Chúc Mừng Năm Mới

CHUC MUNG NAM MOI

Thursday, July 30, 2015

BUỒN - thơ Vũ Trọng Tâm

BUỒN  

"Buồn như ly rượu đầy
không có ai cùng cạn
Buồn như ly rượu cạn
không còn rượu để say"
                  Lời nhạc của Y Vân

Buồn nhìn ly rượu đầy
Sao chưa nhắp đã say
Buồn uống ly rượu cạn
Cho đất trời lăn quay

Buồn như cánh diều bay
Chao nghiêng chiều lộng gió
Ta chênh vênh nỗi nhớ
Thả hồn trôi theo mây

Buồn trong chiều mưa muộn
Bong bóng vỡ trên tay
Tình như cánh lá bay
Ta một đời lầm lỡ

Buồn như sông mưa lủ
Mênh mông chẳng thấy bờ
Ta theo sóng dật dờ
Trôi theo dòng nước xiết

Buồn như vành trăng khuyết
Nép mình sau ngọn cây
Ru ta giấc ngủ say
Cửa thiên đường mộng ảo

Buồn về hoa phượng đỏ
Ngoài vườn tiếng ve ngân
Mai tiển người sang sông
Giấu cuộc tình đánh mất.!
             
VŨ TRỌNG TÂM

(Gò Công )
READ MORE - BUỒN - thơ Vũ Trọng Tâm

ĐÊM LY BIỆT - thơ Huy Cận Đông Hà

Đêm Ly Biệt 

Đêm ly biệt gọi tên người yêu dấu
Tình hôm nào giờ đôi ngã chia phôi
Hai phương trời tình hờ hững thả trôi
Ta đơn lẽ tim côi mòn mỏi nhớ

Trăng cô độc thức cùng người cách trở
Chai phụ tình sao uống mãi không say
Từng ly buồn đượm vị đắng chia tay
Ta trách cả thế gian nhiều thay đổi

Một dấu chấm, ta riêng mang lầm lỗi
Chỉ mong Người hạnh phúc lật sang trang
Những yêu thương lấp kín hết phủ phàng
Ta sẽ cố, quên tháng ngày điên đảo...

Huy Cận Đông Hà
READ MORE - ĐÊM LY BIỆT - thơ Huy Cận Đông Hà

MƯA - tản văn của Võ Văn Tuyền



MƯA

        Ngoài trời, gió ràn rạt trên ngọn cây, mây đen vần vũ, mặt ao loang loáng lây động từng gợn sóng ngắn ngủi, đứt đoạn rồi lặng dần. Tia chớp lấp lóa, tiếng sấm ầm ầm phía trời Tây làm cho bà con, già có trẻ có, vác chân lên cổ mà chạy tán loạn. Hoạt cảnh, người cào, người quét, người bưng kẻ bê, lom khom tất bật, kệ nệ thúng mũng, chổi nện soàn soạt liên hồi. Tiếng ồn ào của người, của lúa ậm ạch trong tiếng mưa. Mồ hôi mồ kê chảy theo rãnh cùng nước mưa hòa trộn ngẫu nhiên làm ươn ướt trái tim mùa màng. Những hạt lúa vàng một hai nắng thấm nước mưa bỗng trở nên đen đúa, xấu xí, gương mặt người nông dân rạng rỡ hôm nào phút chốc buồn tủi, xám xịt, u ám thẫn thờ.

       Những cơn mưa đầu đông lạ lùng tưởng chừng đơn giản, bất chợt mà tê buốt xót xa. Công sức của dân quê tôi, dầu dãi một nắng hai sương, đều đổ ra sông, ra suối cùng những cơn mưa không mời mà tới. Nó ùa về vội vã và ra đi cũng vội vã. Nhìn hạt mưa mà cứ thở dài cho số phận, đời người. Mỗi đời người cũng giống như hạt mưa.

      Mỗi năm đến mùa mưa, người miền Trung ai nấy đều chuẩn bị tâm thế sống chung với địch họa thiên tai. Mùa mưa lũ về lênh láng, mùa hè gió Lào bỏng cháy da mặt, chân tay nứt toang hoác rớm máu u sầu. Lúa ngoài đồng đang độ oằn bông, vàng ươm như giọt mật, cả cánh đồng bạt ngàn sắc vàng hạnh phúc ngời trong mắt người nông dân. Thế mà, chỉ vài cơn mưa đầu mùa, cả đám lúa rủ nhau ngã rạp. Người nông dân như gục gã. Chốc lại bóp trán mà ngửa cổ lên trời: Làm sao có lúa ăn đến mùa giáp hạ, tiền đâu mua chai nước mắm, gói bọt ngọt, miếng tỏi, cục đường… và tiền học phí của mấy đứa con ai cho khất mà xin, và nhiều nhiều  nữa…tưởng chừng như không thể nào dứt như những cơn mưa. Nhưng mùa mất thì vẫn cứ mất, người sống thì vẫn phải cố sống. Đời mỗi con người cứ quẩn quanh trong mớ bòng bong đồng tiền. Năm này qua năm khác người miền Trung vẫn kiên cường chống chọi thiên tai, bất khuất trong chiến đấu.

       Năm nay, tôi đi học xa nhà nên chẳng thể biết mưa gió ngoài quê ra sao. Chỉ nghe qua lời kể của bố me. Nhà mất nhiều nhà mất ít. Người gặt sớm được nhờ, người gặt muộn, vốc lúa  lên tay mà lúa đã lên mầm trên bông để rồi buồn buồn tủi tủi. Tối đến, cả nhà dọn cơm lên ăn, thằng con làm rơi mấy hạt cơm mà tôi quất luôn vài roi vào mông cho bỏ tức. Đánh rồi lại thương, thương để xót xa, thương con vì con sống ở thành phố đâu biết ngoài kia ông bà nội đang phải gánh gồng, chống chọi với thiên tai. Để có được hạt lúa ăn đâu có dễ như để rơi vài hạt. Con cũng đâu có biết một vài hạt lúa rơi rớt cũng làm ông bà nội tiếc nuối xót xa. Rồi lại thương lây về bản thân mình, ngày xưa cứ mỗi lần lúa ngã, muốn có tiền đi học phải gánh lúa thuê bầm trầy cả bả vai. Bó lúa khô gánh một lúc đã thấy mệt bở hơi tai, thế mà không biết động lực từ đâu, lúa thấm nước nặng như chì mà cứ đi băng băng trên bờ ruộng gập ghềnh lắm ổ gà, hũm trâu. Đó có phải do động lực từ việc học. Nghĩ đi rồi phải nghĩ lại. Bây giờ con mình lớn lên ở chốn thị thành liệu nó có hiểu giá trị của sức lao động. Có hiểu ngày xưa bố mẹ chúng phải đổi từng hạt lúa để có chữ đem về làm hành trang trên con đường học vấn.

      Tối nay, mưa rơi lộp độp ngoài sân, nằm trong chăn ấm nghe mưa rơi mà không sao chợt mắt nổi. Mở ti vi lên xem, người phát thanh viên nói về lũ lụt miền Trung đang diễn ra phức tạp, nghe tin ấy mà tay chân tôi muốn rụng rời. Thế rồi cả đêm cứ thao thao thức thức trằn trọc mong trời mau sáng để điện thoại về hỏi  thăm tình hình làng quê. Ông anh ở quê kể về lũ lụt không biết mô tả thế nào, cứ dùng chân khuấy nước đang dâng ngang lững gác nhà mà cười khà khà coi như chuyện giỡn chơi.

