Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, January 18, 2022

TẾT Ở TRƯỜNG SƠN TÂY - Nguyễn Đại Duẫn

 

Nhà văn Nguyễn Đại Duẫn


Tết ở Trường Sơn Tây 

                                             Hồi ký



     Đã cuối tháng chạp mà  nắng còn như đổ lửa. Nắng mùa khô ở Lào thật khó chịu, lúc thì nóng nực, lúc thì lất phất mấy ngọn gió khô khốc. 

Ở quê tôi, chắc đang vào tiết mưa phùn gió bấc, trời se se lạnh. Ngọn gió cuối đông rùng mình rủ hết những chiếc lá vàng sót lại. Trên cành, những chiếc lộc non xinh xinh đang nhú ra  chuấn bị đón xuân.  Chắc mẹ còn cấy vội mấy sào ruộng khoán cho kịp chợ Tết, bố loay hoay chẻ lạt, hái lá dong chuẩn bị gói bánh chưng, mấy đứa em háo hức quần áo mới…

Xung quanh doanh trại bộ đội được vệ sinh sạch sẻ. Trước cổng, những câu biểu ngữ đón xuân căng lên khiêm nhường. Lá cờ Tổ quốc tươi thắm đang phần phật tung bay làm vui thêm không khí Tết của các chiến sĩ xa nhà.

Phiên họp đột xuất của Tiểu đoàn bộ kết thúc trong không khí vui vẻ. Đồng chí tiểu đoàn trưởng kết luận:  

- Được sự nhất trí của Trung đoàn, Tiểu đoàn chúng ta sẽ cho một số đồng chí có thành tích xuất sắc được nghỉ phép về  quê ăn Tết. Tiếng vỗ tay rào rào xen lẫn tiếng nói, tiếng cười. Phá vỡ không khí ồn ào, ông tiểu đoàn trưởng “e hèm” lên giọng: - Đó là những đồng chí có thành tích xuất sắc trong công tác, không quản mưa nắng bám trụ trên công trường, để làm xong cầu trước thời hạn. Riêng Tiểu đoàn bộ gồm các đồng chí  sau…

      Thằng Sói - bạn cùng nhập ngũ - ngồi cạnh tôi nói chen ngang:

  - Thế là thằng Đại đợt này không có danh sách được về rồi! Chiến sĩ “nuôi quân xuất sắc” làm sao bì được “ lính công trường” !

 Cắt lời Sói,  ông tiểu đoàn trưởng nói:

 - Riêng đồng chí Đại, mặc dầu đạt “Chiến sĩ xuất sắc” nhưng vì tính chất công việc nên ở lại phục vụ Tết cho đơn vị. Có gì tôi trao đổi sau! 

          Vậy là tôi không có danh sách về Tết trong đợt này. Bao nhiêu dự định đều tiêu tan. Nào là mua cho mẹ cân mì chính, mua cho chị cái áo phông đỏ, đôi dép tông  về cho em, cho bố gói thuốc lá thơm, thế mà giờ đây… Lòng tôi như có cái gì đó nghèn nghẹn.

                                        

                           *

Do công tác tích cực nên ở Đại đội làm cầu, tôi được điều về làm quản lý bếp ăn Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 38. Công việc làm quản lý thật đơn điệu: Xuất lương thực phẩm cho anh nuôi, ghi chép chi tiêu trong ngày, quyết toán lương phụ cấp tháng cho anh em đơn vị.

Thấy tình hình ăn uống của anh em thất thường, thức ăn không đủ ngon.  Những món ăn hằng ngày là cá khô, rau rừng, mắm tôm, cá hộp.  Các ngày lễ mới có bữa thịt tươi. Thỉnh thoảng, anh em đem lờ ra sông Sê Pôn thả, may sao có con cá choạc cải thiện.  Cơm thừa nhiều, lãng phí. Để cải thiện bếp ăn, tôi đề xuất với thủ trưởng cho phép tôi và hai đồng chí nuôi quân ngoài công việc thường ngày chúng tôi sẽ chăn nuôi lợn, gà và trồng rau màu. Được thủ trưởng cho phép, các bộ phận ủng hộ, tôi và hai đồng đội bắt tay vào việc.  Chúng tôi làm chuồng trại, cuốc đất, vào bản mua lợn, gà giống. Với vốn hiểu biết trong sách vở và kinh nghiệm qua thực tế mấy năm dạy học, tôi áp dụng vào việc chăn nuôi lợn, gà, trồng rau cải, bầu bí, trồng chuối… Thằng Sói tuy hay dậy muộn, lười nghĩ nhưng được cái nó siêng năng tích cực lắm. Phân công việc gì nó cũng hoàn thành tốt. Đơn vị có thêm thực phẩm ngon, bữa ăn được cải thiện, sức khỏe của anh em có phần tăng lên rõ rệt. Thỉnh thoảng tôi và anh em nuôi quân còn đi lấy măng rừng, phơi khô dự trữ. Tôi được anh em đơn vị tín nhiệm bình chọn là “Chiến sĩ nuôi quân xuất sắc”.


*

Theo kế hoạch, tôi cũng theo xe “lên đường” về nước trong dịp này. Nhưng không phải về quê ăn Tết mà về chợ Đông Hà mua một số thực phẩm, gia vị chuẩn bị cho đơn vị đón Tết; đồng thời ghé Đăc Krông - Hậu cứ của Trung đoàn - bắt mấy con bò, lợn được Trung đoàn cấp Tết cho Tiểu đoàn.

Đúng 7 giờ 30 phút, xe chở các chiến sĩ về phép Tết lên đường. Chiếc xe tải chẳng có ghế ngồi. Mọi người đu bám tay vào mấy cọc sắt trần xe. Xe lắc lư, thỉnh thoảng qua ổ gà, xuống dốc, xe phanh đột ngột làm mọi người dúi dụi vào nhau. Đường nhiều chỗ làm chưa xong bụi cuốn lên mù mịt. 

11giờ trưa, xe về đến Đông Hà,  mọi người ra bến tàu để mua vé về quê. Đồng chí quân lực Trung đoàn dặn dò:

 - Các đồng chí về quê  ăn Tết vui nhé, cho mình gửi lời chúc Tết đến gia đình. Nhớ trả phép đúng hạn. Riêng đồng chí Đại về Trạm sư đoàn nghỉ, rồi đi mua thực phẩm, đợi anh em lên Đăc K’rông, hai ngày sau quay lại.

