Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 15, 2019

THƯA CHUYỆN CÙNG BẠN ĐỌC... VỀ BÀI VIẾT CỦA ÔNG NGUYÊN LