Văn Nghệ Quảng Trị
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Saturday, January 3, 2026
GỌI NẮNG XUÂN VỀ / MÙA XUÂN VẪY GỌI / SẮC XUÂN - Chùm thơ Hạ Uyển
GỌI NẮNG XUÂN VỀ
Em đây rồi của tháng năm xa xôi
Môi thắm đỏ mà hồng tươi màu nắng
Mắt tin yêu như tình ta thầm lặng
Rộn rã cười, tà áo trắng thướt tha
Xuân thêm nồng xa gian khổ phong ba
Thuyền hạnh phúc đâu là nhà êm ấm
Ta bên nhau ôi tình thân sâu đậm
Nhớ nhau hoài. Mi ướt đẫm giọt
thương
Dẫu mai này mỗi đứa ở một phương
Hơi ấm ấy như còn vương đọng lại
Bạn yêu ơi nếu tình ta mãi mãi
Thì xin rằng tình đó chẳng nhạt
phai
Ánh tà huy thổn thức trên sông dài
Như luyến nhớ gửi ai lời nguyện ước
Đời vô thường chớ đắn đo mất, được
Bình minh lên, an phước đã ban dành.
MÙA XUÂN VẪY GỌI
Tung bừng trong nắng ánh xuân tươi
Tung tăng cánh bướm áo đỏ tươi
Xuân sang môi trẻ như hoa nở
Thỏ thẻ bên bà rộn tiếng cười
Đường chật người đông cờ rợp trời
Huy hoàng tráng lệ hoa khắp nơi
Xuân nồng tươi tắn màu pháo cưới
Đôi lứa bên nhau nâng chén mời
Hạnh phúc trao dâng đẹp cuộc đời
Thanh bình no ấm tuổi sáu mươi
Hương lan trong gió thì thầm ngỏ
Ấm áp tình thân người bên người.
SẮC XUÂN
Sắc nắng huy hoàng ửng nét xuân
Thêm duyên môi thắm vẻ ngại ngần
Mắt ai đắm đuối màu e thẹn
Xuân dâng khoe nhẹ, má bồ quân
Bút thả vẫn thơ lòng nhẹ lâng
Thong dong hái cỏ lướt hồng trần
Ta buông, buông nhé, tâm hoài tịnh
Tiền tài, vật chất, áng phù vân
Thánh thót bền đồi tiếng chuông
ngân
Đời là cõi tạm, sẽ xa dần
Mơ chi ảo ảnh rồi tan biến
Được mất đầy vơi mặc thế nhân.
Hạ Uyển
hiennguyen03061960@gmail.com
FACEBOOK HẠ UYỂN
THẰNG ĐIẾC - Truyện ngắn Nguyễn Thanh Hải
![]() |
| Tác giả Nguyễn Thanh Hải |
THẰNG ĐIẾC
(Câu chuyện là tiếng lòng của tác giả Nguyễn Thanh Hải)
Hắn sinh ra ở một làng quê thuần nông, nơi người
ta quen đo cuộc đời bằng vụ mùa, bằng con trâu cái cày, bằng những buổi chiều
lặng gió và tiếng ếch nhái ngoài đồng. Tuổi thơ của hắn không có gì đặc biệt để
kể, ngoài sự bình thường đến hiền lành: sáng đi học, chiều theo cha mẹ ra
ruộng, ngày rảnh thì chăn trâu, cắt cỏ, tát nước. Cuộc sống cứ thế trôi, chậm
rãi và nhẫn nại, như thể đời người sinh ra chỉ để tiếp nối đời người khác.
Cho đến khi biến cố xảy ra.
Vào một buổi chiều ngày mùa khoảng đầu những năm 1990, lũ trẻ
trong làng tụ tập chơi bên những thúng thóc vừa thu dọn. Chúng xếp thúng thóc
chồng lên nhau, quay tròn như đu quay. Một thúng đổ. Một hạt thóc nhỏ, rất nhỏ,
lọt vào tai hắn.
Hắn hoảng sợ, tự chọc ngoáy để lấy ra. Hạt thóc ra được, nhưng
tai thì đau nhức. Hắn không dám nói với cha mẹ. Trẻ con là thế, sợ bị mắng, sợ
bị coi là nghịch dại.
Cơn đau ấy không qua đi. Nó âm ỉ, dai dẳng, bám theo hắn suốt
những năm tháng sau đó.
Hắn vẫn đến trường, vẫn đi chăn trâu, vẫn tắm mương như bao đứa
trẻ khác. Tai viêm, nhưng hắn quen chịu đựng. Đến năm 1995, khi đang học năm
cuối trung học phổ thông, cơn viêm tai bùng phát dữ dội. Đau, ù, nghe kém. Cha
mẹ lo lắng đưa hắn lên Bệnh viện 103 Hà Đông.
Ở đó, hắn gặp một bác sĩ tên Lộc, người ở gần trường mầm non Hoa
Phượng Đỏ. Người đàn ông ấy nói chuyện rành rọt, chắc nịch, ánh mắt tự tin của
kẻ quen được người khác đặt trọn niềm tin.