       Mỗi người có kí ức về mưa khác nhau. Những người trẻ khi nói về mưa thường gắn với những mối tình ướt át, trẻ con nói về mưa là những bữa cởi truồng tắm mưa dưới xối nước nhà ai đó sướng hơn tắm vòi sen, còn người thành phố nói về mưa đậm chất lãng mạn của những bữa nhậu vỉa hè, uống cà phê ngắm mưa, hay ngủ nướng trong  chăn bông dày cộm. Còn với tôi và những người dân chạy dài suốt dọc miền Trung nhắc đến mưa với sự lo lắng, những trận lũ, mất mùa, đôi khi là mất cả người thân.



VÕ VĂN TUYỀN 
Giáo viên, Trường PTDTBT THCS Phước Chánh;
Thôn 2-Phước Chánh- Phước Sơn- Quảng Nam; 
email. votuyenthangbinh@gmail.com.
READ MORE - MƯA - tản văn của Võ Văn Tuyền

CHUYỆN THẬT NHƯ ĐÙA: BÓI DẠO - Truyện vui Đặng Xuân Xuyến




           CHUYỆN THẬT NHƯ ĐÙA: BÓI DẠO

                                                -Truyện vui Đặng Xuân Xuyến

Gã thanh niên xấp xỉ tuổi 30, chằm chằm nhìn LÃO, rồi  bả lả hỏi:
- Này anh. Có tin con người có số mệnh không?
Đang buồn vì không có người nói chuyện, thấy cách “bắt chuyện” của gã cũng hay hay, lạ lạ nên LÃO trả lời:
- Có chứ! Giày dép còn có số nữa là đời người!
Như gãi đúng chỗ ngứa, gã vỗ tay đến đét cái, hỉ hả:
- Biết ngay mà. Nhìn là biết anh thuộc người của tứ phủ, cũng căn quả lắm đây! Mà... vợ con gì chưa?
LÃO cười cười:
- Con thì có, vợ thì giờ vẫn chưa kiếm được.
Gã sấn đến, ngồi xuống, cầm tay LÃO, gãi gãi, xoa xoa. Ngón tay út khẽ cong lên, rồi ấn ấn, bóp bóp, dạn dĩ và rất chuyên nghiệp.
Vuốt vuốt gan bàn tay, cạ đi cạ lại gò Kim Tinh trên bàn tay của LÃO, gã nheo nheo mắt, nhăn nhở:
- Lại chuyện bị vợ chê là yếu sinh lý chứ gì? Gớm! Trông ra dáng gà chiến thế này mà... chẳng khác gà thiến là mấy... Tiếc nhỉ?
LÃO  giả bộ nai tơ, ngạc nhiên hỏi:
- Sao biết? Tài thế?
Gã bĩu môi rõ dài, rồi nhấn nhá:
- Không phải khoe đâu nhá... Em nhìn là em biết ngay. Đàn ông mà mặt buồn buồn như thế này thì khổ vì chuyện phòng the là đúng rồi. Lại nữa, cái tay... Ối giời ơi, gò Kim Tinh gì mà nát như băm như vằm thế kia thì đĩ lên đĩ xuống là phải... Từ từ, để xem đường sinh lý thế nào nào... Gớm, ngại cái gì, đĩ vung đĩ vẩy như thế mà cứ giả bộ đàng hoàng, đứng đắn... Ôi, nhìn cái bàn chân kìa, dài rộng thế này thì vợ nó chê như đuôi chuột ngoáy lọ mỡ là phải? ... Dào ồi! Vẽ chuyện. Mấy thằng đực với nhau thì ngượng cái gì?... Đưa tay mặt ra đây... Thế, thế...... Nhắm mắt lại xem nào… Xem giúp thôi, có lấy tiền đâu mà sợ đắt với rẻ?...
LÃO thấy kỳ kỳ nên rụt tay lại, ngó quanh, ái ngại:
- Uầy... Có gì đâu mà sợ? Chỉ là thấy nhột nhột nên không thích, thế thôi!
Gã nhìn LÃO, thêm chăm chú, rồi trầm giọng:
- Này, hỏi thật nhé, có định đi bước nữa không? Hay quyết định ở góa nuôi con?
Chẳng hiểu sao LÃO lại trải lòng:
- Cũng mấy lần định tìm vợ nhưng cu con phản đối dữ quá nên tạm gác lại, đợi vài năm nữa cu con lớn hẳn mới tính tiếp chuyện ấy...
Gã nhìn LÃO, xỉa 2 tay vào nhau, vỗ đến đét một cái, rồi cao giọng:
- Ngu thế! Việc gì phải kìm hãm sự sung sướng lại làm gì? Ở góa mà nuôi con cũng tốt nhưng chuyện bồ bịch thì cứ phải chiến vô tư chứ... Dở hơi à mà kìm hãm sự sung sướng của mình như thế... Gái nó chửi cho đấy! Dở!
Đảo mắt thật nhanh, gã véo LÃO một cái rõ đau, rồi hạ giọng, thủ thỉ:
- Này, trông vẫn còn nặng nghiệp lắm, vẫn còn nhiều Đào Hoa lắm. Yêu đi, đừng kìm hãm sự sung sướng như thế... Năm nay, vận Đào Hoa sẽ nhiều đấy, chớp lấy cơ hội, đừng để tuột mất như mấy năm trước mà uổng.... Vài năm nữa, có các thêm vàng, gái nó cũng chẳng thèm đâu....
Gã lại chăm chắm nhìn, ánh mắt như lọc xương lọc thịt, rồi ngón tay lại ấn, lại véo, lại làm LÃO đau, LÃO nhột.
Bất giác gã trai hất tay LÃO, thở hắt ra, rồi trệu trạo mà gượng cười:
- Xem giúp thế thôi. Đến giờ đi đón vợ rồi... Đừng ngẩn người ra như thế! Có duyên ắt gặp lại. Bb nhé!
Nhìn theo gã, LÃO giật mình, lẩm bẩm:
- Ơ... Rõ là vớ vẩn! Tự nhiên lại ngồi nghe mấy chuyện tào lao, chẳng đâu vào đâu... Rõ thật... đồ ngớ ngẩn!


                                                  Đặng Xuân Xuyến

READ MORE - CHUYỆN THẬT NHƯ ĐÙA: BÓI DẠO - Truyện vui Đặng Xuân Xuyến

Wednesday, July 29, 2015

Trang viết đầu tay: GÁNH HÀNG RONG CỦA MẸ - Tản văn của Phan Nam



GÁNH HÀNG RONG CỦA MẸ
Tản văn của Phan Nam

Khi ánh điện sáng rực rỡ trên các tuyến phố thì cũng là lúc mẹ tôi bắt đầu công việc của mình. Ngày nào cũng vậy, trên đôi vai gầy mẹ phải luôn gánh hàng, đó là món bắp nấu và đậu hũ nóng đi bán khắp phố phường.

Khi đất nước ngày càng phát triển đi lên, để đảm bảo văn minh đô thị, thì hoạt động của những người bán hàng rong như mẹ tôi ngày càng hạn chế. Thế nhưng đối với mẹ tôi, gánh hàng rong lại là cả một cuộc đời – một cuộc đời lam lũ để chăm sóc và dành tình thương vô hạn cho những đứa con của mình. 

Nhiều đêm, tôi nhìn thấy mẹ lọ mọ thức dậy nổi lửa nấu bắp mà tôi không khỏi ngậm ngùi. Một đứa trẻ trong trạng thái nửa tỉnh nửa mơ không thể làm gì ngoài việc ngồi nhìn mẹ làm việc và trò chuyện cùng mẹ. Có lẽ, đối với mẹ, như thế là quá đủ để giúp mẹ nở một nụ cười có thể vơi bớt những nhọc nhằn đã hằn sâu trên gò má. 

