Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, January 26, 2026

ĐÁNH THỨC THÁNG GIÊNG - Thơ Nguyễn An Bình


 

 NGUYỄN AN BÌNH

ĐÁNH THỨC THÁNG GIÊNG

 

Giêng hai biêng biếc tầm xuân

Ngõ hoa vừa chợt nhú mầm trước sân

Sang mùa sao lại lần khân

Khiến đàn sáo nhỏ tần ngần qua sông

 

Giêng hai ngày mỏng cánh chuồn

Để con bướm đậu cải ngồng vàng hoa

Dỗ dành chi hạt mưa sa

Nghe thanh âm ngọt cỏ hoa thơm nồng.

 

Giêng hai chạm mắt môi hồng

Áo em tấm lụa bềnh bồng trôi đi

Non tơ lộc nõn xuân thì

Nghe em – Giữ lại nhu mì làm duyên.

 

Giêng hai ai nỡ bắt đền

Nốt trầm xao xuyến thuyền quyên gọi mùa

Xin đừng gột bỏ giấc mơ

Để tôi thao thức đêm vừa ra giêng.

 

15/11/2022

N.A.B.
luongmanh2106@gmail.com

 



 


READ MORE - ĐÁNH THỨC THÁNG GIÊNG - Thơ Nguyễn An Bình

VỀ MIỀN HƯƠNG NGỰ - BẢN HÒA CA TRỮ TÌNH ĐẦY XÚC CẢM - Hoàng Thị Bích hà


 


VỀ MIỀN HƯƠNG NGỰ

 - BẢN HÒA CA TRỮ TÌNH ĐẦY XÚC CẢM

 

Tập thơ Về Miền Hương Ngự do Hội thơ xứ Huế tuyển chọn và biên tập, Nhà xuất bản Hội Nhà văn (tháng 12 năm 2025) ra đời như một cuộc hò hẹn thi ca đầy duyên nợ. Với sự góp mặt của 109 tác giả từ mọi miền Tổ quốc và cả từ hải ngoại với 327 bài thơ.

Về Miền Hương Ngự không chỉ là một ấn phẩm văn học mà còn là một bản hợp xướng trữ tình đa sắc cùng ngân lên một nỗi niềm chung là tình yêu Huế, yêu người, yêu quê hương đất nước và những giá trị bền sâu của đời sống tinh thần Việt, không đơn thuần là một tuyển tập thơ, mà tựa như một cuộc hành hương tinh thần về với Huế-xứ sở núi Ngự Sông Hương của những tâm hồn yêu thơ và yêu Huế. Tập thơ lấy cảm hứng trung tâm từ xứ Huế và mở rộng ra những tình cảm thiêng liêng của con người: tình mẹ, tình yêu, tình bằng hữu và tình yêu quê hương đất nước.

Về Miền Hương Ngự gợi mở một không gian vừa cụ thể vừa biểu tượng. “Hương Ngự” là tên gọi gắn với sông Hương - núi Ngự, hai biểu tượng văn hóa của Huế, mà còn là miền tâm tưởng, miền ký ức, miền trở về trong sâu thẳm tâm hồn người Việt. Chữ “về” trong nhan đề mang sức nặng tinh thần đặc biệt: đó là trở về cội nguồn, về với yêu thương, về với những gì thân thuộc nhất. Vì thế, đọc tập thơ này, người đọc không chỉ “đi” qua Huế bằng thị giác, mà còn “sống” trong Huế bằng cảm giác, bằng ký ức, bằng rung động tâm linh. Huế hiện lên trầm mặc, dịu dàng, lặng lẽ mà sâu xa - đúng như căn cốt văn hóa của vùng đất cố đô.

Về Miền Hương Ngự là về với không gian thi ca, một không gian Huế đa chiều và sống động. Huế hiện lên không chỉ với vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc vốn là chất liệu muôn thuở, mà còn rất đỗi gần gũi, thiết tha, có cả nét u buồn của thành quách rêu phong lẫn niềm vui hội ngộ của những tâm hồn thi ca.

Mạch nguồn xuyên suốt và cũng là điểm nhấn của tập thơ chính là tình yêu quê hương trong những hình ảnh thân thuộc, bình dị. Các tác giả không chỉ viết về những danh thắng, mà còn trân quý từng con đường, bến sông, xóm làng. Đó là cây cầu “lộng vàng” ở Kim Long (Hải Đăng), là dòng sông An Lỗ “chìm nổi lỡ bồi” gắn với “bóng mẹ tôi” (Đỗ Văn Tri). Đó là nỗi niềm tự hào, yêu thương khi “kể sao hết những tên làng tên đất” (Trần Giải) hay niềm vui trước cảnh “ruộng đồng bát ngát thắm tình duyên quê” (Trùng Trùng Vân). Chất liệu đời sống này khiến thơ trở thành bản tình ca về quê hương, xứ sở.

Ban Biên Tập mà người cầm trịch “thuyền trưởng” Nguyễn Ngọc- nhà thơ Hà Thi đã tạo nên sân chơi bổ ích là Hội thơ xứ Huế và hình thành sợi dây kết nối hồn quê và tình thi hữu: gắn kết cộng đồng những người yêu thơ tạo nên tập sách. Câu thơ “Cuộc đời tươi đẹp bao nhiêu / Hãy cho nhau để nhận nhiều niềm vui” (Hoài Xuân) như một thông điệp đẹp về sự sẻ chia. Tập thơ còn phản ánh sự giao thoa của thời đại, khi những cuộc hội ngộ bắt đầu từ việc kết nối qua fb: Điều đó cho thấy tình yêu Huế, yêu thơ có sức mạnh kết nối vượt qua mọi khoảng cách không gian và phương thức giao tiếp.

Huế là trung tâm cảm hứng trữ tình chủ đạo của tập thơ về miền Hương Ngự.

Vượt lên trên không gian địa lý cụ thể, Về Miền Hương Ngự còn là hành trình đi vào miền xúc cảm của tâm hồn - nơi lưu giữ những tình cảm thiêng liêng và sâu kín nhất và có sức đồng vọng rộng lớn.

Phần lớn các bài thơ trong tuyển tập dành cho Huế - bởi Về Miền Hương Ngự mà còn là linh hồn của cả tập sách. Huế trong thơ không chỉ là địa danh, mà là một “nhân vật trữ tình”, một người tình, một cố tri, một miền thương nhớ day dứt khôn nguôi.

Huế được gọi tên bằng nhiều cung bậc:

“Huế trầm mặc gọi tên anh trở lại/ Nơi cố hương mãi mãi chốn tìm về”

(Chờ người nơi miền Hương Ngự - Hà Thi)

Huế là lời gọi thầm thì của ký ức, là nơi “mãi mãi chốn tìm về”. Ở đó có thôn Vỹ, có trăng quê, có miền Hương Ngự vừa thực vừa mộng. Cũng có khi Huế trở thành lời mời gọi thân tình: “Bạn ơi từ Bắc - Nam xa ngái/Về Huế cùng tôi một sớm mai.”

(Huế mời bạn về - Trần Quốc Hòa)

Lời thơ mộc mạc, chân tình, như tiếng gọi bạn bè bốn phương cùng về chung một mái nhà văn hóa. Huế trong thơ là nơi hội tụ, nơi kết nối những tấm lòng xa gần.

Huế còn là hoàng hôn trên đồi Vọng Cảnh, là hư ảnh câu hò, là tình yêu xứ sở thầm lặng giấu trong tim:

“Mặt trời lặn phía sau đồi Vọng Cảnh/ Hoàng hôn buông trong hư ảnh câu hò”

(Về cố đô - Ngàn Thương)

Huế hiện lên qua thiên nhiên, qua âm thanh, qua chiều sâu cảm xúc. Cảnh và tình hòa quyện, tạo nên nét đặc trưng của thơ Huế: ít phô trương, nhiều lắng đọng. “Huế bây chừ vẫn rứa/ Trầm mặc bóng thời gian (Huế bây chừ vẫn rứa- Hoàng Thị Bích Hà)

Huế của đời sống thường nhật gần gũi và dịu dàng thể hiện qua thơ. Huế không chỉ là của di tích hoàng thành, lăng tẩm. Huế trong tập thơ còn rất đời, rất người. Đó là chè Huế, là cơn mưa, là chút bình yên được “giấu kỹ” để dành tặng cho người thương:

“Về với em nếm thử chút chè đông

Em giấu chút bình yên đem giấu kỹ

Để tặng cho người thương Huế ở trong tim.”

(Chè Huế – Lê Thị Phương Loan)

Ở đây, Huế không xa cách, không cổ kính một chiều, mà gần gũi như một bàn tay dịu dàng, như một tách chè ấm giữa lòng người. Cũng có Huế mùa đông mưa lạnh, gió buốt, nhưng chính cái lạnh ấy lại làm sâu thêm nỗi nhớ:

“Huế mùa đông lạnh lại mưa

Gió mang buốt giá cho vừa nhớ nhung.”

(Trần Thiện Tuấn)

Giọng Huế đi vào thơ bằng âm thanh:

“Tiếng rao đêm cũng nhẹ nhàng đến thế.”

(Huế trong tôi -Nguyễn Hữu Quyết)

Huế vì thế không chỉ được nhìn, mà còn được nghe, được cảm, được sống trong từng nhịp thở đời thường. Những bài thơ không ồn ào, không kịch tính, mà thiên về sự thủ thỉ, bền bỉ, thủy chung.

Tình yêu đôi lứa và tình bạn đời cũng được thể hiện với nhiều cung bậc. Có nỗi xót xa, ngậm ngùi nhưng cũng có sự dịu dàng, thủy chung gửi gắm qua những kỷ vật tinh thần giản dị: “Em giấu chút bình yên… / Để tặng cho người thương Huế…” Tình cảm ấy hòa quyện với tình yêu Huế, trở thành một phần không thể tách rời của ký ức và hiện tại.

“Thương nhớ Huế và em luôn ái mộ/ Nghìn câu thơ cứ dẫn độ anh về.”

(Hẹn rồi với Huế và em- Phạm Như Tý)

Huế ở đây gắn liền với “em” - người con gái, người tình, người tri âm. Yêu Huế cũng là yêu người, và ngược lại. Không gian tình yêu vì thế mang màu sắc văn hóa, thấm đẫm tinh thần cố đô.

Một mảng thơ đặc biệt xúc động trong tuyển tập là thơ viết về Mẹ- miền thiêng liêng của cảm xúc

Đây là những bài thơ giản dị, ít trau chuốt kỹ thuật, nhưng giàu cảm xúc chân thành, mang sức lay động sâu xa.

“Mẹ về bóng đổ chiều tà/ Nghiêng nghiêng bóng mẹ áo hoa ngả màu.”

(Mẹ tình yêu thương con -Nguyễn Văn Ân)

Phần thơ về mẹ là những nốt trầm thấm đẫm xúc động. Hình ảnh người mẹ luôn gắn với bóng chiều tà, và nỗi nhớ thương da diết. Hình ảnh người mẹ hiện lên qua bóng chiều, qua dáng nghiêng, qua màu áo phai - tất cả đều thấm đẫm thời gian và hy sinh. Cũng là nỗi nỗi đau đáu thương nhớ mẹ trong mùa đông lạnh nơi quê nhà.

“Đông về lạnh mái nhà xưa/ Thương gầy bóng mẹ đong đưa liếp mành.”