– Tai nó viêm trong đầu – ông ta nói – không mổ sớm là nguy
hiểm. Nhưng mổ trong bệnh viện thì các bác sĩ làm không hết trách nhiệm, dễ
đụng dây thần kinh số bảy, méo mồm, xếch mắt. Để tôi mổ tại nhà riêng, không
qua bệnh viện, vừa an toàn vừa khỏi hẳn.
Cha mẹ hắn là nông dân, cả đời gắn với ruộng đồng, chữ nghĩa
không nhiều. Với họ, hai chữ bác sĩ đồng nghĩa với cứu người. Không ai nghĩ
rằng một người khoác áo blouse lại có thể nói dối.
Ca mổ diễn ra tại nhà riêng của bác sĩ Lộc. Hai người phụ mổ.
Không giấy tờ. Không hồ sơ. Không một quy trình y khoa đúng nghĩa. Mười lăm
triệu đồng – số tiền tích cóp cả đời – được trao đi cùng hy vọng con trai sẽ
lại bình thường.
Ba ngày nằm lại. Một đơn thuốc. Một lời dặn nhẹ bẫng:
– Đủ ngày tháo băng, cắt chỉ là nghe được.
Nhưng sau ca mổ, tai hắn chỉ nghe được lơ mơ. Hắn nghĩ do bông băng che kín. Đến ngày tháo băng, cắt chỉ, mọi thứ vẫn mù mờ như có lớp sương đặc phủ trong tai.
Ngày ra khám lại
Hắn hỏi.
Bác sĩ soi đèn, bấm huyệt, rồi phán một câu lạnh lùng:
– Mổ mất máu nhiều nên sức yếu. Về ăn uống cho lại sức là nghe
lại được thôi.
Hắn tin. Cha mẹ hắn cũng tin.
Cho đến khi người ta bắt đầu gọi hắn là thằng điếc.
Những tiếng gọi ấy ban đầu chỉ là trêu đùa. Sau thành thói quen.
Sau nữa, thành cái tên chính thức thay cho tên cha mẹ đặt. Hắn nghe không rõ,
trả lời chậm, làm gì cũng lóng ngóng. Ánh mắt người khác nhìn hắn dần đổi khác:
thương hại có, khinh thường có.
Hắn bỏ học.
Không ai hỏi vì sao. Ở làng quê ấy, một đứa học dở dang không
phải chuyện lớn. Người ta chỉ tiếc cho cha mẹ hắn, chứ không ai tiếc cho hắn.
Hắn theo bạn đi phụ hồ, rồi mày mò học lỏm nghề xây dựng. Tai
vẫn viêm, vẫn chảy nước. Hắn đi khám ở một phòng khám tư. Bác sĩ nghe kể chuyện
mổ tai thì giật mình:
– Tai này chỉ viêm nhẹ, uống thuốc là khỏi. Sao lại mổ? Thủng
mất màng nhĩ rồi.
Câu nói ấy như nhát dao chém thẳng vào quá khứ.
Hắn quay lại tìm bác sĩ Lộc. Người đàn ông ấy lập tức phủi tay:
– Tôi mổ xong có làm sao đâu. Bị viêm là do không biết giữ vệ
sinh. Thủng màng nhĩ là do tự ngoáy tai.
Không giấy tờ. Không bệnh án. Không ai làm chứng. Một người nông
dân nghèo làm sao thắng được một bác sĩ có danh có tiếng?
Hắn nuốt hận.
Từ ngày đó, hắn hiểu ra một điều: có những nỗi đau không kêu
được thành tiếng.
Hắn học nghề dệt. Tính tình ngày càng khép kín. Từ thời học cấp
hai, hắn cũng biết rung động trước con gái, nhưng chỉ dám yêu thầm. Đứng trước
người mình thích, hắn run, sợ không nghe rõ, sợ nói sai, sợ bị cười.
Có những ánh mắt bật đèn xanh. Hắn quay đi.
Cho đến một ngày, đi nhờ xe cùng một cô gái. Họ nói chuyện. Lần
đầu tiên trong đời, hắn thấy mình được lắng nghe. Vài tháng sau, hắn lấy vợ.
Nhưng hôn nhân không cứu được cuộc đời hắn.
Làm công nhân dệt lương thấp, hắn quay lại nghề xây. Một trận ốm
vì suy nhược, không đi khám kịp. Đôi tai vốn đã tổn thương liệt hẳn hoàn toàn.
Im lặng vĩnh viễn.
Từ đó, cái tên Thằng điếc bám theo hắn như định mệnh. Người ta
gọi một cách thản nhiên, cười cợt. Như thể bệnh tật của hắn là trò tiêu khiển.
Hắn buồn. Hắn uất. Có lúc suýt đánh nhau. Nhưng rồi hắn hiểu:
đánh nhau với cả xã hội thì chỉ có thua.
Đi làm, hắn thường xuyên bị lợi dụng, bị quỵt tiền. Hắn không
nghe rõ để cãi. Không nói rõ để đòi. Người ta bảo hắn ngu, chứ không ai bảo hắn
bị tước mất quyền lên tiếng.