Những lúc mẹ gánh hàng về, năm anh em chúng tôi lúc nào cũng vội vàng chạy ra vây quanh mẹ với mục đích chính là đòi quà. Mẹ luôn chuẩn bị sẵn sàng cho chúng tôi đủ loại bánh trái mà trẻ con rất thích. Những lúc như vậy, mặt mẹ luôn rạng rỡ mặc dù những giọt mồ hôi còn lấm tấm trên vầng trán. Những suy nghĩ non nớt của những đứa trẻ chúng tôi không biết được rằng mẹ đã phải nhịn ăn để mua quà cho chúng tôi…

Thưở ấy anh em chúng tôi sợ nhất là những ngày mẹ ế hàng, khi đó chúng tôi phải chén hết nửa xô đậu hủ ế của mẹ. Trong không khí ấm áp của căn nhà lụp xụp trong lòng phố thị, tất cả mẹ con ngồi ăn trong tư thế bị “ép buộc”. Chúng tôi vừa nhăn nhó vừa bưng chén đậu hũ mà không khỏi nghẹn lòng. Ngày đầu khi ăn đậu hũ trừ cơm như thế này quả thật là rất ngon, nhưng khi mà số lần mà mẹ ế hàng ngày càng nhiều thì tôi tỏ ra rất ngán. Khi ấy mẹ chỉ cười và bảo: “Các con ráng ăn hết đi, đậu hũ này rất ngon và có đầy đủ chất dinh dưỡng đấy, không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc các con à.” Mặc dù than thở như vậy nhưng chúng tôi cũng ăn hết một phần vì đói một phần cũng vì thương mẹ.

Đôi chân đã chai sần của mẹ hàng ngày vẫn phải vất vả rong ruổi trên từng đoạn đường góc phố để nuôi chúng tôi ăn học. Thấy mẹ ngày một xanh xao mà tôi không khỏi xót xa. Khi những ánh điện rực rỡ ngoài kia được thắp sáng cũng là lúc tôi rất sợ: sợ mẹ tôi lại bị ế hàng, sợ phải ăn hết cả gánh đậu hũ của mẹ, sợ mẹ phải dầm ướt dưới những cơn mưa xối xả ngoài kia, sợ mẹ sẽ không còn đủ sức để bám trụ với những gánh hàng nhọc nhằn mỗi tối.  Và điều tôi sợ nhất là mẹ sẽ rời xa năm anh em tôi mãi mãi… Chỉ cần nghĩ đến vậy thôi là tôi không thể cầm lòng, nước mắt đã rơi lã chã tự lúc nào.


Giờ đây, tôi sắp trở thành chàng tân sinh viên đại học và chắc chắn gánh hàng rong sẽ còn nặng trĩu trên đôi vai gầy của mẹ. Tôi chỉ mong muốn bốn năm khó khăn này sẽ trôi qua thật nhanh để tôi có thể giúp đỡ mẹ, để gánh hàng rong của mẹ sẽ bớt nhọc nhằn vào những ngày đông giá rét.

PHAN NAM
(Tiên Phước – Quảng Nam)

*****
Tác giả hiện đang học tại lớp báo chí, Khoa Ngữ Văn, Trường ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng.

Email: phanvannamsp@gmail.com.
READ MORE - Trang viết đầu tay: GÁNH HÀNG RONG CỦA MẸ - Tản văn của Phan Nam

TÌNH KHÚC Trương Thị Thanh Tâm

Tác giả Trương Thị Thanh Tâm



TÌNH NHỚ

Đợi nhau tóc đã hai màu
Nỗi buồn hóa đá ,nỗi sầu hóa mây
Bơ vơ một nhánh si gầy
Hắt hiu bóng nắng ngã dài sân rêu


HƯƠNG ĐỜI

Cho anh dòng suối êm trôi
Bước chân quen, vẫn ngược xuôi cõi về
Bến yêu còn đó hẹn thề
Tuổi xuân giử lại hương đời cho nhau


TÌNH MUỘN

Mùa Thu màu lá chưa vàng
Chút hương tình ái muộn màng trao nhau
Lá vàng sẽ rụng về đâu
Em như vạt nắng trôi mau qua thềm !


             Trương Thị Thanh Tâm (Mỹ Tho
READ MORE - TÌNH KHÚC Trương Thị Thanh Tâm

Tuesday, July 28, 2015

Chiều Bên Sông - Vàng Phai - thơ Trầm Mặc



Chiều Bên Sông

Ta về ngồi với dòng Hương                                 
Xa xăm một chút vấn vương mắt buồn                                
Ngày xưa, giọt nhớ, giọt tuôn                                 
Dấu yêu chi lắm để luôn nhớ người                               
Ta về tìm lại nụ cười                               
Bóng xưa đâu nữa mà tươi má hồng                               
Thôi về giá lạnh mùa đông                                
Đem theo kỉ niệm bên dòng sông xưa                              
Yêu thương biết mấy cho vừa                              
Dẫu thôi gặp lại, có thừa nhớ trông                              
Mai sau cuối cuộc, còn không ?...                               
Trả sao cho hết nguồn sông nghĩa tình 


                                                                   
Vàng Phai 

Mùa rơi cho lá hương bay                                                   
Vàng phai từng chiếc Thu may ôi buồn!                                             
Ráng chiều phố thị còn vương                                                   
Lưa thưa giọt nắng cuối đường ngày qua...                                         
Lối về in bóng xót xa                                                   
Sông hoài vắng lặng... bao la tình sầu                                                  
Con thuyền phiêu lãng bên cầu                                                   
Xa xăm mòn mỏi giang đầu đợi ai...
                                                                                             
28/7/2015                                                                                          
Vỹ Dạ Thành phố Huế
Trầm Mặc                                                                      
(NTB)
                                 

READ MORE - Chiều Bên Sông - Vàng Phai - thơ Trầm Mặc

ÁNH SÁNG TÌNH YÊU - Nguyên tác bằng tiếng Anh văn xuôi - Nguyễn Tường chuyển sang tiếng Việt văn vần





ÁNH SÁNG TÌNH YÊU

Khách xe bus ánh nhìn thiện cảm
khi người phụ nữ trẻ lên xe;
với chiếc gậy màu trắng cặp kè,
nàng cẩn thận bước lên từng bước.
Nàng trả tiền tài xế ngồi trước
và dùng tay xác định ghế ngồi,
bước giữa lối đi tìm đúng nơi
ông đã báo cho nàng đang trống.
Rồi nhẹ nhàng nàng ghé ngồi xuống
đặt va-ly và gậy trên chân.

Đã một năm từ khi Susan
34 tuổi, bị mù hai mắt.
Do một sự chẩn đoán sai lạc,
nàng đột nhiên thành một người mù,
bị ném vào thế giới âm u,
tức giận, tủi thân và thất vọng.
Nàng phải bám vào Mark để sống.

Mark, chồng nàng, sĩ quan không quân
và anh đã yêu thương Susan
bằng tất cả trái tim anh ấy.
Lần đầu lúc mắt không trông thấy,
anh nhìn nàng tuyệt vọng đắm chìm
và xác định giúp đỡ vợ mình
có sức mạnh, tự tin cần thiết
để không sống phụ thuộc ai hết.

