến trúc

của đình, chùa Việt Nam

càng thêm yêu tinh hoa

Nước Việt mình văn hiến…

 

Chiều thăm Chùa Một Cột

bước lên “ Đài liên hoa”

có hình vuông mỗi cạnh

dài chừng khoảng ba mét

chắn song bao xung quanh

phía dưới dầm, sàn gỗ

đỡ bằng một trụ đá

một cách rất vững chắc

“ Đài liên hoa” uy nghiêm

kiêu hãnh giữa lòng hồ…

 

Chiều thăm Chùa Một Cột

vào trong “ Đài liên hoa”

bài trí rất lộng lẫy

có án thờ bên trên

thờ Phật bà Quan  m

có nghìn mắt, nghìn tay

bàn thờ được sơn son

thiếp vàng rất sang trọng

trang trí bằng họa tiết

hình vân mây màu vàng

phía trên đặt hoành phi

ghi ba chữ đại tự

“ Liên hoa đài” màu vàng

trên bảng nền màu đỏ

khung cảnh thật nghiêm trang

nơi cõi thiền, cửa Phật…

 

Chiều thăm chùa Một Cột

biểu tượng của văn hóa

Hà Nội thủ đô ta

hơn ngàn năm văn hiến

về cửa Phật linh thiêng

cầu trí tuệ viên mãn

cầu sinh khí tràn đầy

cầu quốc thái dân an

giang sơn gấm vóc Việt

vững bền mãi ngàn sau…

 

                       NVT

               Hà Nội, 2019

                

(1) Chùa Một Cột được xây dựng năm 1049 dưới triều đại nhà Lý, là một trong những biểu tượng tiêu biểu của thủ đô Hà Nội, bên cạnh Tháp Rùa, Khuê Văn Các... Đây cũng là một địa chỉ du lịch hấp dẫn của du khách khi về với Hà Nội ngàn năm văn hiến, thành phố vì hòa bình.

 

READ MORE - VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM | CHÙA CỔ TRẤN QUỐC | CHIỀU HỒ GƯƠM | THAM QUAN CHÙA MỘT CỘT - Chùm thơ Nguyễn Văn Trình