Gia đình – nơi lẽ ra phải là chỗ dựa – lại trở thành nơi im lặng
nhất. Không ai hỏi hắn sống ra sao. Không ai đứng ra bảo vệ hắn trước những lời
miệt thị. Thương hại có, nhưng sẻ chia thì không.
Những năm gần đây, hắn thay đổi tính tình và cách nghĩ. Hay gắt
gỏng. Hay chửi. Cười cợt lại những kẻ cười mình. Người ta bảo hắn khó tính, cay
nghiệt. Không ai hỏi vì sao hắn phải tự khoác lên mình lớp gai góc ấy.
Không nói được, hắn viết.
Hắn viết như chửi. Viết như trút. Viết để tồn tại.
Trong đầu hắn đầy hận: hận một bác sĩ vô lương tâm, hận một hệ
thống y đức bị mua bán, hận một xã hội quen gọi tên người khác bằng bệnh tật,
hận cả những người thân đã chọn im lặng mày điếc thì biết gì.
Bạn bè tốt ư? Có. Nhưng hiếm như vàng trong bùn.
Gia đình có phải là nơi tiếp sức cho hắn không? Có phải là nơi
cho hắn niềm tin khi yếu đuối? Hay chỉ là nơi người ta quay mặt đi khi một
thành viên trở nên khiếm khuyết?
Hắn không biết.
Hắn chỉ biết rằng, khi đôi tai hắn câm lặng, thì lương tâm của
nhiều người xung quanh cũng im tiếng.
Và từ lúc ấy, hắn không còn là một con người có tên.
Hắn chỉ còn là một nhãn dán xã hội gắn lên số phận: Thằng Điếc.
Nguyễn Thanh Hải
From: <thivanle1569@gmail.com>
TRĂNG Ở LẠI – Thơ Tịnh Bình
Bữa thu đi
Chiếc lá vàng bịn rịn
Giấc mơ sương
Bèo bọt kiếp phù trầm
Trôi chầm chậm
Muôn đời không phương hướng
Vạn nẻo trời
Vạn lối phía mây bay
Thương lầm lạc
Cánh chim nào biệt xứ
Gót phiêu du
Đâu là chốn quê nhà
Chiều xuống thấp
Sầu chi cơn nắng quái
Ngập chân ngày
Còn vọng tiếc hoàng hôn
Trăng ở lại
Trên vòm trời xa ngái
Bấc trở mùa
Chao chát phía thu đi
Đêm mở mắt
Trên cành sương lệ ướt
Soi gương hồ
Úp mặt lá sen khô...
Tịnh Bình
TƠ LÒNG – Thơ Lê Kim Thượng
Tơ Lòng
1.
Nhớ thời mình có nhau rồi
Trăm năm thề hẹn một đời tóc tơ
Anh giờ nửa tỉnh, nửa mơ
Nhớ thời dệt mộng, ươm tơ… tình nồng
Nắng nghiêng rơi vạt áo hồng
Áo cài hoa nắng bềnh bồng mông lung
Lời yêu em nói ngập ngừng
Để cho anh hóa người dưng hôm nào
Trong vòng tay ấm nôn nao
Mắt đen lung liếng ngọt ngào lời em
Hôn lên đôi cánh môi mềm
Hôn rồi, hôn nửa, hôn thêm… ấm lòng
Em đưa tay ngắt nụ hồng
Hoa chanh, hoa bưởi ướp nồng ngón tay
Bên nhau, ngày đã cạn ngày
Trời tuôn mưa bụi lây rây đường về…
2.