Cuối cùng, Susan thấy sẵn sàng
trở lại với công việc của nàng,
nhưng bằng cách nào để đến đó?
Nàng thường đi xe bus sẵn có,
nhưng nay nàng quá sợ tự mình
đi quanh trong thành phố rộng thinh.
Mark tình nguyện đưa nàng tới chỗ,
dù họ làm hai đầu thành phố.
Lúc đầu, nó an ủi Susan,
và Mark chu toàn công việc cần
phải che chở người vợ hư mắt
chưa quen từ những việc nhỏ nhặt.
Tuy nhiên, không lâu, Mark thấy rằng
sự sắp xếp đã không dễ dàng.
Susan sẽ đi xe bus lại,
điều nầy chàng thừa nhận trở ngại,
Dù sao nàng vẫn còn mỏng manh,
làm sao khi phản ứng chưa quen?

Đúng như những gì chàng dự đoán,
chuyện đi xe khiến nàng la toáng.
"Em đang mù!" giọng nàng đắng cay.
"Làm sao mình em biết cách xoay?
Em thấy anh bỏ rơi em đấy!"
Mark đau lòng khi nghe nói vậy,
nhưng chàng biết điều gì phải làm.

Chàng đã hứa với Susan rằng
chàng đi xe cùng nàng mọi lúc,
đến khi nàng có thể tự lực.
Và điều đó xảy ra như lời.
Đúng hai tuần, đưa đón tận nơi,
Mark trong bộ đồng phục quân đội
cùng Susan đi về sớm tối.
Chàng dạy nàng cách dùng giác quan,
đặc biệt là đôi tai của nàng,
để xác định nơi mình đang đứng
và làm thế nào để thích ứng
với môi trường sống mới của mình.
Chàng giúp nàng tạo mối cảm tình
với tài xế, người sẽ quan sát,
và dành cho chỗ ngồi khoảng khoát.

Cuối cùng, Susan quyết định rằng
việc tự đi xe đã sẵn sàng.
Sáng Thứ Hai đầu tuần đã đến,
và trước khi xe bus di chuyển,
nàng quàng tay ôm Mark, chồng nàng,
người cùng đi xe, người bạn vàng.
Mắt đầy lệ biết ơn ngập lòng
về sự trung thành của người chồng,
sự kiên nhẫn và tình yêu nữa.
Nàng chia tay và leo lên cửa,
lần đầu, hai người đi đường riêng.

Những ngày sau đó kế tiếp liền,
chuyện đi về nàng dần thành thạo.

Nàng đón xe bus sáng Thứ Sáu
đến chỗ làm như thường mọi khi.
Lúc trả tiền, trước khi rời đi,
tái xế nói, "Tôi ghen tị đấy."
Susan không chắc rằng câu ấy
tài xế nói với mình hay không.
Nói cho cùng, ai lại mất công
ghen tị một người mù vất vả
chỉ mong tìm thấy chút gan dạ
để sinh sống trong một năm qua?

Tò mò, nàng đã hỏi ông ta,
"Tại sao ông nói ông ghen tỵ?"
Người tài xế đáp, "Tôi để ý.
Phải nói quá tốt được chở che
và săn sóc như cô đó nghe!"

Susan không hiểu ý ông nói
nên một lần nữa, cô lại hỏi,
"Ông nói vậy có ý nghĩa gì?"

Người tài xế đáp, "Cô nghĩ đi!
Tuần lễ qua cứ mỗi buổi sáng,
một người đàn ông trông bảnh lắm
mặc đồ quân nhân đứng bên kia
quan sát cô từng mỗi bước đi
lúc cô vừa ra khỏi xe bus.
Ánh mắt anh ta vẫn không ngớt
đến khi biết chắc cô an toàn.
bước chân vào khuất trong chỗ làm.
Rồi ông tặng cô nụ hôn gió,
đưa tay chào và rời khỏi đó.
Cô là phụ nữ may mắn thay."

Nước mắt Susan đã chảy dài,
những giọt nước mắt của hạnh phúc.
Dầu không thể nhìn thấy chàng thực,
nàng luôn cảm thấy Mark gần ngay.
Nàng rất may mắn, may mắn thay,
vì chàng cho mình món quà tặng,
sức mạnh còn hơn cả ánh sáng,
một món quà nàng không cần nhìn
để cần phải thấy rồi mới tin--
quà tình yêu có thể mang tới
ánh sáng nơi nào đang tăm tối.

Nguyễn Tường chuyển ý
New York, July 26, 2015

----
Military’s love… in sickness!
by STEPHEN

The passengers on the bus watched sympathetically as the attractive young woman with the white cane made her way carefully up the steps. She paid the driver and, using her hands to feel the location of the seats, walked down the aisle and found the seat he’d told her was empty. Then she settled in, placed her briefcase on her lap and rested her cane against her leg.

It had been a year since Susan, 34, became blind. Due to a medical misdiagnosis she had been rendered sightless, and she was suddenly thrown into a world of darkness, anger, frustration and self-pity. And all she had to cling to was her husband, Mark.

Mark was an Air Force officer and he loved Susan with all his heart. When she first lost her sight, he watched her sink into despair and was determined to help his wife gain the strength and confidence she needed to become independent again.

Finally, Susan felt ready to return to her job, but how would she get there? She used to take the bus, but was now too frightened to get around the city by herself. Mark volunteered to drive her to work each day, even though they worked at opposite ends of the city. At first, this comforted Susan, and fulfilled Mark’s need to protect his sightless wife who was so insecure about performing the slightest task. Soon, however, Mark realized the arrangement wasn’t working. Susan is going to have to start taking the bus again, he admitted to himself. But she was still so fragile, so angry-how would she react?

Just as he predicted, Susan was horrified at the idea of taking the bus again. “I’m blind!,” she responded bitterly. “How am I supposed to know where I am going? I feel like you’re abandoning me.”

Mark’s heart broke to hear these words, but he knew what had to be done. He promised Susan that each morning and evening he would ride the bus with her, for as long as it took, until she got the hang of it. And that is exactly what happened. For two solid weeks, Mark, military uniform and all, accompanied Susan to and from work each day. He taught her how to rely on her other senses, specifically her hearing, to determine where she was and how to adapt her new environment. He helped her befriend the bus drivers who could watch out for her, and save her a seat.

Finally, Susan decided that she was ready to try the trip on her own. Monday morning arrived, and before she left, she threw her arms around Mark, her temporary bus-riding companion, her husband, and her best friend. Her eyes filled with tears of gratitude for his loyalty, his patience, and his love. She said good-bye, and for the first time, they went their separate ways. Monday, Tuesday, Wednesday, Thursday… Each day on her own went perfectly, and Susan had never felt better. She was doing it! She was going to work all by herself.

On Friday morning, Susan took the bus to work as usual. As she was paying the fare to exit the bus, the driver said, “Boy, I sure do envy you.” Susan wasn’t sure if the driver was speaking to her or not. After all, who on earth would ever envy a blind woman who had struggled just to find the courage to live for the past year?

Curious, she asked the driver, “Why do you say that you envy me?” The driver responded, “It must feel good to be taken care of and protected like you are.”

Susan had no idea what the driver was talking about, and again asked, “What do you mean?”

The driver answered, “You know, every morning for the past week, a fine-looking gentleman in a military uniform has been standing across the corner watching you as you get off the bus. He makes sure you cross the street safely and he watches until you enter your office building. Then he blows you a kiss, gives you a little salute and walks away. You are one lucky lady.”

Tears of happiness poured down Susan’s cheeks. For although she couldn’t physically see him, she had always felt Mark’s presence. She was lucky, so lucky, for he had given her a gift more powerful than sight, a gift she didn’t need to see to believe-the gift of love that can bring light where there is darkness.