(Thương mẹ- Nhạn Nhạn)

Tình mẫu tử được ví với hương sen Tịnh Tâm “thơm ngát”, một “trời thương nhớ thâm ân” (Hoàng Xuân Thảo), và đặc biệt tha thiết trong ký ức về lời ru “à ơi” bên “bốn tao nôi” (Hạ Uyển). Những bài thơ về mẹ trong tập không chỉ là lời riêng của từng tác giả, mà còn chạm đến ký ức chung của nhiều thế hệ, nhất là trong không gian Huế - nơi đạo hiếu, tình thân luôn được trân trọng. Những bài thơ này đã chạm đến mạch nguồn chung của tình cảm bạn đọc dù viết trong cảm hứng Huế.

Tình quê, tình đất nước- Chiều rộng của cảm hứng trong tập thơ. Bên cạnh Huế, tập thơ còn mở rộng không gian về các làng quê, miền đất, từ Tam Giang, Kim Long, Hạ Lang… Những địa danh hiện lên không chỉ như tên gọi, mà như những mảnh hồn quê. Tình quê trong thơ mộc mạc, chân phương, gắn với ruộng đồng, bến nước, hàng tre, nhưng lại mang sức gợi lớn lao về cội nguồn dân tộc.

Về Miền Hương Ngự không phải là một tập thơ tìm tòi cách tân hình thức hay phá vỡ cấu trúc truyền thống. Ngược lại, tập thơ đi theo dòng thơ trữ tình truyền thống, coi trọng cảm xúc, nhạc điệu, hình ảnh quen thuộc. Nhưng chính sự “không cầu kỳ” ấy lại tạo nên giá trị giản dị mà chạm vào lòng người bằng sự chân thành.

Việc quy tụ đông đảo tác giả trong và ngoài nước cho thấy sức lan tỏa của Huế như một miền văn hóa - tâm linh chung. Dù mỗi người một giọng, một cách biểu đạt, nhưng tất cả đều gặp nhau ở điểm chung: tình yêu tha thiết với con người, với cố đô, với những giá trị nhân văn sâu bền.

Có thể nói, Về Miền Hương Ngự là một cuộc trở về đầy ý nghĩa của thi ca. Trở về với Huế với miền đất trầm mặc và thơ mộng, trở về với mẹ, với tình yêu, với quê hương và rộng hơn, trở về với những gì tinh khiết nhất trong tâm hồn con người.

Về Miền Hương Ngự là tác phẩm thứ 6 - một thành công đáng ghi nhận của Hội thơ xứ Huế. Tập thơ không chỉ là một món quà tinh thần dành cho những người con xứ Huế, mà còn là một cánh cửa mở rộng, mời gọi bạn đọc từ mọi nơi “về” để cảm nhận, để yêu thương và để thấu hiểu một vùng đất giàu chất thơ và nhân văn. Nó như một bản giao hưởng đa thanh, nơi tiếng lòng của 109 tác giả hòa quyện, tạo nên một khúc ca đẹp về Huế, về tình mẹ, tình yêu và tình người. Qua những vần thơ ấy, Huế không chỉ là một địa danh trên bản đồ, mà đã trở thành một không gian tâm tưởng, một điểm tựa tinh thần, một miền ký ức đẹp đẽ mà ai đã một lần “về” thì mãi không thể quên. Tập thơ xứng đáng là một dấu mốc ý nghĩa trong hành trình lưu giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa, tinh thần của cố đô Huế ra với cộng đồng rộng lớn hơn.

Về mặt nghệ thuật có sự hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại, tuyển tập cho thấy sự đa dạng trong cách thể hiện. Nhiều bài vẫn giữ cấu trúc lục bát, song thất lục bát hay thơ bốn chữ, năm chữ truyền thống, tạo nên âm hưởng nhẹ nhàng, sâu lắng, rất phù hợp với chất Huế. Ngôn ngữ thơ phần lớn trong sáng, giàu hình ảnh và có tính biểu cảm cao. Các tác giả khéo léo vận dụng những hình ảnh biểu trưng của Huế (sông Hương, núi Ngự, hoa phượng, bóng mẹ, chiều tà…) để xây dựng một hệ thống biểu tượng xuyên suốt, vừa quen thuộc vừa gợi cảm.