Em giờ xa xứ, xa quê
Hỏi em còn nhớ lời thề tình yêu
Buồn vui nếm trải đã nhiều
Bao năm thương nhớ, bấy nhiêu tình nồng
Em đi về phía phiêu bồng
Chỉ xin gìn giữ tấm lòng, con tim
Người chờ chim Nhạn đưa tin
Thuyền về tới bến mà tình lặng êm
Nỗi đau trầm tích rồi em
Hồng hoang, thiên địa say mèm chênh chao
Chuyện tình giờ đã xanh xao
Gói vào miền nhớ, cất vào cõi mong
Trời cho bảy sắc cầu vồng
Người về nhặt nắng đem hong tơ tinh
Bỗng dưng lại muốn thất tình
Yêu người xa xứ… đinh ninh một lòng…
Nha Trang, tháng 01. 2026
Lê Kim Thượng
Friday, January 2, 2026
PHIÊN CHỢ NGÀY CUỐI NĂM - Thơ Nguyễn Văn Trình
![]() |
| Nhà thơ Nguyễn Văn Trình |
Phiên chợ ngày cuối năm
Nguyễn Văn Trình
Phiên chợ ngày
cuối năm
vui tươi, rộn
rã
tiếng nói
cười râm ran
khắp một
vùng huyên náo
ngày xuân
gõ cửa trước thềm
cô bán hàng
chào mời đon đả
hàng hóa la
liệt bày ra…
Hoa xuân
choáng ngợp, ngập tràn lối đi
đào, mai,
lan, cúc…rạng ngời sắc xuân
tranh Đông
Hồ, còn tươi màu mực cổ
hoành phi
câu đối gợi niềm xa xưa
trái cây chợ
tết, thêm phong phú
bưởi, cam,
xoài, quýt… ươm vàng
sầu riêng,
nhãn tím, dừa xiêm ngọt ngào
vú sữa,
măng cụt dịu dàng hương xuân…
Bên này rau
củ, muối dưa
su hào, bắp
cải, dứa thơm, mùi tàu (1)
cà chua, ớt
tỏi nồng cay
sắc màu
trái, quả lung linh ưa nhìn…
kia là những
xấp lá dong
từ trong rừng
thẳm, nhọc nhằn về đây
lạt giang
gói bánh chưng dày
miến
dong mộc nhĩ, là màu nhớ nhung
tôm cua,
cá, thịt …cho đầy vị xuân
nhang đèn đồ
mã, cúng đêm giao thừa
con gà trống
thiến, để dành đầu năm
bức tranh
thư pháp, thêm phần tết xưa…
Phiên chợ ngày
cuối năm vội vã
xôn xao người
bán, người mua
náo nức người
đi chợ tết
mẹ già lụm
đụm
tay xách
nách mang
thương con,
thương cháu
sắm sửa đủ
đầy, đợi tết đoàn viên…
ông cụ đeo
đôi mục kỉnh
nheo nheo
nhìn ngắm cành đào
ước ao có
cành cắm tết
để minh
niên, tấn lộc tấn tài
mấy đứa trẻ
lon ton theo mẹ
mong sao có
được mang về
món đồ chơi
bằng nhựa
tay kiếm
cung
múa cùng những
đứa bạn xóm giềng
bày trò trận
giả
trong ba
ngày tết vui chơi
những cô
gái má thắm, môi son
nụ cười
duyên dáng
nghiêng
nghiêng vành nón, ánh mắt nhìn
vai nặng
trĩu gánh hàng chợ tết…
Phiên chợ ngày
cuối năm dân giả
nông, mẹt,
rỗ, rá…phơi đầy
thúng, mủng
, cuốc xẻng, hái liềm
thớt, dao lỉnh
kỉnh từ làng mang ra
chen bát,
sành sứ Thanh Hà (2)
Bát Tràng,
Chu Đậu… đem ra trưng bày
trầu, cau,
vôi thắm mặn mà
sắn, khoai,
ngô, đậu, môn, cà …
điểm tô sản
vật nông thôn quê nhà
nôn nao
phiên chợ cuối năm
vẫn còn đậm
nét, nặng lòng tết xưa …
Đông Hà, 2021
N.V.T.
nguyenvantrinh58@gmail.com
(1) Dứa
thơm, mùi tàu: là những loại lá dùng
trong gia vị nấu nướng.
(2&3) Tên
các thương hiệu gốm sứ nổi tiếng của Việt Nam .
TÌNH VIỄN XỨ - Song Ngàn
TÌNH VIỄN XỨ
(Thân tặng L.A.)
Song Ngàn
Tôi tình cờ đọc được tản văn của
em vào một buổi chiều cuối đông, khi thành phố tôi ở vừa lên đèn, tuyết mỏng phủ
nhẹ trên bậu cửa sổ. Bài viết của em xuất hiện lặng lẽ trên Facebook, không ồn
ào, không phô trương, như chính con người cô: nhẹ nhàng mà sâu thẳm. Tôi đọc chậm,
từng câu, từng chữ, và rồi bất giác thấy cổ họng mình nghẹn lại. Dường như mỗi
con chữ trong tản văn ấy không chỉ được viết bằng mực, mà bằng nhịp đập của một
trái tim đã đi qua nhiều ngày sóng gió.
Lan viết như đang thì thầm, trải
lòng với chính mình, nhưng tôi biết, ở đâu đó giữa những dòng chữ, có một phần
dành cho tôi – người vẫn lặng lẽ dõi theo cô từ phương xa. Tôi thương Lan, như
thương một đóa hồng viễn xứ: đẹp người, đẹp nết, đảm đang và kiên cường. Một
đóa hồng đã nở rộ giữa xứ người, chịu nhiều sương gió, mà cánh cửa hạnh phúc dường
như vẫn còn khép chặt, như thử thách sự nhẫn nại của trái tim.
Tôi và Lan là hai con người đến
từ hai miền khác nhau của cuộc sống. Chúng tôi khác nhau từ mùi hương quen thuộc
của ký ức, từ nhịp sinh hoạt hằng ngày, cho đến những sở thích tưởng chừng
không thể giao nhau. Tôi quen với những buổi sáng lạnh, cà phê đen và nhịp sống
công nghiệp đều đặn. Lan lại gắn bó với nắng, với gió, với căn bếp nhỏ ấm mùi
cơm mới, và những buổi chiều thảnh thơi nghe thời gian trôi qua hiên nhà. Vậy
mà, giữa muôn trùng khác biệt ấy, chúng tôi lại được gắn kết bởi một thứ keo vô
hình mang tên yêu thương.