Hai ngày, thế là mình có điều kiện tranh thủ “trốn” về nhà. Từ Đông Hà về quê chỉ 80 km, đi xe đò đến tối cũng về nhà, rồi vào cũng kịp, còn thực phẩm, gia vị, về nhà mua thoải mái.

Đợi mua vé xe hơn một tiếng, nhờ được ưu tiên bộ đội đi công tác. Một chị xếp hàng sau vừa đến lượt thì hết vé. Tay xách đồ, tay bế cháu nhỏ đang ngủ gà ngủ gật trong khổ sở. Tôi hỏi:

- Chị về đâu vậy?

- Về Đồng Hới chú à! Đợi mua vé hai ngày rồi mà khách nhiều quá, xe chạy Tết không đủ, mẹ con tui  khổ ghê!

        Cầm tờ vé trên tay, lòng phân vân, không về thì tiếc lắm, mà thấy cảnh chị ấy tội quá. Thôi! Đành lòng giúp chị ấy về quê coi như lấy phúc vậy. 

  - Thôi! Chị cứ cầm vé của em đây mà về. Có gì em mua rồi về sau.

 - Không được mô chú! Chú cứ về đi, chị chịu khó chờ, biết mần răng được! 

Nói mãi rồi chị cũng cầm vé, mừng quá chạy lên xe cho kịp. Tôi thẫn thờ mấy phút, quên bẵng hỏi tên chị.

  Hai ngày trôi qua, xe đơn vị cũng vừa về đến. Tôi cùng mấy anh em đơn vị sắp xếp hàng hóa gọn gàng, cẩn thận kẻo sợ mấy con bò giẫm đạp.

Xe chạy bon bon trên đoạn đường mới làm. Gió vi vu mơn man ùa vào ca bin, lòng thấy nhẹ nhõm, tôi cất lên bài hát: «Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây» .  Bỗng phía trước có tín hiệu cho xe dừng. Lại ông tướng nào muốn gây sự đây? Không phải, đó là xe của Sư đoàn bộ đi Đông Hà, bị thủng lốp xin cứu trợ. Thế là, hì hà hì hục, mấy anh em tháo, lắp… mất mấy tiếng.

Về đến Tiểu đoàn bộ thì trời nhá nhem. Mấy anh em lại khuân hàng, dắt bò, lợn xuống xe rồi tranh thủ cấp hàng Tết cho các đại đội. Dắt con bò buộc vào gốc cây, tôi gọi thằng Sói:

- Này, cậu chăm sóc con bò «tử tế» nhé, mình đói bụng kiếm cái gì ăn đã!  Thằng Sói “ừ” rồi đi nhanh xuống bếp dọn cơm cho mấy người cùng ăn.

Sáng mai ngủ dậy, tôi ra chỗ buộc con bò. Quái lạ! Không thấy bò đâu cả. Hôm qua mình buộc cẩn thận, còn dặn thằng Sói cho nó ăn kia mà. Giờ không biết nó đi đâu, hay là mất cắp?

Tôi gọi thằng Sói, hai đứa đi tìm quanh quất. Chẳng thấy. Tôi hỏi:

 - Thế hôm qua cậu có cho nó ăn uống gì không? Thằng Sói ư hử:  

 - Tớ quên mất, ham nghe đài đọc truyện Thủy Hử! Bây giờ tính sao đây?

Tôi và nó lên báo cáo thủ trưởng. Thủ tướng mắng cho một trận té tát : 

 - Chỉ việc buộc con bò mà cũng không xong! Các cậu biết hôm nay là ngày hai mươi mấy tết không? Tôi nhìn nó, nó nhìn tôi. Hai mươi chín tết rồi đó. Rồi nó xin lỗi thủ trưởng do nó gây nên vụ này.

Đơn vị tổ chức đi tìm. Té ra «cu cậu» đói và khát nên bứt dây ra bờ suối uống nước, bị vướng vào gốc cây. Hai đứa mừng quá ra gỡ dây và dắt về.

 Rồi ai vào việc nấy. Người làm thịt bò, làm lợn, người gói bánh… Không khí thật rộn ràng vui vẻ.

Đêm ba mươi Tết, đơn vị tổ chức hái hoa dân chủ. Những bài thơ, bài hát về mùa xuân rộn rã vang lên trong không khí đón giao thừa. Sau đó anh em quây quần bên chiếc Rađiô lắng nghe lời chúc tết của Chủ tịch nước.

 Sáng Mồng một Tết. Mọi người tập trung về hội trường đông đủ để nhận nhiệm vụ. Mặc dù làm quản lý nhưng tôi được phân công phụ trách trang trí hội trường vì có năng khiếu cắt, vẽ. Việc bếp núc giao cho thằng Sói phụ trách cùng với bộ phận hậu cần.

Trên bục sân khấu hội trường, chân dung Bác Hồ đặt ngay ngắn dưới Quốc kỳ đỏ thắm. Ở giữa phông màn nổi bật câu khẩu hiệu: «Chúc Mừng Năm Mới – Xuân Quý Hợi, 1983». Phông chữ mềm mại như đang bay múa trong gió. Cành đào, cành mai tự tạo bằng cây rừng, hoa làm bằng giấy màu ngũ sắc, cũng gần như thật, được đặt đối xứng hai bên cánh gà. Sau vách hội trường là câu khẩu hiệu: «Mừng Đảng, mừng xuân, đồng khởi ra quân, lập công thắng lợi». Đang phân vân chưa biết treo mấy giò phong lan ở đâu thì thằng Sói hớt hải chạy lên:

         - Nguy rồi, nguy rồi Đại ơi!

 - Cái gì, nguy cái gì ? Tôi hỏi

 - Nồi cơm bị khê rồi!  

Quái ! Trong kế hoạch có nấu cơm đâu? Thằng Sói nói: “Thủ trưởng bảo có mấy cân gạo Tám Xoan, nấu mời khách kẻo bạn Lào họ ăn nếp quen rồi, bây  giờ nấu cơm để đổi món”.

- Thôi ! Cậu yên tâm. Ra thay nồi cơm, vào chỗ Trưởng ban hậu cần nói với anh ấy  nhượng lại số gạo Tám Xoan, hôm qua vợ anh ấy có gửi làm quà, đang còn thơm lừng đó. Làm nhanh lên kẻo không kịp! Nó mừng quýnh, không kịp cảm ơn rồi chạy vụt đi.

