Chúc Mừng Năm Mới

Văn Nghệ Quảng Trị kính chúc quý nhà thơ, nhà văn cọng tác viên và quý bạn đọc Năm mới 2017 Đinh Dậu VẠN SỰ AN LÀNH

Friday, February 24, 2017

VĂN VẬT XỨ KẺ DIÊN - Phạm Xuân Dũng


 Bên dòng Ô Lâu. Ảnh Phạm Đình Quát


 Văn vật xứ Kẻ Diên
                    Phạm Xuân Dũng

Nằm dọc theo con đường thiên lý Bắc - Nam và cạnh các con sông Ô Lâu, Vĩnh Định, mảnh đất Hải Lăng từ lâu đã được biết đến là vùng quê địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh những danh sĩ, lương thần phò vua giúp nước, những con người tài hoa, mẫn tiệp làm rạng rỡ quê hương xứ sở. Tất cả luôn ẩn hiện trong trầm tích lịch sử văn hóa sâu dày xứ Kẻ Diên.
Kẻ Diên tức Diên Sanh ngày xưa nay đã trao lại tên mình cho thị trấn Diên Sanh, huyện lỵ huyện Hải Lăng ngày nay vẫn được gọi tên là miền gió cát. Nhưng dù vậy, đây là vùng quê với nhiều cảnh vật hữu tình và mến khách đã từ lâu mời gọi bao người gần xa đến tiểu trường sa Quảng Trị. Thị trấn xinh xắn này cùng với các làng quê lân cận còn mang tên xứ Kẻ Diên, còn nhiều dấu tích xưa kia chính là căn cước văn minh hay là những vân tay văn hóa vùng miền.
Ở phía cực Nam tỉnh Quảng Trị, Diên Sanh hay nói rộng hơn là vùng đất Kẻ Diên - Hải Lăng bây giờ có một vị thế đặc biệt trong hành trình Nam tiến của cha ông. Kẻ Diên tiếp giáp với xứ Thừa Thiên, nơi có kinh thành Huế sau này, gắn liền với sự hình thành và phát triển của chế độ phong kiến nhà Nguyễn từ khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Quảng Trị trấn nhậm năm 1558. Đất Diên Sanh, tên cũ gọi là Kẻ Diên kéo dài từ xã Hải Thọ lên thị trấn Diên Sanh bây giờ cũng có vai trò hạt nhân quan trọng trong việc tạo dựng nên gương mặt Hải Lăng. Đình Diên Sanh, chợ cũ Diên Sanh là các công trình văn hóa vật thể còn ghi lại dấu tích trên mảnh đất được gọi là vùng lúa của Quảng Trị vốn là xứ quanh năm lam lũ theo cái ăn cái mặc từ buổi đầu lập nghiệp. Nhưng phải nói đặc sản văn hóa số một trong văn học dân gian xứ này là bài ca con gà Kẻ Diên, một tác phẩm văn chương truyền miệng có mặt trong nhiều công trình danh giá của các nhà nghiên cứu. Bài ca cũng nói về mùa xuân. Tháng giêng, tháng hai… vì quá khó khăn phải đi vay mà mua con gà mái ở chợ Kẻ Diên để mong sinh lợi. Nhưng rồi gặp vận hạn nên mất sạch đàn gà con. Ấy thế nhưng bài ca kết thúc bằng hai câu bất hủ: “Đừng than phận khó ai ơi/ Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”. Nhà thơ lớn Chế Lan Viên khi sang châu Âu dự hội thảo quốc tế các nhà văn trong những năm khói lửa trước 1975 đã chiêu tuyết bài ca Kẻ Diên. Ông cho rằng đó chính là phẩm giá tuyệt vời của Quảng Trị - Việt Nam chứa đựng một tinh thần lạc quan ngay trong những thử thách ngặt nghèo nhất. Ông còn ví con gà Kẻ Diên như con phượng hoàng lửa phổ biến trong huyền thoại của nhiều nước phương Tây, dù chết, dù bị thiêu trụi vẫn tái sinh, phục sinh, vẫn bất diệt như niềm tin đất Việt, vẫn đâm chồi nảy lộc, tạo dựng màu xanh và mùa xuân từ chính tấm lòng mình, từ khát vọng nồng cháy, từ niềm tin sắt đá về khả năng cải hóa cuộc đời này.
Xứ Kẻ Diên còn được xem là vựa lúa Quảng Trị với những cánh đồng phóng khoáng, với những sản vật nông nghiệp quen thuộc của văn minh lúa nước. Đi trên vùng quê Hải Lăng hôm nay bằng cách xuyên qua những cánh đồng làng được mệnh danh là “Đồng Tháp Mười” Quảng Trị nhất là vào mùa lũ sẽ thấy làng quê đẹp như một bức tranh yên bình khi mùa xuân đang đến. Bốn bề xung quanh là chân ruộng nối tiếp chân trời thoáng đạt, những đàn vịt nhởn nhơ vô sự, ung dung bơi lội thỏa thuê, bỏ qua những buộc ràng vướng víu bàn chân. Hình như bên cạnh sự khắc nghiệt của gió cát thì vẫn nhận được nhiều ân tứ của đất trời. Tạo hóa đã ban tặng cho vùng đất này đủ núi, rừng, sông, biển và những cánh đồng rộng lớn, trải dài theo cả bốn hướng, xen lẫn với làng mạc quá đỗi nên thơ, gợi nên nhiều cảm xúc. Đó không chỉ là cảm giác của những người lần đầu trải nghiệm với vùng quê này mà cả với những người gốc gác Hải Lăng. Tất cả tạo nên một cảm hứng hân hoan khó tả đối với những người làm phim và cả những nhân vật trải nghiệm quê quán xứ Kẻ Diên. Cảnh vật nơi đây từ cây đa, đồng ruộng, xóm làng cứ như thể đã trở thành những neo đậu để hồn người có nơi nương tựa.
Nhưng Hải Lăng còn có sông Ô Lâu. Đây là con sông đắp bồi phù sa cho những cánh đồng nuôi sống con người, tạo lập nên những xóm làng thân thương như máu thịt trong mỗi đời người. Đoạn sông này tên gọi Ô Giang, một nhánh sông Ô Lâu đầy ắp huyền thoại nên có nhà thơ gọi đó là dòng sông tình sử. Dòng sông này đã chảy không biết qua bao nhiêu năm tháng, chứng kiến rất nhiều cuộc đời chìm nổi và cả những mối tình đã đi vào câu ca nổi tiếng gắn liền với cây đa, bến cũ hay dân gian còn gọi là cây da, bến cộ. “Trăm năm dầu lỗi hẹn hò/ Cây da bến cộ, còn đò khác đưa…” kể lại chuyện tình của chàng nho sinh xứ Nghệ vào kinh ứng thí, tình cờ gặp cô lái đò. Họ thương nhau, hò hẹn rồi câu chuyện không thành để lại câu ca da diết, mênh mang trên dòng sông tình sử. Chuyện cũ đã đi vào huyền thoại, ca dao nhưng cảnh vật, tên đất, tên làng vẫn còn như một minh chứng cho những tấm lòng sắt son thề non hẹn biển. Địa danh cây da bên dòng Ô Lâu mãi là một địa chỉ tình yêu ở xứ Kẻ Diên làm xao xuyến bao thế hệ người Quảng Trị đã nặng lòng với quê hương bản quán. Sông nước Ô Lâu không chỉ thuần túy là dòng chảy tự nhiên ở phương diện địa lý mà còn là ngọn nguồn văn hóa bồi đắp phù sa cho xứ sở Hải Lăng. Chỉ riêng với văn nghệ truyền khẩu, mảnh đất này đã kết tinh nên nhiều viên ngọc quý như chúng ta đã biết. Có thể nói văn hóa dân gian Hải Lăng có một nội lực thâm hậu, sâu dày và minh triết, chứa đựng nhiều điều mà đời sau vẫn phải cần tìm tòi thấu đáo. Nhân chuyện này, một người đồng hành là NGƯT, nhà thơ Võ Văn Hoa còn muốn chiêu tuyết cho câu tục ngữ nói về “trai Cổ Lũy, đĩ Trung Đơn”. Theo anh, cần phải hiểu chữ “đĩ” là làm dáng, làm đẹp, nghĩa là một mỹ tục của làng Trung Đơn chứ không phải là tệ nạn xã hội như có người lầm tưởng. Càng thấy trong rất nhiều trường hợp, hiểu cho đúng dân gian thật không hề đơn giản.