Thứ keo ấy không cần nhãn mác,
không cần lời quảng bá. Nó bền bỉ theo năm tháng, dính chặt mọi khoảng cách, thích
nghi với mọi khí hậu – từ Á sang Âu, từ cái nắng cháy da của mùa hạ đến cái lạnh
tê người của mùa đông tuyết phủ. Có những ngày, chúng tôi chỉ kịp gửi cho nhau
một tin nhắn ngắn ngủi, một lời hỏi han vội vàng, nhưng chỉ thế thôi cũng đủ để
lòng tôi ấm lại, đủ để tin rằng ở đầu kia của thế giới, có một người đang nghĩ
về mình.
Tôi không xem mình là bậc chân
tu, cũng chẳng phải đấng cứu rỗi. Tôi chỉ là một người đàn ông bình thường,
mang trong lòng những khuyết thiếu rất người. Nhưng trước Lan, tôi luôn muốn
dành cho cô những gì dịu dàng và tử tế nhất mà đời người có thể trao. Tôi từng
nghĩ, nếu cuộc đời bớt đi những biến động, nếu không có những khoảng cách địa
lý và những nỗi lo cơm áo, tôi sẽ là người đưa tay cho Lan vịn khi trời trở
rét, là người dắt cô bước chậm qua từng bậc thềm cửa nhà, cùng nhau sưởi ấm những
ngày dài cô đơn.
Có những buổi tối, tôi ngồi một
mình trong căn phòng yên tĩnh, nhìn ra phố vắng và tưởng tượng về Lan. Tôi hình
dung cô trong gian bếp nhỏ, cặm cụi nấu ăn, tiếng dao thớt hòa cùng tiếng radio
cũ. Tôi nghĩ đến nụ cười hiền của cô, đến cách cô lắng nghe người khác bằng cả
sự kiên nhẫn và bao dung. Những hình dung ấy không làm tôi buồn, trái lại,
chúng cho tôi thêm sức mạnh để đi tiếp những ngày xa cách.
Còn Lan, ở nơi quê nhà, vẫn sống
cuộc đời của mình một cách lặng lẽ. Cô như cánh sen e ấp giữa sương mai, không
phô bày rực rỡ nhưng vẫn tỏa hương theo cách rất riêng. Lan vui cùng gió và
mây, cùng những niềm vui nhỏ bé đời thường. Cô viết, cô chia sẻ, và cô học cách
chấp nhận những điều chưa trọn vẹn. Lan hiểu rằng, không phải bông hoa nào cũng
nở đúng mùa, không phải hạnh phúc nào cũng đến đúng lúc mình mong.
Lan biết, rồi sẽ có một ngày,
búp hồng ấy khép lại để chuyển sang một mùa khác của đời người. Cô không vội
vàng, không thúc ép số phận. Cô tin vào sự an bài của thời gian, tin rằng những
gì đủ duyên rồi sẽ tự tìm thấy nhau. Và ở đâu đó trong niềm tin ấy, hình ảnh
tôi hiện lên như một điểm tựa bình yên, không ồn ào nhưng bền vững.
Tôi cũng mang trong lòng một
linh cảm rất người. Tôi tin rằng, những kết nối chân thành không tự nhiên mà
có, cũng không dễ dàng mất đi. Tôi tin rằng, nếu trái tim đủ kiên nhẫn, đủ bao
dung, thì một ngày nào đó, những con đường tưởng chừng song song sẽ giao nhau.
Khi ấy, tôi sẽ đến bên Lan, không phải để hứa hẹn điều gì lớn lao, mà để cùng
cô đi qua những ngày tháng còn lại với sự thấu hiểu và trân trọng.
Tản văn của Lan khép lại,
nhưng dư âm thì còn mãi trong lòng tôi. Ngoài kia, tuyết vẫn rơi, xuân vẫn đang
đến rất gần. Ở hai phía chân trời, có hai con người vẫn đang sống trọn vẹn phần
đời của mình, mang theo một niềm tin lặng lẽ: rằng yêu thương chân thành, dù muộn,
vẫn sẽ tìm được cách nở hoa.
Tản văn khai bút – Xuân 2026
Song Ngàn
From: thivanle1569@gmail.com
Truyện ngắn: HƯƠNG KHUYA - Trần Thị Lan Anh
![]() |
| Tác giả Trần Thị Lan Anh |
HƯƠNG KHUYA
Trần Thị Lan Anh
Đêm buông xuống, chỉ còn nửa vầng trăng treo lửng lơ trên nóc nhà, soi
nhẹ những bóng cây bên sân. Phố vẫn còn những cơn gió sớm, lùa qua khung cửa,
kéo theo mùi hoa và lá, khiến lòng tôi bâng khuâng, vọng chờ. Trong căn nhà nhỏ
của mình, hương khuya giấu dưới tấm rèm, như giữ một tín hiệu mềm mại, chỉ dành
riêng cho một ai đó chưa tới.
Tôi vẫn nhớ những ngày xưa, khi còn
bận rộn với công việc và những trách nhiệm đời thường, vẫn có một lửa xuân âm
thầm cháy trong lòng. Lửa ấy không dữ dội, mà dịu dàng, đủ để nhắc tôi về những
cảm xúc đã từng, những mùa hoa đã qua, những nhịp tim từng rộn rã vì một niềm
tin đơn sơ. Ba mùa nhụy biếc đã sang trang, cành xanh vẫn giữ nhịp, lá vàng vẫn
chưa quen, nhưng tôi đã học cách an yên với thời gian và chính mình.
Ngôi nhà tôi đang sống không gấm vóc, không khoe mẽ; giường hoa vẫn để nửa che bóng mình, như giữ lại một phần riêng tư của cuộc đời. Tôi đã từng lỡ để sai màu, tựa vào những gốc cây tưởng bền hoài, để rồi nhận ra rằng tuổi trẻ cũng như nhụy hoa, đôi khi phai nhạt không vì thiếu yêu thương mà vì chưa đủ thời gian để lớn. Tôi vun hết những ngọt mềm, nhưng cây không chịu lớn, thời gian mỏi thêm, để rồi tôi học cách chấp nhận, học cách kiên nhẫn và tự vun xới cho cuộc đời mình.
Hai mươi bốn năm trôi qua, gió dập
đầy, hương hoa rã nửa, phai bay nửa. Tôi đã đổi lối, tìm đến sự an bình. Trăng
soi lại sáng, gương mình lại trong, và tôi nhận ra rằng, việc tròn, con vững,
lòng không vướng gì – chỉ còn thiếu một vòng cánh vai. Một người tri kỷ, một
đôi vai để dựa, không phải là mộng tưởng xa xôi, mà là điều đời thường, đủ để
làm dịu đi những nhọc nhằn và những nhớ nhung âm thầm.
Sáng mai, tôi sẽ lại dậy sớm, tự
tay pha trà, nhón vài chiếc bánh khô trên kệ, nhìn ra phố vắng. Mùi trà ấm hòa
cùng hơi sương còn đọng trên lá cây khiến tôi cảm thấy từng khoảnh khắc giản dị
cũng đủ vun đắp cho tâm hồn. Tôi bước ra phố, lắng nghe âm thanh cuộc sống, nếm
trải từng hương vị đời thường, từ mùi bánh mì nướng đến tiếng trẻ con ríu rít
trên sân chơi, để thấy rằng tình yêu, hạnh phúc và bình yên đôi khi không ở đâu
xa, mà nằm ngay trong những điều giản dị nhất.
Chiều xuống, khi phố xá bắt đầu vắng
người, tôi lại cùng con đi dạo quanh công viên gần nhà. Tiếng chim hót muộn và
gió thổi qua hàng cây như thì thầm rằng dù cuộc đời có nhiều sóng gió, vẫn luôn
có những khoảnh khắc bình yên cho mẹ và con. Tôi kể cho con nghe những câu chuyện
nhỏ về những cô bé, cậu bé dũng cảm vượt qua thử thách, để con hiểu rằng trong
những đêm tối, mẹ và con đều là những chiến binh, cùng nhau đi qua mọi khó
khăn.
Đêm đến, khi con đã ngủ say, tôi ngồi
bên khung cửa sổ, viết nhật ký, ghi lại từng giây phút vất vả và niềm vui nhỏ
bé. Ánh đèn vàng rọi xuống trang giấy như muốn nhắc nhở tôi rằng, mỗi nỗi đau,
mỗi giọt mồ hôi, đều sẽ trở thành sức mạnh, là hành trang cho con trên đường đời
sau này. Tôi nhận ra rằng, mỗi mùa hoa qua đi, mỗi đêm dài trôi qua, đều dạy
tôi cách bình thản với cuộc đời, cách yêu thương mà không vội vàng, và cách để
trái tim đón nhận tri kỷ đúng lúc.
Trong ánh sáng mờ ảo của trăng
khuya, tôi thấy mình vừa mạnh mẽ vừa mềm mại, vừa tự do vừa có trách nhiệm với
chính trái tim. Mọi khoảnh khắc đều là bài học nhân sinh, dạy tôi cách sống
bình thản, cách yêu thương mà không vội vàng, cách đợi chờ mà vẫn biết vun xới
cuộc đời. Và tôi tin, ai đó phù hợp sẽ nhận ra mùi hương thầm lặng của đời tôi,
nhận ra nhịp tim và những gì tôi cất giấu, và đôi bên sẽ cùng nhau đi qua những
mùa hoa tiếp theo, không gấp gáp, không áp lực, mà bằng sự đồng điệu tinh tế.
Hương khuya, trăng soi, gió thổi – tất cả dường như nhắc nhở rằng tình yêu và nhân sinh là những điều giản dị, nhưng lại sâu sắc và bền vững. Tôi giữ riêng mình, nhưng không đóng kín trái tim; tôi mở lòng, nhưng vẫn biết trân trọng những gì mình đang có. Cuộc đời này, với tôi, chính là những khoảnh khắc ấy – những hương khuya, những cánh trăng, những nhịp tim, những trải nghiệm và những duyên lành được đan kết khéo léo, đủ để tôi thấy bình yên và trọn vẹn.
Và khi đêm khuya trôi qua, tôi biết
rằng mọi chờ đợi đều có giá trị, mọi trải nghiệm đều là bài học, và khi tri kỷ
xuất hiện, chúng tôi sẽ gặp nhau không chỉ bằng tình yêu, mà còn bằng sự thấu
hiểu, sự đồng cảm và những gì chân thật nhất của đời người. Hương khuya vẫn còn
vương trên rèm cửa, nhắc nhở tôi rằng, đời sống và tình yêu, khi được nuôi dưỡng
bằng lòng kiên nhẫn và sự chân thành, sẽ trở thành ánh sáng dẫn lối, dù ở giữa
đêm khuya hay giữa những mùa xuân chưa tới.
Đêm viễn xứ 2025
Trần Thị Lan Anh
From: thivanle1569@gmail.com
TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG: Có một mùa xuân cũ / Hình như xuân về trên phố / Bên bờ giếng cũ / Cây hoa nhà em, nở vàng trước ngõ
Có một mùa xuân cũ
Đêm hoang tưởng, những điều mình có thể
Gặp lại nhau giữa phố cũ ngày xuân
Anh lóng ngóng, bên hiên đời nắng xế
Bốn mươi năm, còn đâu đó trong ngần…
Khoảnh trời xanh trên công viên một thuở
Đẫm ước mơ, ngày tuổi ngọc dung dăng
Chiều không gặp, cố gom thương vùi nhớ
Trong lời thơ cháy bỏng, mộng hồn trăng
Con dốc nhỏ ta ngập ngừng trao nhận
Nắng cạn ngày và gío cứ vu vơ
Mắt người nhận có điều chi gợi dẫn
Cứ long lanh, sâu thẳm đến hoen mờ
Mùa xuân mới, về thăm nơi phố cũ
Bốn mươi năm dâu bể những khóc cười
Vạt nắng cuối ngày còn đây ngưng tụ
Một góc đời trai, một thuở yêu người
Còn nguyên đó, mùa xuân, trăng và gió
Không thể nào kết thúc một tình yêu
Chỉ chối bỏ, hoặc là không từ bỏ
Ngọn gió thời gian lặng lẽ trở chiều…
Hình như xuân về trên phố
Em đạp xe qua phố
Chở theo một nỗi buồn
Hoa xuân thì đương độ
Tím thẩm chiều nắng buông
*
Gió mơn man thật khẽ
Vướng mái tóc suông mềm
Bao ưu tư vò xé
Một nỗi nhớ dịu êm
*
Mơ hồ nghe tiếng gọi
Từ cõi nào xa xôi
Người ơi, sao không nói
Một lời, một lời thôi ...
*
Em đạp xe qua phố
Giữa lung linh sắc màu
Bóng nắng chiều loang lổ
Từng vết, chồng lên nhau
*
Đèn xanh rồi đèn đỏ
Em đứng đó lơ ngơ
Người đi qua nghiêng ngó
Vô tư cười vu vơ ...
Bên bờ giếng cũ
“Giếng
sâu, anh cứ tưởng giếng sâu”
Mà cơn khát cứ chập chờn, cháy bỏng
Một sợi nhớ cong chiều gió lộng
Cõi trăm năm, mưa nắng dãi dầu
Nghiêng một vầng trăng, thuở đắm say
Bờ giếng cũ, ngồi đây tóc rối
Như còn đó, tháng ngày nông nổi
Buổi trinh nguyên, dốc cạn tình này
Ngẩn ngơ chiều xanh trong mênh mông
Điều không thể, còn như nuối tiếc
Bãi sông xưa đang mùa nước kiệt
…chiếc giếng khơi, ăm ắp giữa đồng
Con chim gì kêu trong xa xôi
Nghe bức bối, nỗi chiều hoang hoải
Mơ hồ như tiếng ai đang gọi
Khắc khoải chờ nhau, phía chân đồi
Cạn ngày rồi, một ánh trăng nghiêng
Trăng mười bốn, ai còn gánh nước
Sao nhớ lắm, tóc dài suông mượt
Buột đời nhau, rong ruổi mọi miền…
Cây hoa nhà em, nở vàng trước ngõ
Vụng về, từng cánh mỏng rơi rơi…
Trên lối đi về, em tần ngần đâu đó
Có một nỗi buồn, nguyên cớ vì đâu
Mái tóc dài rối tung, vờn bay theo gió
Trong thẳm sâu, đôi mắt nhớ hoen mầu…
Tháng mười một trời còn áp thấp
Ánh mây ngưng, xám một khoảnh trời
Chiều bến cá, thuyền về tấp nập
Tiếng bán mau chao chác gọi mời
Dõi mắt xa, bóng con thuyền về bến muộn
Nỗi niềm gì, chiều xa vắng người ơi!