Đến 10 giờ trưa, mọi việc đâu vào đấy. Mâm cỗ vừa dọn lên thì đoàn khách của Bản Đông cũng vừa đến. Những câu chào hỏi của khách và chủ vui nhộn trong khung cảnh nghiêm trang, ấm cúng. Ông trưởng bản bắt tay mọi người, miệng luôn nở nụ cười : “ Xăm-bai-đi, xăm-bai-đi (xin chào)!” Chúng tôi cũng nhiệt tình đáp lễ :“Khop chay, khop chay (cảm ơn) !”.

          Tiểu đoàn trưởng thay mặt anh em đơn vị tuyên bố lí do và chúc tết mọi người. Không khí tết thật vui vẻ, nồng ấm. Có chút hơi men, tiếng cụng ly chúc Tết, tiếng cười nói như có phần rôm rả hơn. Một cái tết tuy đơn giản nhưng đầy ý nghĩa tình đồng đội, tình quốc tế cao cả. Sau bữa tiệc là tiết mục văn nghệ tự diễn. Không có đàn, trống anh em lấy soong nồi, bát đũa khua nhịp. Tiếng leng keng, loong coong rộn rã giữa ban trưa dội vào vách núi, ai cũng thấy như mình đang tết ở quê nhà.

  

 *

Vậy mà, đã hơn 30 năm trôi qua. Mỗi khi gặp lại nhau, chúng tôi luôn nhắc về kỷ niệm cái Tết trên đất bạn Lào;  tình cảm về đời lính, tình cảm bộ đội với người dân  Lào vẫn còn in đậm trong ký ức của chúng tôi.

Tết năm nay, thằng Sói dẫn con, cháu nó về nhà tôi ăn Tết. Bên mâm cỗ, hai gia đình quây quần đoàn tụ vui vẻ. Hai đứa chúng tôi ôn lại những kỷ niệm đẹp đẽ trong những năm tháng binh nghiệp cho các con nghe. Nó nhắc lại chuyện nồi cơm khê, chuyện con bò sổng dây… một cách say sưa. Rồi nó trầm ngâm :

- Tớ kể chuyện những ngày quân ngũ, chuyện Tết trên đất bạn Lào cho các con nghe. Chúng nó hồn nhiên  hỏi lại: “Bố không kể chuyện cổ tích đấy chứ ?”. 

Nói đến đây, thằng Sói cao giọng :

- À ! Phải rồi, cậu phải viết, viết về những người lính Trường Sơn, những ngày vất vả, thiếu thốn, cơm chưa đủ no, chăn chưa đủ ấm;  rồi những cơn sốt rừng đến vàng cả mắt… vậy mà bộ đội ta đã làm nên con đường tình nghĩa Việt – Lào; viết  về kỷ niệm Tết ngày xưa, nếu không bọn trẻ bây giờ nó không biết chúng mình đã gian khổ như thế nào để chúng nó mới có cuộc sống tươi đẹp như ngày hôm nay.

Ngoài đường, những đoàn người áo quần đủ sắc màu đi trẩy hội đầu xuân vang tiếng nói, cười rộn rã. Trời rắc nhẹ những hạt mưa bụi trên cành  đào càng làm tăng thêm vẻ đẹp long lanh của cái tết thanh bình.


Xuân Mậu Tuất 2018


Nguyễn Đại Duẫn

Hội viên Hội VHNT Quảng Bình



                              


READ MORE - TẾT Ở TRƯỜNG SƠN TÂY - Nguyễn Đại Duẫn

Monday, January 17, 2022

MÙA ĐÔNG - Thơ Sông Thu

Ảnh Ngô  Lễ.


MÙA ĐÔNG

 

Tuyết không rơi phủ ở nơi đây

Chỉ có sương giăng tỏa ngập đầy

Cây cối xác xơ chồi biếng trổ

Chim muông lặng lẽ cánh lười bay

Trẻ con áo ấm mang che lạnh

Phụ lão trà nồng uống giải khuây

Ước có tri âm cùng đối ẩm

Chẳng cần men rượu cũng mềm say

 

  Sông Thu

(Mùa đông 2021)


READ MORE - MÙA ĐÔNG - Thơ Sông Thu

PHÍA BÊN KIA | CHỈ VÌ - Thơ Trần Đức Phổ

 

Nhà thơ Trần Đức Phổ

Phía Bên Kia

Phía bên kia quả núi
Là thảo nguyên xanh rờn
Phía bên kia cánh cửa
Là căn phòng tối om

Phía bên kia đêm lạnh
Là trời trong nắng hồng
Phía bên kia con chữ
Là cuộc đời mênh mông

Phía bên kia sắc đẹp
Là bí ẩn khôn cùng
Phía bên kia yếu đuối
Là lưỡi gươm đang nung

Phía bên kia hạnh phúc
Là bóng người cô đơn
Phía bên kia đổ vỡ
Là vòm trời yêu thương! 

Chỉ Vì

Chỉ vì một lần tiên đoán
Bao nhiêu mơ ước hiện ra
Tình quen dẫu người còn lạ
Vẫn tin chốn ấy thật thà.

Chỉ vì một lần mơ mộng
Trái tim trót hứa để dành
Dẫu là cá tăm chim bóng
Vẫn còn biển trời trong xanh

Chỉ vì một lần trót dại
Yêu thơ hơn cả bạc tiền
Nên đời vật vờ từ đấy
Nửa hồn trăng gió ngả nghiêng

Chỉ vì một điều hạnh phúc
Trăm năm làm kiếp con người
Chẳng ai dễ dàng bỏ cuộc
Dù là hy vọng ít thôi!

Chỉ vì tâm đầu ý hợp
(Nợ duyên không thể tình cờ!)
Dẫu là trùng dương lớp lớp
Sớm chiều dào dạt vần thơ!

--
tranducpho
ducphot946@gmail.com
READ MORE - PHÍA BÊN KIA | CHỈ VÌ - Thơ Trần Đức Phổ

XUÂN TIẾC THƯƠNG * TẠ KÝ - Thơ Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

 

Nhà thơ nhà giáo Tạ Ký.
Ảnh từ petruskyaus.net/ta-ky/

XUÂN TIẾC THƯƠNG * TẠ KÝ

Thơ Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

-


Người ra đi mà “sầu ở lại“

Tết đến xuân về lòng tê tái

Tài hoa chi lắm đất trời ghen?