Ngay giữa trưa vào lúc chính ngọ khi mặt trời đứng bóng, chúng tôi vẫn bắt gặp hình ảnh bà con nông dân đang mải miết làm ruộng, chuẩn bị cho vụ mùa đông xuân sắp tới. Họ chính là những chủ nhân bình dị từ bao đời nay làm nên cốt cách văn vật Hải Lăng. Những người dân đã vun đắp cho bức tranh quê, tạo nên dáng vẻ và hồn vía đất đai sâu nặng mà chúng ta quen gọi là bản sắc văn hóa vùng miền.
Rồi chúng tôi đến với Hội Kỳ, một làng cổ thuộc xã Hải Chánh nằm cạnh con sông Ô Lâu huyền thoại. Chúng tôi tình cờ bắt gặp hình ảnh cất rớ bên sông, một công việc quen thuộc từ bao đời nay nhưng bây giờ không phải dễ tìm. Đây cũng là một nét riêng ấn tượng tạo thành một điểm nhấn thú vị của bức tranh làng cổ Hội Kỳ. Đôi khi chúng ta tự hỏi, hồn vía quê nhà nhiều khi đâu phải là điều gì cao xa, chỉ là hình ảnh cất rớ ven sông mà cũng khiến lòng dạ nao nao.
Nếu bên kia sông Ô Lâu thuộc đất Thừa Thiên - Huế có làng cổ Phước Tích nổi tiếng thì bên này sông thuộc tỉnh Quảng Trị có làng Hội Kỳ cũng được nhiều người biết đến, chủ yếu với kiến trúc nhà rường độc đáo. Làng quê Hội Kỳ nên thơ với những ngôi nhà mái thấp, với kiến trúc nhà gỗ lợp ngói được lưu giữ từ đời này qua đời khác. Tham quan nhà cổ, ta sẽ biết rõ hơn kiến trúc và nội thất của tổ ấm mà cha ông đã nghiền ngẫm sáng tạo nên, hiểu thêm thế nào là rường cột, kết cấu ràng buộc nhau trong một ngôi nhà gỗ, cảm phục bàn tay tài hoa, khéo léo và cả tâm hồn của người xưa gởi gắm vào kiến trúc của một ngôi nhà. Những ngôi nhà cổ Hội Kỳ mang vẻ cổ kính, gợi lên những giá trị vững bền được đắp bồi từ quá khứ. Hiểu được tâm nguyện của cha ông, con cháu đời sau đã giữ gìn, tu bổ những di sản kiến trúc quý giá của tổ tiên, làm nên giá trị văn hóa vật thể trong thời buổi bây giờ, một công việc đòi hỏi tâm huyết, tiền bạc và công sức. Đặc biệt, những người già vẫn cứ nặng lòng với những gì tiền nhân để lại, cho dù hôm nay, cuộc sống văn minh đã có rất nhiều thay đổi làm biến đổi nhiều khuôn mặt làng quê. Ông Nguyễn Văn Mạnh một bậc cao niên làng Hội Kỳ thuộc xã Hải Chánh dù tuổi đã gần đất xa trời vẫn cứ thao thức với việc bảo tồn nhà cổ làng quê. Theo ông đó chính là hồn vía của ngôi làng.
Nói đến văn vật Hải Lăng không thể không nhắc đến hệ thống đình chùa miếu vũ ở đây. Các công trình này vừa nhiều vừa tập trung với mật độ khá dày đặc ở làng quê Hải Lăng. Có thể nhắc đến chùa Diên Thọ, chùa Diên Bình, chùa Diên Phước ở xã Hải Thọ như một dẫn chứng. Chùa Diên Thọ có một lịch sử hàng mấy trăm năm, là một trong những di tích tiêu biểu cho tín ngưỡng Phật giáo ở vùng đất Kẻ Diên. Chùa được xây dựng trên một ngọn đồi khi ngày trước ở đây cây cối um tùm, đường sá khó đi. Qua bao phen chiến tranh ly tán, chùa Diên Thọ đã được xây dựng lại và có được diện mạo như hôm nay. Chùa Diên Thọ được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Theo giới chuyên môn thì chùa được xây dựng trên một đồi cát, với trước là trằm nước nổi nối với Bàu Chùa làng Câu Hoan. Chùa được xây dựng vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739 - 1765) và được hoàn thành vào năm 1759. Chùa được tu bổ nhiều lần nhưng cơ bản vẫn giữ được kiến trúc nguyên bản xưa kia. Chính điện là một ngôi nhà ba gian hai chái nhưng nhờ nghệ thuật sử dụng chái kép nên không gian mặt bằng được nâng lên theo chiều dọc. Kết cấu theo kiểu cột chống, cột mốc. Chính điện thờ bộ tượng tam thế, kế tiếp là tượng Thích Ca tọa thiền, thấp hơn nữa là tượng Thích Ca sơ sinh. Gian bên tả thờ tượng Quan Thế Âm, phía sau thờ vọng thủy tổ 12 dòng họ vô tự. Hai bên tả hữu cạnh khảm thờ các vị thủy tổ còn có bàn thờ thờ chư vị phật tử ký tự. Hậu liêu thờ Bồ Đề Đạt Ma.