Bên cạnh đó, cũng có những tìm tòi trong cách diễn đạt, đưa vào những liên tưởng mới mẻ, cách nói của đời sống đương đại, tạo nên sự trẻ trung, sinh động. Sự góp mặt của nhiều tác giả từ các vùng miền khác nhau cũng mang đến những góc nhìn phong phú, khiến hình tượng Huế không bị bó hẹp trong một khuôn mẫu cố định.

Cái chất “trầm mặc”, “buồn” vẫn là một nét phổ biến, tạo nên chiều sâu tâm trạng cho tập thơ. Đó là “Huế buồn như câu thơ bỏ ngỏ” (Ngân Hà). Cái trầm buồn thấm đẫm chất thơ, một nỗi niềm hoài vọng, một sự dịu dàng, “cũng dịu dàng vì có bóng em tôi” (Ngân Hà). Không gian ấy được gọi tên qua những địa danh đã trở thành biểu tượng: sông Hương, núi Ngự, thôn Vỹ, đồi Vọng Cảnh, Lăng Cô, hoàng thành... Mỗi địa danh gợi mở một lớp lang cảm xúc: sự lắng đọng bên dòng sông Hương, nỗi niềm hoài cổ nơi lầu son gác tía, hay nỗi nhớ “âm thầm” của biển Lăng Cô. Hình ảnh “Mặt trời lặn phía sau đồi Vọng Cảnh / Hoàng hôn buông trong hư ảnh câu hò” chính là một bức tranh tâm trạng điển hình, nơi thiên nhiên và lòng người hòa làm một.

Tuy nhiên, bên cạnh vẻ trầm tư, Huế trong tập thơ này cũng rất sống động, “xôn xao” và mời gọi. Giọng điệu chủ đạo là tiếng gọi thiết tha về với Huế. Huế còn là nơi của những khoảnh khắc đời thường đẹp đẽ và ấm áp: “Đón thu về ngõ phố xôn xao” (Ái Khanh), “Sáng nay Phượng đỏ vương vương lối mòn” (Nguyễn Hữu Tín). Mùa hè của Huế đi vào thơ Văn Chung rất tươi trẻ và yêu đời.

“Gửi Hạ nắng tháng Tư/ Nồng nàn và rực rỡ/ Bằng lăng hoa tím nở/ Phượng hé nụ hồng phơi”. Hình ảnh Huế được cảm nhận qua những giác quan tinh tế: vị ngọt thanh của “chén chè đông” có “cơn mưa ướt dầm nằm ở đó” hay thanh âm “giọng Huế dịu êm”, “tiếng rao đêm” nhẹ nhàng . Cách tiếp cận này khiến Huế không còn là một phông nền lịch sử xa xôi, mà là một không gian sinh hoạt, một thực thể văn hóa có hơi thở, có hương vị, có âm thanh, chạm được vào trái tim người đọc.

Tập thơ không chỉ dành cho những ai yêu Huế, mà cho tất cả những ai từng có một miền thương nhớ để quay về. Trong nhịp sống hiện đại nhiều xao động, Về Miền Hương Ngự giống như một khoảng lặng cần thiết, để người đọc lắng nghe chính mình, lắng nghe tiếng gọi âm thầm nhưng sâu lắng.

Đó chính là giá trị sâu xa mà tuyển thơ này mang lại cho đời sống văn học và cho bạn đọc yêu thơ hôm nay.