Ly rựơu chia 2 nơi chợ Đũi


Buồn hơn cả pho ”tang thương ngẫu lục“

Lụt năm Thìn Trung Phước tan hoang

Từ nhà Thành Tôn qua nhà Tạ Ký

Sông Thu Bồn cuốn trôi hết mênh mông


Tết cận kề xuân tới đây?

Người thơ xưa đã khuất thơ còn đây?

100 năm đọng chút sầu Tạ Ký

Sông xa than khóc nước non này


Đôi dòng thương tiếc người bạc mệnh

Tết đến xuân về ai nhớ ai?


-

Cùng dẫn nhau đến “bứớc đường cùng"

Đối diện bờ tường một khoảng không

Cha vơ chú vếu đời trâu chó

Một đám ma qua cắc với tùng


Dẫn đầu là một phường bát âm

Ò í e nghe đến nát lòng

Người chết cuộn tròn trong chiếu mộc

Hai người khiêng chung một chiếc đòn


Theo sau là những người đi tiễn

Kẻ khóc kẻ im kẻ cúi đầu 

Loe ngoe đếm được chừng mươi mống

Lặng lẽ chìm vào nơi  phiá sau


Chung quanh toàn những người khốn khổ

Ngậm ngùi bơi lội chốn biển dầu 


Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử


*Tạ Ký (1928-1979), quê quán tại Trung Phước, Quế Sơn, Quảng Nam, nhà giáo, nhà thơ, từng giảng dạy tại trường Petrus Ký và nhiều nơi khác.

Tác phẩm đã xuất bản:

-Sầu ở lai, tập thơ.

-Cô đơn còn mãi, tập thơ.

-Quốc văn lớp 12.


Theo:  petruskyaus.net/ta-ky/







READ MORE - XUÂN TIẾC THƯƠNG * TẠ KÝ - Thơ Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

Sunday, January 16, 2022

HOA LEO HÀNG RÀO - Chu Vương Miện

 





READ MORE - HOA LEO HÀNG RÀO - Chu Vương Miện

CỘI MAI GIÀ - Truyện ngắn Lê Yên

 

Nhà văn Lê Yên

CỘI MAI GIÀ

Truyện ngắn

LÊ YÊN


Tháng chạp về, khoảng thời gian những người con xa quê nôn nao, vội vã trên đường đi làm với từng cơn gió se lạnh cuối đông. Cơn gió ngang qua con phố, luồn lách hẻm nhỏ Sài Gòn như thầm thì hối thúc… Sắp tết rồi! Trong tâm những người ly hương, ai cũng muốn trở về. Dừng lại những lo toan đời thường, hướng về cội nguồn. Về quê, sao nghe thương lạ, đâu cũng là nhà, nhưng quê chỉ có một. Xóm nhỏ nhà tôi rộn ràng hẳn lên, ai cũng sửa sang, dọn dẹp, chuẩn bị đón tết. Ông bác bên cạnh sớm mơi chăm sóc chậu Mai kiểng, ông tính thời gian để lặt lá cho Mai nở đúng theo ý mình. Hình ảnh đó làm tôi nhớ Cha với cây Mai trồng thẳng xuống đất cạnh cửa sổ phòng khách.

Không biết còn được bao nhiêu mùa Xuân, cùng cha ăn tết khi tuổi già đến rất nhanh. Người cha lúc còn trẻ minh mẫn với đôi mắt sáng quắc, tiếng nói sang sảng, cảm giác như ý chí bên trong, vượt qua thể xác để áp đảo đối phương, nhìn cha oai lắm. Tất cả mòn đi như nắng chiều. Cha ngồi trước hàng hiên lặng lẽ, đôi mắt dõi xa trở về ngày còn mẹ, cha hay nhắc: Mẹ thế này… thế kia… Với đầy ắp yêu thương. 

Hồi mẹ sanh tôi ra, vào mùa Xuân, khí trời ấm áp, bừng sáng, còn tôi cứ ốm yếu lắt lay. Được ông ngoại đặt cho cái tên xấu xí, theo như ông ngoại vậy cho dể nuôi. Cha đi lính không có nhà. Sau lần về phép, cha đặt lại tên cho tôi còn nói với mẹ: “Nó con gái, đặt tên cho dễ nghe một chút.” Vội vàng với ba ngày phép cha trở về đơn vị. Tôi nhớ mãi lời mẹ kể, đó là việc làm tốt đẹp đầu tiên cho con gái. Trong nhà chỉ mình tôi có hai cái tên. Lớn lên tôi dần quen với việc này, không còn thấy ghét cái tên không đẹp, chấp nhận nó như một phần của bản thân.

Khi tôi có trí khôn cha được về làm việc gần nhà.  Người đàn ông như thành lũy bảo vệ gia đình. Nhà đông con, mẹ tất tả, mọi việc đều nghe theo cha sắp xếp. Tánh cha kỹ lưỡng, sạch sẽ, từ cái mẩn ngứa bị con gì cắn trên chân tôi, không phải chỉ xức dầu là xong, cha làm vệ sinh, sát khuẩn cẩn thận. Chị em tôi lỡ trầy xước, chảy máu không dám kêu, vì sợ cha xử lý vết thương. Cha luôn nghiêm khắc, dạy dỗ khiến chúng tôi không dám gần dù trong bụng thương lắm.

 Quê tôi chiến tranh. Cuộc chiến khốc liệt khiến chúng tôi phải bỏ lại tất cả, cha đưa cả nhà cùng đoàn người chạy giặc. Khi tiếng súng tạm yên, quê hương tan tác, có người trở về. Gia đình tôi theo đoàn đi mãi, đến một vùng đất mới, không có lũy tre, không có đường mòn giữa lòng thôn xóm. Những con đường bàn cờ nối liền, diện tích mỗi lô gia cư giống nhau, nhà giống nhau. Chúng tôi có một quê hương thứ hai. Xây dựng, phát triển còn cần thời gian phía trước… (Về sau, quê hương thứ hai đã để lại thật nhiều thương nhớ, chị em chúng tôi đã trải qua khó khăn với ý thức tuổi lớn trên vùng đất này…)

Cha trở lại công việc của một người công chức cần mẫn. Tôi nhìn cha mình như một hình mẫu lý tưởng. Sự mạnh mẽ của cha khiến mẹ tựa chiếc bóng bên cạnh. Tôn nghiêm từ người đàn ông khiến người phụ nữ của mình trở nên thụ động… "Con cái phải học hành nghiêm túc". Có lẽ đó là cách cha thể hiện trách nhiệm, yêu thương vợ con.

Thời gian đó chỉ được mấy năm, biến động xã hội nhiều thay đổi. Cha đi học tập cải tạo. Tôi được mẹ cho đi thăm mấy lần, mỗi lần một địa điểm khác nhau. Tôi thấy cha mình già đi rất nhiều. Làn da sạm nắng, ánh mắt sáng quắc hun hút sâu mệt mỏi. Cha nắm tay mẹ, xoa đầu tôi nói: “Cố học nghe con.” Trên đường về, mẹ với đôi mắt đỏ hoe, tôi lặng yên không nói, nghe thương cha quá đổi.

Nhiều năm sau, cha về nhà. Vốn tánh cha ít nói, bây giờ càng ít nói hơn. Mảnh đất nhỏ trong lô gia cư cha gieo trồng kín khắp, Cha cần làm việc không chỉ vì mưu sinh, còn để giải tỏa... Vào rừng khai hoang đất làm rẫy, một thời gian với vụ mùa thu hoạch, khoai, sắn, bắp, đậu đầy nhà. Cha mua được cộ xe bò, con bò to khỏe theo cha mỗi ngày đi rẫy. Hồi đó ai có được con bò kéo xe là đỡ lắm. Mùa hè khi mặt trời chưa lên, chị em tôi được cha đánh thức, đoạn đường dài cho chúng tôi nằm co ngủ thêm được một giấc, cỗ xe lắc lư, gập ghềnh. Cha tự do trên nương rẫy của mình, xiềng xích nào đó bên trong bật tung khi cha chặt cây, phát cỏ.

Cha dạy chị em tôi làm, vồng khoai phải sửa lại cho đến khi thẳng tắp, đất đều hai bên. Đúng giờ mới được nghỉ. Đến giờ cơm trưa dưới bóng mát của cây rừng có tán rộng, dây leo che phủ, trên tảng đá bàng lớn, bữa ăn đơn giản kèm khoai, sắn. Lời cha nói cứ vẳng theo tôi tận sau này: “Tại sao cha bắt tụi con phải làm như vậy? Khi làm bất cứ việc gì hãy đặt tâm tư vào đó, làm tốt nhất có thể.” Trên đường về, xe bò chở đầy củi, rau trái. Chị em tôi đi bộ cùng cha trên đoạn đường dài mấy cây số. “Không được than mệt, quên nó đi.” Cha hay la như thế mỗi lần tôi nhăn mặt, rên rỉ. Cha rèn con như rèn lính. 

Chúng tôi trưởng thành, cha già đi. Những đứa con gái lấy chồng xa, mỗi năm về thăm nhà một lần vào dịp tết. Đó là khoảng thời gian mỗi ngày tôi cảm thấy thật đáng trân quý thời gian ít ỏi bên cạnh gia đình lớn… Nhìn cách cha mẹ chăm sóc nhau, cảm giác họ yêu nhau nhiều lắm! Cuộc đời mẹ đã trao trọn cho cha, thì đâu nhất thiết trong nhà phải có hai mặt trời, mẹ chọn làm cây cỏ để nhận sự ấm áp từ mặt trời của mình, đó là cha. Tình yêu giữa cha mẹ đã chuyển qua trạng thái “thương” nó lớn hơn tình yêu ở mặt thấu hiểu, cảm thông, đầy trách nhiệm. Cha pha cho mẹ ly sữa lúc mẹ ốm, nhìn thấy mẹ rùng mình khi cố gắng uống hết ly sữa, nhưng lấp lánh trên khuôn mặt đó một sự tin tưởng, hạnh phúc. Bên khung cửa sổ, cha chải tóc cho mẹ, mái tóc dài đen mượt bây giờ đã bạc màu. Tình thương giữa họ chỉ thêm chứ không bớt.

Tết truyền thống nhà tôi. Mứt gừng, bánh thuẫn, dưa món phần mẹ lo, riêng bánh tét chỉ có cha gói là nhất xóm. Mẹ chuẩn bị lá chuối, đậu xanh, thịt ba rọi làm nhân. Nếp được sàng sảy, lượm không còn một hạt sạn, nhất là những hạt sạn trắng nằm lẫn trong nếp. cha nói: “Miếng bánh trong miệng mất ngon nếu nhai trúng hạt sạn.” Ngồi trên chiếc chiếu được trải thêm miếng ni lông với đủ nguyên liệu, với một cái mẹt to, cha bắt đầu gói những chiếc bánh tét chắc nịch, tròn vo. Người đàn ông thích sự hoàn hảo làm việc gì cũng tốt nhất.

 Đêm 29 tết, cha bắt bếp, đỏ lửa. Bầu trời đêm đầy sao với tầm mắt không hạn chế như ở thành phố, gió đùa ngọn lửa cười rúc rích, cha lấy tấm tôn mỏng đập dẹp sóng rồi che quanh vì nấu giữa trời. Có một điều rất lạ, không sờ nắn được nhưng thật rõ ràng… Đó là tình thân! Vì người thân, ta có thể làm được rất nhiều chuyện. Sẻ chia, hy sinh, đau khổ. Dù thời gian có qua bao lâu với thăng trầm, vỡ nát, xin giữ lại tình thân. Có thể coi đó là nhà để trở về bên mâm cơm, ly rượu, khi ngoài kia mệt mỏi, cần được chút nghỉ ngơi.

Đêm, thức canh lửa nồi bánh tét, ánh lửa hắt lên bóng cha như cội mai già sần sùi chỉ còn vài chiếc lá với thời gian, hai mặt sáng tối cuộc đời cha đi qua quá đủ với những điều bất đắc chí. Vì gia đình, vì con cái cha đã làm tốt nhất có thể… Vẫn âm trầm nhưng yêu thương thì vô kể.