Author Unknown
READ MORE - ÁNH SÁNG TÌNH YÊU - Nguyên tác bằng tiếng Anh văn xuôi - Nguyễn Tường chuyển sang tiếng Việt văn vần

Monday, July 27, 2015

SAY! - RU MÃI TÌNH EM - thơ Phạm Phan Hòa

Tác giả Phạm Phan Hòa



SAY!

Ta đang đối ẩm với mình
Ta đang chuốc chén để tình ta say
Trời cao đất rộng ô hay!
Biển xanh rừng thẳm gót hài em qua,
Bình minh rộn  tiếng chim ca
Hoàng hôn bóng đổ thướt tha em về
... Người sao nỡ quên ước thề!
Mình em lạc giữa bốn bề tâm giao
Cỏ say lời gió lao xao
Ta say tình với khát khao tặng người.

PPH
QN 2009.


RU MÃI TÌNH EM

                  * Tặng NTBTM.

  Mưa đem tuôn hòa trong tiếng gió gào âm thanh chát khô mà lạnh lùng làm em sợ... Lòng đêm thăm thẳm sâu bóng tối cứ mãi rập rình cùng lẫn tránh - một thời ú tim trò chơi trốn tìm.
  Anh mắc bên đời cánh võng ru tình đong đưa xa khơi, ngày cuối Hạ nắng phớt hồng lung linh màu chiều trên môi hoa. Biển đã lặng rồi những cơn bão giông người từ trăm năm cũng đã chợt quay về! Thu xếp thật đều từng ngăn mùa lá ủ ấm cánh phượng hồng còn tươi nguyên một thời hoa đỏ in dáng hình trên những vạt áo tinh khôi đùa bay trắng trời.
  Mùa Đông bao năm cũng theo về  trước ngõ rả rích lời ru ngày tháng qua! Không là những cơn mưa ngày xưa làm em ướt áo buốt lạnh đôi môi tím tê đợi chờ khắc khoải mà là những mùa đông cuối về cho người nghe thấy trọn cái ấm áp thật sự sau bao tháng năm mãi dong ruổi đi tìm.
  Nhạc khúc (Mưa Ru) còn đọng lại thắm xanh trên phím đàn ấm lòng Mẹ ầu ơi.. ngày em còn bé thơ... Thương ru tuổi nào bột bồng tinh nghịch, giọt nước mắt nào long lanh trong xanh một thời hồn nhiên vô tư hãy còn âm ấm trên cung trầm- cánh bướm hồng xưa ép đầu trang vỡ thức dậy vỗ bay theo cùng tháng năm. Anh gửi tình chia vào lời chim hót vang đường em đi.. cùng bao nhọc nhằn phiền muộn tan biến trên môi lá reo vui quanh lối em về.
  Và mây như ngừng trôi vùi ngủ trên đỉnh trời mùa Xuân gió Xuân nhè nhẹ thướt tha sắc đỏ, tím, hồng- Con suối hiền ngàn năm thầm thì ru đá gửi bản nhạc lòng về nơi thung xa, loài cỏ mượt mềm xanh lao xao trăm lời ru của gió cánh bướm một thời ngất ngấy bên bờ hoa mộng- cung đàn anh cao vút thanh âm tan trong đất trời hòa quyện vào nhịp điệu thiết tha ngàn đời ru tình... Ru em.

Phạm Phan Hòa

QN. 27/7/2015.
READ MORE - SAY! - RU MÃI TÌNH EM - thơ Phạm Phan Hòa

CON TIM TRỞ CHỨNG - Truyện ngắn của Lão Gàn


           
           Tác giả Lão Gàn 

              CON TIM TRỞ CHỨNG

Trong cái phòng trọ chiều rộng chỉ 3 mét, chiều sâu chỉ 5 mét, nằm bên cô Diễm, ông Trọng ngáy phì phò, tiếng ngáy to đến nỗi người hàng xóm ở cách đó khoảng 5, 7 mét vẫn nghe được. Tiếng ngáy không đều, thỉnh thoảng ngưng một chốc rồi bao nhiêu hơi trong lồng ngực, trong bụng theo đàng miệng phụt ra thật nhanh, thật mạnh và tiếng ngáy nghe trở lại.
Cả đêm, cô Diễm – vợ ông Trọng - trằn trọc qua về. Nghe ngóng đứa con riêng của mình ở giường bên kia đã ngon giấc, cô nghiêng người, xoay mặt áp sát vào thân ông Trọng, đưa tay nhẹ nhàng vuốt xuôi rồi vuốt ngược trên đầu ông – cái đầu lưa thưa tóc, chỗ có chỗ không. Cô ngồi dậy, trong màn tối, mằn mò mở các khuy áo của ông; bàn tay cô đi một đường nhẹ trên thân mình ông từ cổ xuống ngang rốn, dừng lại đó. Rồi như có cái gì thôi thúc, cô bạo gan, luồn tay vào quần ông, xoa nhiều lần; ông vẫn nằm yên, cô không nhận được một phản ứng gì đặc biệt, cô nằm ngửa lại, thở ra một tiếng thật dài.

Cô Diễm tục hôn với ông Trọng đã mấy tháng rồi. Tuy độ chênh tuổi tác rất lớn, hai người vẫn xưng hô với nhau “anh anh em em” ngọt xớt. Mỗi tháng, sau khi nhận tiền hưu, ông Trọng đưa cho cô Diễm năm triệu bạc phụ vào để trang trải chi phí sinh hoạt gia đình.

Ông Trọng sinh năm 1921 – tuổi Tân Dậu - tại một làng quê nghèo miền Trung Việt Nam. Thuở ấy, thực dân Pháp đang đô hộ nước ta. Năm 1939, Chiến Tranh Thế Giới II bùng nổ, quân Phát Xít Đức đánh chiếm nước Pháp rất nhanh; thanh niên Pháp, theo lệnh tổng động viên, lên đường bảo vệ chính quốc. Đế quốc Pháp cần lao động làm việc trong các công binh xưởng, yểm trợ chiến trường; thế là thanh niên từ các thuộc địa bị bắt sang Pháp sung vào lực lượng này.
Ở Việt Nam, chính quyền ra quy định là gia đình nào có nhiều con trai trưởng thành phải nộp một người. Gia đình Ông Trọng đông anh em trai; lúc ấy, ông Trọng đã 18 tuổi, thân hình cao to, dáng vẻ khỏe mạnh, được lệnh phải gia nhập vào đoàn quân sang Pháp làm lính thợ.
Tội nghiệp cho hoàn cảnh của ông! Ông đang tính chuyện trăm năm với một cô gái làng. Tuy lễ hỏi, lễ cưới chưa tổ chức, bố mẹ ông đã đôi ba lần sang thăm bố mẹ cô gái, lần thì cặp bánh đường đen, lần thì be rượu, lần thì miếng thịt heo …; thủ tục ấy ở thôn quê được gọi bông đùa là “bỏ nhành nè” – nhánh nè chận lối tấp đường những nhà khác có con trai đừng vào nữa.
Cuộc sống chồng vợ sau lũy tre làng, sáng ruộng chiều nương, đối với ông Trọng, tưởng không còn xa nữa. Oái oăm thay chiến tranh! Vậy là ông phải xa nhà.

Một sáng mùa đông, trời lạnh lắm, mưa lất phất, ông Trọng lên đường, cô gái theo tiễn; chiếc nón ngả màu nghiêng che một nửa khuôn mặt; cái tơi xoay cản rét, che khuất cả quần áo; dáng bước bẽn lẽn; đôi má ửng hồng. Hai người đi cách nhau một khoảng khá xa; ông Trọng đi trước, cô gái theo sau, thỉnh thoảng, ông ngoái cổ nhìn lén người mình yêu.
Gần tới cổng làng, bỗng ông bước chậm lại, cô gái bắt kịp. Hai người sắp chia tay; đảo mắt nhìn, thấy không ai để ý, ông chuồi vào tay cô gái cái gì đó mà từ nãy đến giờ ông nắm chặt trong tay mình. Cô gái bịn rịn, đưa tay lên dụi mắt; hai mắt đỏ hoe, nhấp nháy lia lịa, nước mắt túa ra mấy giọt lăn chầm chậm xuống đôi má, tựa như hai viên ngọc.
Ông Trọng được chở vào tỉnh lỵ, nhập với đồng đội tuyển từ các làng khác trong tỉnh. Dù là lính, cả đoàn thanh niên ngơ ngác, vẻ mặt lo lắng, không lộ một tí gì hào hùng; đúng là dân thuộc địa bị cưỡng bức đi lính bảo vệ chính quốc.

Đoàn tân binh được hướng dẫn lên tàu hỏa. Tàu rời ga vào một buổi chiều, bầu trời xám xịt, tàu hú còi, đầu máy chuyển động, khởi hành. Hàng toa dài kết nối với nhau lăn bánh vang âm thanh “xụt xịt” ồn ào, nghe uất nghẹn như tiếng khóc nức nở của những người con chào từ giã quê hương để đến một nơi lạ lùng, xa lắc xa lơ.
Tàu đến Hà Nội. Trong sân rộng của một doanh trại, mấy chục ngàn lính tân tuyển từ khắp các tỉnh ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ tập trung, phân thành tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn rồi tuần tự xuống cảng Hải Phòng. Tại đây, một chiếc tàu thủy lớn há miệng nuốt vào cả đoàn người không khác chi một con cá mập đang nuốt mồi.
Tàu thủy rít mấy hồi còi dài rồi từ từ ra biển lớn. Tàu lênh đênh trên đại dương. Nhiều lúc, ông Trọng cảm thấy buồn da diết, buồn vì nhớ quê hương, buồn vì nhớ người thân, nhất là nhớ cô vị hôn thê ở làng; ông thường ngồi trệt giữa sàn tàu, hai tay choàng ôm trọn hai đầu gối chống lên, mặt úp xuống, khóc thầm; ông cứ tưởng tượng nếu chiến tranh không xẩy ra, giờ này ông đã cưới vợ; ngày đêm kề vai sát cánh cùng người vợ thân yêu tạo dựng một tiểu gia đình hạnh phúc. Ông che giấu nỗi buồn, không muốn cho ai biết lòng mình như thế nào vì e ngại người ta chê cười mình là thanh niên mà quá yếu đuối về tình cảm.
Bốn tháng sau, tàu cập cảng Marseille – một cảng ở miền Nam nước Pháp bên bờ Địa Trung Hải.

Lúc chia tay, cô gái ở quê nhận mảnh giấy xếp tư có dòng chữ: “Em cố gắng đợi, chắc chắn không lâu nữa anh sẽ về. Dù chân trời góc bể nào, hình bóng em vẫn luôn trong tim anh”. Ông Trọng đã học xong bậc Yếu Lược; hồi ấy, những ai đậu bằng Yếu Lược đã có trình độ tương đối khá, đặc biệt là chữ viết phải ngay ngắn, rõ ràng; vậy mà chỉ chừng ấy chữ, ông Trọng lại viết nguệch ngoạc, nét chữ run rẩy, chắc lúc viết, ông mang tâm trạng bối rối, bồi hồi lắm.
Dù ông Trọng và vị hôn thê chưa một lần trực tiếp nhỏ to tâm sự, qua nhiều lần bố mẹ thăm viếng nhau, tình yêu đã có chỗ dựa để nẩy nở trong con tim của mỗi người. Thời đó, việc dựng vợ gả chồng hoàn toàn do cha mẹ hai bên định đoạt, tình yêu của đôi lứa thường đến sau sự dàn xếp của bố mẹ. Bây giờ thì khác, trai gái tìm những nơi kín đáo, tối tăm, tâm tình trao đổi, tình yêu bùng ra lửa mới cậy bố mẹ đôi bên tác hợp. Ngày xưa ấy, bố mẹ kén vợ, chọn chồng cho con dựa vào khá nhiều tiêu chuẩn: dòng giống, nết hạnh, sắc diện, công ăn việc làm; nhờ được kén lựa kỹ vậy, vợ chồng dễ có cuộc sống hạnh phúc lâu dài, trường hợp đổ bễ ít - ly dị, ly hôn hiếm khi xẩy ra. Còn thời nay, việc tạo lập gia đình là do con tim của trai gái thôi thúc. Trai, gái mới lớn làm sao tránh khỏi bị lèo lái do sự bồng bột của cảm tính, sự mù quáng của con tim.
Đọc những dòng thư nhắn nhủ của ông Trọng, cô gái quê cảm động lắm, ngày đêm thầm thương trộm nhớ. Thân thể hao gầy, phát bệnh và qua đời hai năm sau khi ông Trọng đi xa.

Nhận được tin nhà báo qua vị hôn thê của mình không còn nữa, ông Trọng buồn rũ rượi, cuộc sống mất định hướng.
Rồi Chiến Tranh Thế Giới II kết thúc (1945), lính thợ được lệnh hồi hương, ông Trọng xin ở lại; đối với ông, hình ảnh vị hôn thê chính là quê hương, thúc giục ông sớm trở về để hiện thực hóa những gì trong lời nhắn mà ông viết gởi lại ngày ra đi; nay người ấy không còn, ông trở về làm chi nữa để đối diện với mất mát, buồn đau, lẻ loi.
Ở lại Pháp, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy nhóm lính thợ Đông Dương đến khai phá vùng Camargue trồng lúa gạo. Dự án tiến triển tốt, một vùng đầm lầy chẳng bao lâu biến thành đồng lúa phì nhiêu.
Ông lấy vợ người Pháp và sinh được hai người con: một trai, một gái. Gia đình bên vợ thuộc giới trung lưu; hai vợ chồng ông có công ăn việc làm đàng hoàng, tạo lập được cơ ngơi tử tế. Ông đã là dân Pháp, hưởng hạnh phúc bên vợ con; ông muốn quên và, với thời gian, thật sự đã quên nơi chôn rau cắt rốn; ông chưa một lần về thăm cái làng quê nghèo nơi ông sinh ra và lớn lên. Hai con ông trưởng thành, học hành thành đạt; hiện tại, cậu con trai tên Jean đã 67 tuổi là giáo sư đại học, cô con gái tên Sylvie đã 64 tuổi là bác sĩ. Hai người con có gia đình riêng, định cư ở các thành phố rất xa nơi ông bà ở; do công việc, họ cũng ít về thăm ông bà. Trong ngôi biệt thự lọt giữa một vườn hoa bốn mùa rực rỡ, hai ông bà già sống với nhau, cảnh trông vắng lặng đến nỗi người ngoài cảm thấy lạnh lẽo.
Cách đây mấy năm, người vợ Pháp của ông qua đời do tuổi già; ông sống một mình. Con ông hợp đồng thuê người, hàng ngày, tới dọn vén nhà cửa và săn sóc ông bán thời gian. Đêm về, ông nằm gác tay lên trán, suy nghĩ cách giải quyết phần còn lại ít ỏi của cuộc đời. E đằng nào ông cũng phải vào nhà dưỡng lão thôi!