Saigon, ngày 12/01/2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

READ MORE - VỀ MIỀN HƯƠNG NGỰ - BẢN HÒA CA TRỮ TÌNH ĐẦY XÚC CẢM - Hoàng Thị Bích hà

TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG: Em đi chợ sớm / Lời hứa của mùa xuân / Hoa vàng lắm, cỏ tơ non xanh lắm / Anh tìm em, cơn mưa ban trưa

 

Tranh của ChatGPT

Em đi chợ sớm


Những chiếc lá bên đường đi đến chợ

Em gánh hàng qua, gió mẩy rung rung

Trong tất bật, chợt cồn cào nỗi nhớ

Cho gánh trên vai, xoay trở buông chùng


Tia nắng đầu ngày, đong đưa lóng lánh

Như trêu đùa, trên mỗi bước chân em

Nghe khắc khoải những tháng ngày cô quạnh

Một nỗi niềm riêng, ẩn ức phơi đêm…


Chợ đường xa, sao gần thêm nỗi nhớ

Không biết người ở đó có an nhiên

Qua xóm nhỏ, chuyện đò giang cách trở

Không gặp nhau, lòng day trở muộn phiền


Buổi chợ sớm, ngại ngùng lời thăm hỏi

Khách hàng quen, biết là xóm láng giềng…

Người trả giá, sao ngập ngừng không nói

Cứ bâng quơ, đưa đẩy nỗi niềm riêng


Dõi mắt xa xăm, cái nhìn lơ đễnh

Người khách quen, cười lặng lẽ cảm thông

Cô chủ nhỏ, hình như ai rù quến

Mà sớm mai trong, đôi má ửng hồng…



Lời hứa của mùa xuân


Xuân về chưa em? trên đất Khu Lê

Anh nhớ tháng này Sài hồ nở rộ

Xào xạc gió, cánh rừng nghiêng lá đổ

Dốc cát xa, cháy bỏng lối đi về


Đồng rẫy cuối mùa, trống vắng quạnh hiu

Thảng thốt tiếng chim “bắt cô trói cột”

Sao gọi mãi mà không ai thưa thốt

Chỉ con Mang gọi bạn, “tác” khan chiều


Hoa Sò đo từng cánh mỏng rơi rơi

Bên vạt rừng thưa, khô cong nỗi nhớ

Góc rừng đó, có người đi kẻ ở

Một buổi tiễn đưa, hoa cỏ rối bời…


Sóng gợn lăn tăn, mặt Bàu trong xanh

“Con Dông” (*) lên, giương mắt tròn ngơ ngác

Rơi cuống quýt, tiếng rừng khô xào xạc

Lá sen xanh bung ngó biếc an lành


Chiều chiến khu xa mặt trận giành dân

Mùa hiệp định, trẻ trai ra phía trước

Bao máu xương cho bây giờ có được

Trời Khu Lê xanh biếc, nắng trong ngần…

______

(*) Tháng mười Dông rạp

      Tháng chạp Dông lên,



Hoa vàng lắm, cỏ tơ non xanh lắm


Gió mơn man, giọt sương sớm rung rinh

Run lẩy bẩy, cánh bướm non vờn bay chấp chới


Em vội bước qua, còn ngoái lại ngắm nhìn

Cơn gió trở, cuốn lay tình xao động

Bước ngập ngừng, chợt đứng lại lặng thinh…



Anh tìm em, cơn mưa ban trưa


Bất chợt nhớ một bài thơ cũ

Qua lối mòn dĩ vãng phân vân


Cơn mưa ướt sũng những lời ẩn dụ

Ngày xưa…

Để một mình anh đứng lại tần ngần

   Lê Thanh Hùng

   Bắc Bình, Lâm Đồng  

    lethanhhung4625@gmail.com
READ MORE - TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG: Em đi chợ sớm / Lời hứa của mùa xuân / Hoa vàng lắm, cỏ tơ non xanh lắm / Anh tìm em, cơn mưa ban trưa

TRANG THƠ VĂN ĐOÀN: Xuân quê Hương / Câu Nhi văn vật ngàn năm / Dòng sông quê mẹ


 

Cánh đồng làng Câu Nhi. Ảnh: Lê Chí Dũng

 

XUÂN QUÊ HƯƠNG

 

Xuân về rộn rã bao ngày

Trời xanh mây trắng tràn đầy sắc hoa

Ô Lâu nước chảy hiền hòa

Lững lờ soi bóng mặn mà quê hương.