Lê Thanh Hùng
Bắc Bình, Lâm Đồng
lethanhhung4625@gmail.com
Wednesday, December 31, 2025
TẾT XỨ NGƯỜI - Lan Anh
Tết xứ người
Lan Anh
Chiều ba mươi Tết, cả khu phố nơi
tôi ở ngập trong bão tuyết. Tuyết rơi dày đến mức che mờ những bậc thềm, lấp
kín lối đi, biến con đường quen thuộc thành một dải trắng im lìm, không dấu
chân người. Không một bóng ai qua lại. Chỉ có chú chó nhà bên, có lẽ vì lạnh
quá hay vì cô đơn quá, bỗng rú lên vài tiếng khàn khàn, xé toạc màn tuyết ảm đạm
rồi lại im bặt. Âm thanh ấy vang lên giữa không gian tĩnh mịch, nghe vừa lạc
lõng vừa buồn bã, như chính lòng tôi lúc ấy.
Ở xứ người, chiều ba mươi không
mang dáng vẻ của một ngày đặc biệt. Mọi người vẫn đi làm, vẫn vội vã khoác áo
dày, cúi đầu trước gió lạnh rồi biến mất sau cánh cửa tàu điện. Không cờ hoa,
không khẩu hiệu chúc mừng năm mới. Không mùi bánh chưng, không tiếng chảo mỡ
xèo xèo, không tiếng cười nói rộn ràng của hàng xóm sang nhà nhau chúc Tết. Tất
cả bình thản trôi qua như bao ngày khác, chỉ có trong tôi là một khoảng trống
không gọi được tên.
Tôi nhớ chiều ba mươi ở quê nhà.
Khi ấy, dù bận rộn đến mấy, người ta cũng cố gắng về sớm. Chợ Tết đông nghịt
người, tiếng rao, tiếng cười chen lẫn mùi hoa, mùi lá dong, mùi khói bếp. Mẹ
tôi thường lúi húi trong bếp từ sáng sớm, bố thì lau lại bàn thờ, treo câu đối
đỏ. Lũ trẻ con chỉ mong trời tối thật nhanh để được mặc quần áo mới, được cầm
phong bao lì xì còn thơm mùi giấy. Những ký ức ấy, mỗi năm lại hiện về rõ ràng
hơn khi tôi đứng giữa mùa đông xứ lạ.
Ở đây, tôi tự nấu cho mình một bữa
cơm giản đơn. Không đủ nguyên liệu để làm những món ăn ngày Tết, cũng không đủ
người để bày biện cho tươm tất. Tôi chỉ nấu một nồi giả cầy, không dám thêm nhiều
gia vị cho thơm vì sợ làm phiền hàng xóm, kèm thêm đĩa rau muống xào tỏi – món
xa xỉ nơi xứ người mỗi độ Tết đến. Bữa cơm ăn trong im lặng, qua ô cửa sổ là những
cột tuyết bị gió cuộn lên, trông xa xa như những ụ rơm của mẹ ngày nào. Ngoài
kia, tuyết vẫn rơi không ngừng, lặng lẽ và vô tâm.
Tôi mở điện thoại, mạng xã hội tràn
ngập hình ảnh pháo hoa, mâm cỗ, hoa đào, hoa mai. Bạn bè chúc nhau năm mới an
lành. Tôi cũng gõ vài dòng chúc Tết, nhưng trong lòng bỗng thấy cay cay, và chợt
hiểu thế nào là mùa xuân viễn xứ.
Tết xứ người khiến người ta cảm nhận
thời gian trôi đi rất khác. Không có khoảnh khắc giao thừa thiêng liêng để đánh
dấu sự kết thúc và khởi đầu, mọi thứ nối tiếp nhau đều đều, lặng lẽ. Thế nhưng,
chính trong sự bình lặng ấy, tôi lại học cách lắng nghe mình nhiều hơn. Tôi nhận
ra Tết không chỉ nằm ở mâm cao cỗ đầy hay không khí rộn ràng, mà còn nằm trong
nỗi nhớ, trong sự hướng về, trong mong ước được bình an, và trong khát khao một
ngày được trở về quây quần bên mâm cỗ với những người thân yêu.
Khi đồng hồ điểm sang năm mới theo
giờ Việt Nam, tôi đứng dậy, rót cho mình một ly nhỏ, thầm chúc gia đình mạnh khỏe,
chúc bạn bè bình yên, và chúc cho chính mình đủ kiên nhẫn, đủ ấm áp để đi tiếp
quãng đường còn xa.
Cả khu phố vẫn chìm trong giấc ngủ
như mọi ngày. Phía xa, vài tràng pháo bông le lói nơi trung tâm thành phố, hay
đâu đó trong một mái nhà nào, có người đang lặng lẽ vui xuân.
Ngoài kia, tuyết vẫn trắng xóa.
Nhưng trong lòng tôi, một mùa xuân rất khẽ đã bắt đầu nảy mầm.
Lan Anh
thivanle1569@gmail.com



.jpg)


.jpg)