Bữa cơm đoàn viên ngày 30 trên bàn có đĩa bánh tét thật đẹp mắt, miếng bánh chắc nịch, vòng ngoài xanh màu lá chuối, thịt ba rọi tươm chút mỡ bóng khi được cắt trông hấp dẫn, một bàn thức ăn gồm nhiều món ngon đủ hương vị tết, quay quần trước bàn thờ tổ tiên, con cháu rộn ràng. Cha ngồi ở ghế trang trọng nhất, bên cạnh là mẹ. Cha lúc nào cũng áo sơ mi đóng thùng, bộ đồ tây với đôi giày tây. Bữa cơm ấm áp làm cha nhớ lại cảm giác mình là người chủ gia đình bận rộn những ngày con còn nhỏ. Sào bánh tét cha phơi từng cặp để làm quà cho các con sau tết, bánh cha gói kỹ nên lâu hư, cùng nhiều quà quê khác từ vườn nhà.

Nhiều năm sau mẹ bịnh, cha chăm sóc mẹ một thời gian. Mẹ qua đời, bên cạnh cha chỉ còn chị cả. Căn nhà trở nên quạnh quẽ hơn, sự cô đơn khi mất đi người bạn đời khiến đôi vai cha sụp xuống, tấm lưng không còn thẳng nữa. Mỗi ngày ngoài thời gian đi đến nhà thờ, cha với chiếc xe đạp, cột phía sau cây chổi, cái cuốc nhỏ, một xô nước với giẻ lau, đi ra nghĩa địa. Mộ của mẹ màu trắng nỗi bật giữa những ngôi mộ khác, người ta làm sậm màu cho sạch, cha nói: “ốp gạch trắng để còn thấy dơ mà lau.” Những đứa trẻ chăn bò khiến cha bận rộn. Nghĩa trang ở quê, không đồng nhất, ai cũng có thể làm theo ý mình. Bình hoa tím cạnh khung ảnh xao xác giữa mênh mông đất trời. Cha bên cạnh mẹ không sót ngày nào dù đã âm dương cách biệt.

Nồi bánh tét nhiều năm sau, chị chuẩn bị nguyên liệu cho cha gói. Quà tết cha dành cho các con luôn không thiếu.

 Đêm hun hút trời sâu, giữa cái lạnh se se, ngồi cạnh cha bên bếp lửa tí tách. Nghe cha kể đủ chuyện, rồi chợt ngưng lại giữa chừng nói: “Mẹ con thích ăn bánh tét phần không nhân ở hai đầu.” Tôi nghẹn lòng, quay qua ôm cánh tay gầy nói: “Cha nhớ mẹ rồi. Có muốn con đọc thơ cho cha nghe không?” “Con viết về mẹ hử? đọc đi, cha nghe.” “Vậy cha lắng nghe nha!”

 

Chiều cuối năm nhớ mẹ


Chiều cuối năm gió đông vờn tóc mẹ

Sợi hao gầy sợi rơi nhẹ bờ vai

Manh áo thô đã phai màu xuân úa

Mẹ bây giờ lo chạy bữa nuôi con

 

Chiều cuối năm mẹ trong lòng vội vã

Lo hũ gạo, hũ muối đã đầy chưa?

Lo quần áo các con vui mấy đứa

Đôi chân trần kịp dép mới mẹ mua.

 

Chiều cuối năm mẹ ngóng cha đầu ngõ

Bụi mai vàng mẹ nhặt lá chờ xuân

Xuân này nữa là bao xuân đã hết

Mẹ ôm con mà nước mắt nửa chừng

 

Mẹ ngày xưa bây giờ đâu còn nữa

Con bây giờ tóc đã nhuốm màu mây

Gió đông sang con nhớ xưa tiễn mẹ

Một chuỗi buồn lất phất giọt mưa lay

 

Đường trần đi gối mòn qua mấy bước

Đêm xuân về tròn giấc mộng cố hương

Buông tay ra rệu rã phù vân lạc

Ngày trở về đọng lại tiếng yêu thương

 

 Chiều cuối năm con bồn chồn trong dạ

 Đường về quê còn lại bóng cha già

 Chiều vợi buồn hiu hắt một nhành mai

 Cha đứng tựa ngóng con về cuối ngõ. 

Giọt nước mắt lăn trên khuôn mặt nhăn nheo, cha cúi xuống cầm thanh củi đang cháy dở, cời cho lòng bếp rộng ra lẩm bẩm “Củi này nhiều khói quá!” Lòng đêm có sâu như tình yêu cha dành cho mẹ, để nỗi nhớ cứ đầy vơi theo tháng ngày. Quay sang tôi cha bảo: “Con vô nhà nghỉ đi.” Nhìn cha một thoáng tôi chợt hiểu, cha muốn ở một mình với ký ức ngày cùng mẹ canh lửa nồi bánh tét. Tôi trả đêm cho cha, bước vào nhà với chút lo lắng… 

Thỉnh thoảng tôi nhận được thư cha viết, những dòng chữ nghiêng nghiêng rất đẹp. Trong thư ngoài những điều thăm hỏi, cuối thư vẫn là “Khi nào gia đình con về?” Cha không nghe điện thoại được vì đã lãng tai. Những cánh thư đi về khiến cha vui hơn với sự chờ đợi.

Cha như cội mai già bên cửa sổ phòng khách, cố gắng đẩy chút nhựa sống nở một vài bông hoa báo hiệu tết mới. Trong tôi những bông hoa ít ỏi đó như mùa xuân rực rỡ ngập tràn nhựa sống yêu thương một đời cha cho đi. Mong cha như cội mai già còn mãi, chờ con về ngày cuối chạp se chút gió đông./. 

Sài Gòn- Ngày giáp tết 2021 

LÊ YÊN

 


 

   

 


READ MORE - CỘI MAI GIÀ - Truyện ngắn Lê Yên

PHẠM NGỌC THÁI VỚI BÀI THƠ TRĂNG TRỐI - Việt Phương

 

 

        CHẾT CŨNG CHỈ NHƯ GIẤC NGỦ

Không than vãn, lòng chẳng hề hối tiếc
Nắm tro tàn. Thôi thế, đã là xong!
Cũng chỉ như giấc ngủ mơ màng
Đời sống vậy, đủ rồi! Em yêu mến.

Nghiệp đã làm xong, chẳng còn chi vương vấn
Tình cũng tàn, năm tháng kiếp phôi pha
Thì em ơi! Ta nằm xuống dưới mồ
Thanh thản chết, có gì đâu phải nghĩ.