Một đêm nọ, chưa ngủ được, nằm thao thức, bất chợt, ông nảy ra một ý tưởng chưa từng đến trong đầu. Phải về thôi, về Việt Nam, về với nơi chôn rau cắt rốn, về để đến ngày lâm chung mộ chôn được nằm bên cạnh mộ cha mẹ, ông bà … về để có dịp xin lỗi các Ngài vì đã bỏ các Ngài ra đi gần 80 năm rồi không đoái hoài lui tới.
Ở quê nhà, anh em ông đều qua đời hết, chỉ còn đứa cháu trai đã trên 70 tuổi gọi ông bằng chú đang ở trong khu vườn xưa. Các cháu khác đứa thì tha phương cầu thực trong Nam Bộ hay trên Tây Nguyên, đứa thì đã chết trong cuộc chiến dai dẳng mấy chục năm trên quê hương. Mảnh vườn xưa khá rộng, đến 2000 m2 lận. Ông Trọng viết thư về cho đứa cháu, trước là thăm hỏi, sau giải bày tâm nguyện của ông.
“Ngày ….
Cháu thân,
Chú là chú Trọng bên Pháp đây. Cháu nhận thư này chắc lấy làm ngạc nhiên lắm vì lâu nay chú cháu mình chưa hề liên lạc với nhau lần nào. Chú tin là ở quê đại gia đình mình vẫn bình an. Chú gởi lời thăm hỏi gia đình cháu và bà con họ hàng làng xóm ...............................................................................................
Sau đây, chú muốn hỏi ý kiến cháu một việc như sau:
Hiện tại, chú sống một mình. Thím đã mất, hai con của chú thím - em của cháu - định cư xa. Chú muốn về quê, chú đã 95 tuổi rồi – tuổi gần đất xa trời. Chú muốn khi qua đời được chôn bên cạnh ông mệ. “Chim có tổ, người có tông”. Chú như con chim, bay kiếm mồi khắp bốn phương trời, nay mỏi cánh, muốn về tổ ấm nghỉ ngơi.
Chú về. Ở chung với cháu, chú ngại bất tiện, chú sợ phiền cháu vì cuộc sống gia đình cháu nhiều hay ít sẽ xáo trộn, và cũng phiền chú vì chú không được thoải mái.
Chú muốn cháu dành cho chú một khoảnh đất trong vườn, chú sẽ cho xây một ngôi nhà nhỏ, nội thất trang bị đầy đủ tiện nghi. Chú sẽ ở đó, gặp trái gió trở trời, có gia đình cháu bên cạnh chạy qua chạy lại. Mai kia mốt nọ, chú qua đời, ngôi nhà sẽ là nơi thờ phượng chú; và một đứa nào trong số các con của cháu ở đó để lo hương khói cho chú.
Chú mong thư này sẽ đến tay cháu và sớm nhận được hồi âm của cháu.
Chú của cháu
Trọng”
Người cháu nhận được thư, mừng quýnh, đi đâu, gặp ai cũng khoe có ông chú Việt kiều ở Pháp sắp về.
Do hậu quả của chiến tranh, đời sống nông thôn thiếu thốn, ai có bà con thân thuộc sống ở nước ngoài lâu lâu nhận được quà, hãnh diện lắm. Người cháu nghĩ thầm trong bụng: ông chú về ở cạnh mình, các con ông ấy thỉnh thoảng về thăm, nếu không về thăm được, cũng gởi tiền về để nhờ chăm sóc bố của họ, số tiền thế nào cũng khá, chi tiêu cho nhu cầu của ông xong chắc chắn có phần dư. Xa hơn về tương lai, mồ mả của ông ở đây, đời cháu, đời chắt của ông thế nào cũng sẽ quan tâm.
Người cháu viết thư phúc đáp, lời lẽ tha thiết:
“Kính chú,
Cháu rất sung sướng khi nhận được thư chú. Từ trước đến giờ, chú luôn hiện diện trong tâm trí cháu dù ngày chú ra đi cháu còn quá nhỏ dại chưa biết rõ mặt mày chú như thế nào.
…………………………………………………………………………..
Chú sớm sắp xếp về đi, chú không muốn ở chung với cháu, cũng được thôi! Với tiền chú gởi về, cháu sẽ cho xây một ngôi nhà vào vị trí nào đẹp nhất trong vườn để chú dưỡng già. Gia đình cháu sẽ phục vụ chú mọi nhu cầu hàng ngày; cha cháu không còn, người đời nói: “Mất cha còn chú, mất  mẹ bú dì.” Chú được coi như cha của cháu.
…………………………………………………………………………..
Cả gia đình cháu và bà con làng xóm đang chờ ngày đón chú hồi hương.
Cháu của chú”

Chiếc Boeing 777 của hãng Air France hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất – Thành Phố Hồ Chí Minh. Cùng mấy trăm hành khách, ông Trọng cùng cô Sylvie – con gái ông – xuống máy bay. Ông Trọng trông rất phương phi, da trắng hồng, râu cằm và râu mép nắn tỉa, chải chuốt tươm tất, đúng là một ông già đẹp lão. Ông bước, một tay có cô Sylvie dìu, còn tay bên kia chống cái gậy. Vào gần cửa ra, để người đón nhận diện, cô Sylvie đưa cao tấm giấy cứng màu trắng có ghi vỏn vẹn 2 chữ: ÔNG TRỌNG. Mới ra khỏi cửa, ông Trọng được người cháu xông tới ôm choàng, hôn vào má thắm thiết nhiều lần.
Gia đình người cháu gồm hai vợ chồng cùng hai con lớn từ quê vào đây để đón ông. Hai người con của cháu ông, mỗi đứa cầm một bó hoa, trao mừng ông và cô Sylvie. Trên đường về quê bằng chuyến bay nội địa, đoàn người râm ran thăm hỏi nói cười; cô Sylvie không biết tiếng Việt, ngơ ngác, ông Trọng phải đóng vai thông dịch.

Nhà xây cho ông Trọng về ở chưa xong, mới hoàn thiện một phòng và cái toilet. Dự toán ngôi nhà là 500 triệu đồng; ba tháng trước, để khởi công, người cháu ông đã nhận, theo đường chuyển tiền Western Union, 12.000 Euos, quy ra tiền Việt Nam là 300 triệu. Lần này, trước khi trở về Pháp, cô Sylvie đã giao nốt số tiền 200 triệu cho ông anh họ.
Trong lúc các kíp thợ đang tiếp tục công việc, ông Trọng vào ở cái phòng vừa làm xong. Trên cái giường lót nệm, trải ra (drap) trắng tinh, tấm chăn và chiếc gối màu nâu nhạt ủ nước hoa, bốc mùi thơm phức; sát tường, cái tủ áo bằng gỗ gụ đánh BU bóng láng; gần giường, cái bàn vừa dùng để dọn ăn uống vừa để đọc và viết phủ chiếc khăn rực rỡ hoa văn; bên cạnh, hai chiếc ghế dựa có lót nệm ở chỗ ngồi và ở chỗ tựa lưng.
Hàng ngày, cứ đúng 7 giờ sáng, 11 giờ trưa và 6 giờ tối, vợ cháu ông bưng phần cơm nước qua đặt lên bàn, vòng tay, cất lời mời:
Cháu mời chú dùng bữa.
Phần cơm dành cho người cao tuổi, không có chi cao lương mỹ vị, nhưng trông lúc nào cũng sạch sẽ tươm tất: một tô nhỏ cơm, một tô canh khi nấu cá khi nấu thịt, một dĩa đồ kho mặn và một dĩa đồ xào cộng thêm đồ uống là một lọ sữa Ensure.