Cách đó một đoạn đường ngắn là chùa Diên Bình, một ngôi chùa được ra đời sau này do nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của bà con nơi đây. Chùa tọa lạc bên cạnh con đường lớn, thuận tiện cho bà con Phật tử đi lễ hoặc vãn cảnh chùa. Người dân đến với chùa như đến ngôi nhà tinh thần thứ hai của mình, đặng tu tâm dưỡng tính, hướng thiện và hướng thượng. Sinh hoạt Phật giáo đã trở nên một nét riêng biệt, an hòa trong đời sống của người dân quê sau những lo toan trong cuộc sống hàng ngày.
Miệt này có chùa Diên Phước hay còn có tên gọi là chùa Chính Phước. Đây cũng là một ngôi chùa cổ có tuổi đời hàng thế kỷ, xuất xứ từ một niệm phật đường xưa kia. Vị trí này vốn dĩ là vùng đất trũng nằm giữa vùng ruộng nước, sau được đắp bồi dần, được xây cất và tu bổ ngày càng tử tế và thành hình như hôm nay. Ngôi chùa sau rất nhiều biến động thế sự vẫn bằng an, thanh tịnh trong đời sống tâm linh, trong câu chuyện của những người quan tâm đến đời sống tín ngưỡng của bà con ở xứ Kẻ Diên. Thượng tọa Thích Tín Thuận, Trưởng ban nghi lễ Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Trị trò chuyện với chúng tôi cũng cho biết nhiều chi tiết thú vị. Ngay trước sân chùa là một cái giếng cổ còn lại, xưa là giếng làng. Nhìn xuống còn thấy thành giếng bằng gỗ lim hàng mấy trăm năm trơ gan cùng tuế nguyệt. Cách đó mấy bước chân là miếu thờ một vị tướng có công đánh giặc ngoại xâm, sau thác đi được dân làng thờ phụng. Tên tuổi của ngài phủ một làn khói sương huyền thoại, duy lòng thành của người dân với bậc có công thì vẫn còn mãi, lưu truyền với thời gian của một vùng quê phía Nam Quảng Trị.
Ngôi chùa này cũng như bao ngôi chùa khác, gần gũi với chúng sinh, tạo một mối giao hòa giữa đời và đạo, được nhiều người tìm đến để chia sẻ tâm tình. Người ta đến với nhau bằng tình người, bằng những sẻ chia chuyện đời, chuyện đạo để làm cho cuộc sống thêm tươi vui, thái hòa, xua đi những bận bịu đời thường. Âu đó cũng là nét đẹp cần được duy trì trong sinh hoạt Phật giáo hiện nay. Cũng như mỗi khi nghe tiếng chuông chùa, kinh kệ thì tâm hồn lắng lại, để cảm nhận sâu hơn cuộc sống con người, để có thể bình tâm tránh những cám dỗ tham, sân, si - những tinh hoa của tinh thần Phật giáo cho lòng thêm được đôi phần nhân ái, từ tâm.