Hồn thi sĩ, xin mang thơ gửi đời làm tri kỷ
Chốn trần gian sẽ ngợp áng thơ ta
Chỉ chia tay có thân xác thôi mà
Tình yêu ta còn muôn đời bất tử!

Cõi thế gian: Âu cũng kiếp đoạ đày phận số
Tiếc làm chi? Sống mãi chỉ mệt thân
Mãn nguyện rồi, cần chi nữa phân vân
Ta nằm xuống hoá mình vào “kinh thánh”!

Ta đã yêu em suốt đời trong hư ảnh
Dù có thời cũng sung sướng, đê mê
Nhưng tình em khác gì những chiếc lá bay kia?
Để năm tháng dài, hoang ru ta nơi bến lạnh.

"Tình và tiền"!
Tiếng nói đó làm trái tim đàn bà hưng phấn
Phụ nữ cả thế giới này, họ quí như nhau
Nhưng nếu ít tiền, tình cũng hóa cô liêu
Giọt lệ thi nhân,
               anh rỏ lên những trang thơ đời, làm liều thuốc ngủ.
 
                                Phạm Ngọc Thái

 

Lời bình: Trước khi từ giã cõi đời ở Gành Ráng (Qui Nhơn), thi nhân Hàn Mặc Tử đã để lại những lời trăng trối:
               Ta trút linh hồn giữa lúc đây
               Gió sầu vô hạn nuối trong cây
               Còn em sao chẳng hay chi cả
               Xin để tang anh đến vạn ngày
                                (Trút linh hồn)
      Xuân Diệu thì nhắn nhủ lại đời, rằng:
              Hãy để cho tôi được giã từ
              Vẫy chào cõi thực để vào hư
              Trong hơi thở chót dâng trời đất
              Cũng vẫn si tình đến ngất ngư
     Pushkin thi hào Nga vĩ đại đã viết:
              Nơi đàn thơ thiêng liêng ta không chết!
              Hồn ta còn sống mãi chẳng tiêu tan
              Và trên đời dù chỉ còn một thi nhân
              Danh tiếng ta vẫn còn vang mãi mãi…
     “Chết cũng chỉ như giấc ngủ” của Phạm Ngọc Thái, cũng thuộc dạng bài thơ trăng trối như thế!
             Hồn thi sĩ, xin mang thơ gửi đời làm tri kỷ
             Chốn trần gian sẽ ngợp áng thơ ta
             Chỉ chia tay có thân xác thôi mà
             Tình yêu ta còn muôn đời bất tử!
                                        (đoạn thơ ba)
     Thi nhân thản nhiên để chuẩn bị cho mình đi vào cõi vĩnh hằng. Bài thơ đạt đến sự chí lí về cả nghĩa và tình. Ngay mấy câu mở đầu, ta thấy tâm trạng nhà thơ coi cái chết rất nhẹ nhàng:
            Không than vãn, lòng chẳng hề hối tiếc
            Nắm tro tàn. Thôi thế, đã là xong!
            Cũng chỉ như giấc ngủ mơ màng
            Đời sống vậy, đủ rồi! Em yêu mến.
     Mặc dù anh viết: Nắm tro tàn. Thôi thế, đã là xong! /- Nghe có vẻ như rũ bỏ? nhưng không phải. Sở dĩ lòng Người sẵn sàng ra đi thanh thoát vậy, ở trong đoạn thơ hai đã giải thích:
             Nghiệp đã làm xong, chẳng còn chi vương vấn
             Tình cũng tàn, năm tháng kiếp phôi pha
             Thì em ơi! Ta nằm xuống dưới mồ
             Thanh thản chết, có gì đâu phải nghĩ.
    Vâng, thêm một lần nữa, Phạm Ngọc Thái đón nhận cuộc đi vào vĩnh cửu… thật ung dung. Bởi anh biết, sự nghiệp thi ca cùng tên tuổi anh để lại cho đời... sẽ không bao giờ chết. Nhà thơ có nằm xuống dưới mồ, thì đâu phải “tất cả đã là xong”? – Như Pushkin từng nói:
               Nơi đàn thơ thiêng liêng ta không chết!  
    Thi nhân coi cuộc ra đi đó chỉ như là một giấc ngủ mơ màng. Bài thơ đi sâu lý giải về đời, mà kinh phật từng dậy là “cõi tạm”:
              Cõi thế gian: Âu cũng kiếp đọa đày phận số
              Tiếc làm chi? Sống mãi chỉ mệt thân
              Mãn nguyện rồi, cần chi nữa phân vân
              Ta nằm xuống hoá mình vào “kinh thánh”!
                                               (đoạn thơ thứ tư)
     Một quan niệm phật giáo. Nói về hai chữ “kinh thánh” – Trong bài “Khúc xuân tuổi bảy mươi”, tác giả cũng viết:
               Đi giữa mùa xuân
                                  đã thấy vĩnh cửu ở trên đầu 
               Cõi Phật rước ta về đất thánh…
     Nghĩa là, cuộc đi này của thi nhân không phải để… chết? Mà Người hóa mình vào “kinh thánh” đó thôi!
     Cuộc đời gồm cả “tình yêu và cuộc sống” – Bài thơ tràn sang lĩnh vực “tình”:
                Ta đã yêu em suốt đời trong hư ảnh
                Dù có thời cũng sung sướng, đê mê
                                               (câu 17-18) 
     Trong đời thường từ tư tưởng, tình cảm đến đời sống thực? Ai cũng quan tâm đến tiền bạc. Nhưng với người phụ nữ thời hiện đại thì, tiền bạc chỉ đạo họ về mọi phương diện: Kể cả lĩnh vực... tình! Cái quan niệm “một mái nhà gianh, hai trái tim vàng” cổ xưa lắm rồi! Thời nay, tuy cũng có nhưng rất hiếm.Tình thì tình, họ yêu trước hết phải là… tiền! “tiền” gần như là một chủ nghĩa, một lý tưởng sống của người phụ nữ bây giờ. Bởi vậy,  những chàng thi sĩ với tâm hồn lãng mạn, mộng mơ, chỉ giàu tình mà nghèo tiền? Rất dễ bị rơi vào “bến cô liêu”! Thi nhân viết:
                "Tình và tiền"!
                Tiếng nói đó làm trái tim đàn bà hưng phấn
                 Phụ nữ cả thế giới này, họ quí như nhau
                 Nhưng nếu ít tiền, tình cũng hóa cô liêu!
     Tức là, những tình yêu chỉ xây dựng trên nền tảng theo “tiếng gọi của trái tim” như của các nhà thơ, hầu hết trước sau cũng… tan vỡ! Nên Người mới than:
                 Nhưng tình em khác gì những chiếc lá bay kia
                 Để năm tháng dài, hoang ru ta nơi bến lạnh…
                                                               (câu 19-20)
     Thơ tình Phạm Ngọc Thái phần lớn được sáng tác từ các mối tình xưa. Thi nhân sống lại trong thơ bằng những kí ức của tình yêu.
                 Anh trở về như Na-pô-lê-ông
                                               Đi tù ngoài hoang đảo
                 Ông dành thời gian viết hồi kí thuở tung hoành
                 Anh lấy tình xưa xây giấc mộng thi nhân
                 Chỉ tiếc nuối tình sao ngắn ngủi.
                                              (Vĩnh biệt cuộc tình)
     Anh đã nói như vậy. Cái thời mà người chồng là một nhà thơ nghèo, được bà vợ vẫn thủy chung như vợ của Tú Xương, Nguyễn Khuyến? Là chuyện rất... xưa. Thưở ấy, Tú Xương tự than trong bài thơ “thương vợ” nổi tiếng của ông rằng:
                 Quanh năm buôn bán ở mom sông,
                 Nuôi đủ năm con với một chồng.
                 Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
                 Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
 