Tuổi già cộng thêm môi trường sống thay đổi, ông Trọng thường nhức mỏi trong người. Chiều chiều, ông gọi taxi đến, chở ra một khách sạn ngoài phố để mát-xa (massage) cho máu huyết lưu thông.
Cô Diễm, người phục vụ ông, trước đây tốt nghiệp kỹ thuật viên vật lý trị liệu, hiện vừa công tác tại bệnh viện tỉnh vừa tranh thủ làm thêm tại khách sạn. Cô mới khoảng trên 40 tuổi, ly dị chồng, có một con, hai mẹ con ở thuê tại một phòng trọ; khuôn mặt trái xoan, đôi má hồng hồng, miệng luôn nở nụ cười rất tươi, cô dễ gây cảm tình ở người tiếp xúc; cũng vì ưu điểm ấy nơi cô, người chồng cô ghen tuông, hậu quả là hạnh phúc vợ chồng tan vỡ. Cô Diễm có cái duyên ngầm níu kéo khách; nhiều người từng được cô mát-xa (một hình thức tập vận động trị liệu), khi xa cô thì nhớ đến nỗi dù không có vấn đề gì về sức khỏe cũng đến khách sạn chịu tốn một số tiền để được gần cô.
Ông Trọng đến khách sạn, nằm sấp trên giường; hai bàn tay mềm mại của cô vuốt vào hai bên sống lưng của ông từ trên xuống dưới rồi từ dưới lên trên, người ông chuyển từ cảm giác khoan khoái sang ngây ngất. Ông Trọng nằm ngửa, cô khom người lên ông, hai bàn tay cô nắm hai bàn tay ông kéo thẳng vô ra theo chiều ngang, rồi duỗi lên xuống theo chiều dọc. Cô quỳ dưới chân ông, hai tay nắm, nâng đôi chân ông lên xuống, qua về; trong động tác tập, da thịt cô đụng vào da thịt ông, ông cảm nhận như hai dòng điện âm dương chạm nhau;  mùi thơm từ mái tóc, thân thể cô bốc lên thoang thoảng len vào mũi tạo ra một cái gì đó kích thích làm cho ông phấn chấn, tươi tỉnh, khỏe khoắn cả người..
Đến khách sạn, cứ mỗi lần, ông Trọng phải tiêu tốn tiền taxi lượt đi lượt về hết 200,000 đồng, lại phải mất thời gian chuẩn bị: thay quần áo, gọi xe … vừa mất công vừa phiền phức. Ông nảy ra sáng kiến, mời cô về phục vụ tại nơi ông ở, cho tiện.
ÔÔng già rồi, việc đi lại khó khăn. ÔÔng muốn cháu tranh thủ thời gian đến nhà tập cho ôông, được không? Cháu có xe máy, chắc được hi? Ông Trọng gợi ý khi đang nằm trên giường tập ở khách sạn. ÔÔng không để cháu thiệt thòi công lao mô! ÔÔng sẽ thanh toán đích đáng từng buổi tập cho cháu.
Cô Diễm nhận lời. Tới nhà tập cho ông, cô sẽ nhận nguyên tiền, không như ở khách sạn, tiền công của cô bị trích bớt.
Ở nhà ông, trong căn phòng riêng, chỉ có hai ông cháu. Mỗi buổi tập, cô Diễm được ông trả 500,000 đồng – số tiền gấp mười lần số tiền mà cô nhận qua ban quản lý khách sạn sau mỗi lần tập cho khách.
Khoảng hai tháng sau, ông Trọng báo cho cháu ông:
Chú sống cô đơn quá, chú thấy con kỹ thuật viên vật lý trị liệu đến tập cho chú dễ mến, lại rành việc săn sóc người cao tuổi, chú có hỏi ý nó và nó đồng ý về đây ở với chú làm ôông làm mụ, săn sóc chú trong tuổi già.
Nghe nói vậy, người cháu sửng sốt, không biết xử trí sao. Nếu cô ấy làm vợ ông, khi ông lâm chung, ngôi nhà sẽ do cô ấy thừa kế. Ngồi xuống bên ông, người cháu giải bày thiệt hơn:
Chú gần đất xa trời rồi, tính chuyện lấy vợ làm chi cho nhọc. Ở đây, chú cần gì đã có vợ chồng cháu lo. Chú không sợ làng xóm cười chú là ôông già mất nết hay răng?
Hai từ “mất nết” đập vào tai, ông Trọng tự ái, đỏ bừng mặt, ông gượng đứng dậy, tay đưa gậy đánh, đuổi người cháu,  miệng lằm bằm chưởi bới:
- Cha tổ tụi bây, con cháu hỗn láo với chú bác, đồ ẻ, ba vạn cũng bỏ, nhà tau xây ra đó, còn dang dở, bây tiếp tục hoàn chỉnh đi mà ở, tau không thèm nhìn mặt tụi bây nữa mô!
Ông Trọng lảo đảo bước ra khỏi nhà, hai chân run run, thỉnh thoảng khựng lại. Ông bấm số điện thoại gọi taxi đến chở ông đi.

Ông đến phòng trọ của hai mẹ con cô Diễm. Cái phòng nhỏ nằm trong một dãy ở sâu tận góc một khu vườn um tùm cây cối bên một con đường lớn của thành phố. Phòng có 2 giường; từ trước đến giờ, hai mẹ con cô ngủ chung cái giường lớn, cái giường nhỏ để không. Ông Trọng ra ở cùng, đứa con chuyển qua ngủ trên giường nhỏ, ông và cô nằm trên giường lớn.
Hưu từ bên Pháp chuyển qua, ông giao cho cô lo cơm nước và phục vụ ông.
Mấy tháng nay, sống chung, cô Diễm không ưa ý, nhưng bên ngoài, gượng vui vẻ, biểu tỏ tình cảm nồng thắm. Mỗi lần, cô Diễm đi ra khỏi phòng hay từ ngoài bước vào phòng, quen với tập quán bên Tây, ông Trọng gọi cô tới gần, níu mặt xuống, áp môi hôn một cái “chụt”.
Lấy ông Trọng, cô Diễm đinh ninh rằng cô sẽ ở với ông tại ngôi nhà mới, và sẽ là người thừa kế ngôi nhà ấy khi ông qua đời . Nào ngờ bây giờ ra nông nỗi này!

Sáng nay, sau bao đêm nằm bên cạnh ông già “bất lực”, cô dậy sớm hơn thường lệ, cằn nhằn, cố ý lớn tiếng cho ông Trọng đang nằm có thể nghe được:
- Số chi mình mà cực dữ ri. Thằng chồng trước rượu chè bê tha không lo ăn lo làm, lại ghen tuông bậy bạ, rốt cuộc, vợ chồng phải chia tay. Giờ lấy ôông già này, không được chi hết, mỗi tháng nhận mấy triệu bạc, chẳng qua là tiền ôông đưa cho mình để lo ăn lo uống và thuê mình tập cho khỏi nhức mỏi. Mình là con ở, mình là ô-xin không hơn không kém.
Cô Diễm đẩy chiếc xe máy ra khỏi phòng, đề máy nổ rẹt rẹt, cô phóng xe đi. Đồng hồ trên tường mới điểm sáu giờ sáng. Không biết cô đi đâu vào giờ này; giờ làm việc ở bệnh viện đến 7 giờ 30’ mới bắt đầu lận.
Lời nói và hành vi của cô Diễm đến tai và mắt của ông Trọng, ông thốt lên hai từ “chết cha” não nuột rồi lặng im …

                                                         Lão Gàn
                                                    26/7/2015 (11/6 / Ất Mùi)

READ MORE - CON TIM TRỞ CHỨNG - Truyện ngắn của Lão Gàn