 

Mênh mang bãi sắn, ruộng nương

Cánh cò chao liệng vấn vương nắng chiều

Làng Câu Nhi đẹp mỹ miều

Nhân dân no ấm, tình yêu vươn dài.

 

Tôn vinh bậc chí nhân tài

Bùi Dục Tài đó, sáng ngời sử xanh

Nghĩa trung một dạ thanh danh

Giúp dân, giúp nước lòng thành sắc son.

 

Trần Hoàn tiếng hát véo von

Nhạc tình lan tỏa nước non ân tình

Xuân về rộn rã thanh bình

Người người đón Tết, vui mừng tương lai.

 

Cầu xây nối những bờ vui

Bắc ngang duyên dáng, sáng ngời niềm tin

Quê hương rộn rã thanh bình

Xuân về nắng ấm, ân tình bao la...

 

 

CÂU NHI VĂN VẬT NGÀN NĂM

 

Khoảng đầu thế kỳ mười lăm

Bùi Trành cùng bạn rời làng quê xa.

Hai mươi mốt vị bôn ba

Dừng chân đất tốt, an hòa dựng xây.

 

Mười hai họ lập từ đây,

Câu Lãm tên gọi đổi thay xóm làng.

Bùi, Huỳnh, Nguyễn, Phạm khai hoang,

Trần, Lê, Đào, Đỗ, Trương, Phan, Đặng, Đề...

 

Xây đường phá núi đắp đê

Ruộng sâu đồng cạn đi về có nhau.

Đồng lòng hợp lực trước sau

Một vùng trù phú mạnh giàu yêu thương.

 

Chín xóm sum họp ven đường,

Yên, Cang, Quý, Phó, Chùa, Đồng một bên.

Thượng Nguyên đồi núi êm đềm

Xóm Hòa nghĩa địa lại thêm Hạ Đồng.

 

Trải bao năm tháng bão giông,

Câu Nhi bền vững, vun trồng nghĩa nhân.

Truyền lưu văn hóa cổ tân

Đình, chùa, miếu vũ dần dần tôn trang.

 

Hiếu trung giữ trọn vẻ vang,

Khoa danh rạng rỡ bảng vàng khắc tên.

Danh nhân tài trí dựng nền,

Văn chương võ lược vững bền non sông.

 

Ngàn năm vang mãi tiếng lòng,

Câu Nhi văn vật, rạng hồng trời Nam!

 

 

DÒNG SÔNG QUÊ MẸ

 

Ô Lâu nước chảy hiền hòa

Nguồn Trầm, Thác Mã ngân nga núi rừng

Gặp nhau Mỹ Chánh hợp dòng

Trở về bến cũ tình không đợi chờ.

 

Sông trong vắt, nước lững lờ

Vân Trình xuôi chảy đến bờ biển xanh.

Phá Tam Giang gió mát lành

Mênh mang sóng nước trong xanh muôn đời.

 

Bên sông tích cũ còn nơi

Cây đa bến đợi một thời yêu thương.

Chàng trai khăn gói lên đường

Lời thề ước hẹn vẫn vương bóng người.

 

Hội Kỳ, Phước Tích đôi nơi

Làng xưa mái ngói một thời rêu phong.

Đôi bờ ruộng lúa mênh mông

Cá tôm đầy bến, hương đồng lan xa.

 

Ai về bến cũ ghé qua

Nghe câu chuyện cũ thiết tha nghĩa tình.

Ô Lâu nước chảy lặng thinh

Như câu hát vọng ân tình quê hương...

 

Văn Đoàn - Nguyễn Văn Dòa


READ MORE - TRANG THƠ VĂN ĐOÀN: Xuân quê Hương / Câu Nhi văn vật ngàn năm / Dòng sông quê mẹ