                 Một duyên hai nợ âu đành phận,
                 Năm nắng mười mưa dám quản công.
                 Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
                 Có chồng hờ hững cũng như không!
     Giờ, xin phân tích đôi nét về quan hệ giữa đời sống thực của Phạm Ngọc Thái với thi ca: Tôi không biết nhiều đến hoàn cảnh gia đình trong mối quan hệ vợ chồng của anh? Nhưng xét nghĩ, với một con người đam mê văn chương, nhất là thơ ca như anh! Để có được một gia đình yên ấm ở xã hội hiện đại này, quả thật là khó !? Nghe nói, sau này tuy vẫn sống với nhau nhưng hai người thường hay xẩy ra chuyện xích mích về chuyện tiền nong - Mặc dù, cũng có một giai đoạn tác giả sống rất êm ái, yên ấm với gia đình. Chẳng thế, thời kì đó anh đã sáng tác cả một tập thơ nói về vợ con: Đó là tập “Có một khoảng trời” xuất bản năm 1990, sau một chuyến công tác ở Đức về. Có những bài thơ rất hay nói về người vợ trẻ của mình, như bài “Tiếng hát đời thường”:
                  Trong một phố nghèo có người vợ trẻ   
                  Vẫn đón con đi, về... như thường lệ  
                  Vóc em thanh cũng thể mùa xuân 
                  Đôi mắt em: Đôi mắt ấy màu đen. 
     Hay là:
                   Miền đã theo tôi vào cuộc Trường Sơn
                   Hành quân rừng già, võng treo sườn gió...
                   Ai biết chiều nay người vợ trẻ
                   Đứng mong chồng bên đứa con thơ
                   Giọt lệ cháy xót lòng mang sắc xanh thu!
     Rồi bài “Có một khoảng trời”:
                   Cái khoảng trời, khi anh và em đã cách xa
                   (xa thật đấy mà cũng gần thật đấy)
                   Trong đau đớn anh hoá bờ cát cháy
                   Thổi về phương em giữa chiều gió nổi
 
                   Hạt vô tư còn lại… những tàn tro!
     Tình cảm của nhà thơ với gia đình, quê hương - Đặc biệt với người vợ, rất đẹp! Anh không ngớt lời ca ngợi qua một số bài khác nữa: Nỗi trăn trở người đi tìm vàng, Bài ca xứ sở, Trăng quê, Mùa tuyết quê người…
     Song cũng phải nói: Giai đoạn này tác giả còn đang công tác ở ngành ngoại thương, lại đi nước ngoài - Cuộc sống chắc cũng khá! Chưa bị mối quan hệ về tiền bạc chi phối nhiều, như khi anh đã lao hết mình vào sự nghiệp thơ phú, văn chương.
     Mảng sáng tác duy nhất anh nói về người vợ, chỉ ở mỗi tập thơ đầu tay “có một khoảng trời” ấy! Còn cả một khối lượng hàng trăm bài thơ tình viết sau này, không thấy nhà thơ nói về người vợ của mình nữa. “em” trong các bài thơ tình của anh, toàn là em của cái thuở mộng mơ xưa... hoặc cảm xúc với một phụ nữ nào đó, không phải là vợ.
     Bởi vậy, tất cả thơ tình Phạm Ngọc Thái hoàn toàn xuất phát từ sự rung động trái tim (ngoài phạm trù tiền), cảm xúc mà thành, cho dù tan vỡ vẫn đẹp!
     “Chết cũng chỉ như giấc ngủ” không chỉ là một bài thơ có tính tự sự bản thân? Nó đã mang cả ý nghĩa thời đại, trong mối quan hệ giữa “tình và tiền” của đời sống xã hội. Phản ảnh nhân sinh quan tác giả.
     Bài thơ ôm trùm rất nhiều mặt, giữa riêng tư với tính hiện thực xã hội. Khúc chiết và hay. Có những câu thơ đột biến, như: 
                   Ta nằm xuống hoá mình vào “kinh thánh”!
     Huyền bí mà hiển linh. Nhiều người cho rằng, câu thơ: “Nhưng nếu ít tiền, tình cũng hóa cô liêu” là hay nhất! Để rồi tác giả buông một câu tự xoa dịu lòng mình:
                   Giọt lệ thi nhân,  
                          anh rỏ lên những trang thơ đời làm liều thuốc ngủ.
      Bài thơ đã kết thúc ở đó!
 
                                                 VIỆT PHƯƠNG
                                                                                          (trích tập “Cánh đại bàng của thi ca đương đại VN” 2019)
READ MORE - PHẠM NGỌC THÁI VỚI BÀI THƠ TRĂNG TRỐI - Việt Phương

THUYỀN TRÔI - Nhạc: Lê Hữu Nghĩa - Lời: Sông Thu - Giọng ca: Đinh Huyền

READ MORE - THUYỀN TRÔI - Nhạc: Lê Hữu Nghĩa - Lời: Sông Thu - Giọng ca: Đinh Huyền