Lại về với Câu Nhi kẻ sĩ, một ngôi làng nổi danh của đất học Hải Lăng, nơi chôn nhau cắt rốn, sinh thành và đào luyện nhiều nhân tài đất Việt. Làng Câu Nhi thuộc xã Hải Tân cũng nằm cạnh con sông Ô Lâu tình tứ. Trải bao vật đổi sao dời mà vẫn còn đây một doi đất duyên dáng được nhiều người mượn theo phong thủy ví như mũi bút chấm mực vào dòng Ô Lâu mà hun đúc nên khí chất đất này, sinh ra nhiều người con học hành thành đạt, có nghĩa với làng, có công với nước. Những hình ảnh làng quê an bình quen thuộc bên cạnh bến sông khiến ai đó dẫu chỉ một lần đến đây cũng không khỏi bâng khuâng, xao xuyến. Rồi cho đến lúc chia tay lòng vẫn cứ dùng dằng, xao xuyến.
Thùng thình như đình Câu Nhi, câu thành ngữ đã quen thuộc trong lời ăn tiếng nói dân gian, diễn tả sự bề thế và vai vế của đình làng này từ ngàn xưa truyền lại. Làng Câu Nhi thuộc xã Hải Tân chính là tâm điểm xứ Kẻ Diên địa linh nhân kiệt, nơi sinh hạ nên những bậc danh sĩ nổi tiếng cả nước như tiến sĩ khai khoa Xứ Đàng Trong Bùi Dục Tài ngày xưa hay nghệ sĩ tên tuổi như nhạc sĩ Trần Hoàn ngày nay. Năm 1502, cách đây hơn năm trăm năm, làng quê này đã đóng một mốc son chói lọi trên con đường học vấn nửa nước phía Nam từ Quảng Trị trở vào với sự kiện chấn động giới quan lại, nho sĩ: ông Bùi Dục Tài đã đỗ Tiến sĩ đầu tiên Xứ Đàng Trong. Tên tuổi của ông đã được khắc vào bảng vàng bia đá ở kinh thành Thăng Long, được người sau noi gương, được hậu thế lưu truyền. Ông Bùi Văn Nhị, trưởng họ Bùi làng Câu Nhi tuổi ngoại bát tuần vẫn minh mẫn nhắc lại truyền thống học hành, khoa cử của tổ tiên. Tâm nguyện của cháu con vẫn tha thiết nối nghiệp cha ông làm vẻ vang họ tộc, xóm làng.
Làng quê Câu Nhi đã nổi tiếng với nhiều danh sĩ, với nhiều quan đại thần đầu triều xưa kia cũng như nhiều nhà khoa học, nhiều giáo sư tiến sĩ thực tài ngày nay. Đây là nguyên khí, là vốn quý của văn vật đất này có mạch nguồn từ ngày xưa chảy vào hiện tại. Cho đến hôm nay, trong một ngày mùa xuân đến sớm, hậu thế Câu Nhi vẫn cung kính tri ân tiền nhân. Những trí thức thời nay, dẫu bận bịu nhiều việc riêng, chung khi có dịp vẫn hướng về cội nguồn nghiên bút để biết ơn những người khai sáng. Đi cùng với chúng tôi, nhà thư pháp Hoàng Tấn Trung cảm khái nói rằng đất Câu Nhi từ xưa đã vang danh trong sử sách, bao trung thần, lương tướng từ chốn này mà ra, đóng góp nhân tài vật lực cho quê hương đất nước.
Mùa xuân lại về với xứ Kẻ Diên theo quy luật vĩnh hằng của tạo hóa. Vẫn đất ấy, người ấy, có điều gì khác xưa khi cuộc sống không ngừng biến chuyển. Quả thật có rất nhiều điều đã khác xưa. Nhưng có những điều dường như không hề thay đổi. Những cánh cò phân vân trên đồng ruộng chiều tà mà dấu chân lấm bùn đã đi vào ca dao của những người nhà nông một nắng hai sương; những chân ruộng tưởng như thảnh thơi kỳ thực đang nóng lòng, hối hả đợi vụ mùa sắp tới; những làng quê với bến nước sân đình đang ẩn chứa thẳm sâu những gì tinh túy nhất của đất trời và con người từ bao đời nay vẫn thế. Bình lặng và hiền hòa nhưng mảnh đất này đã kết tinh nên nhiều giá trị văn hóa có ý nghĩa quan trọng, nuôi dưỡng nhiều con người đã trở thành nhân vật lịch sử văn hóa của quê hương đất nước. Cứ thế, vùng quê văn vật hiền hòa này vẫn cứ lắng sâu thi vị rút ruột mình mà dâng hiến cho đời, để tạo thành gương mặt mùa xuân.
P.X.D


No comments: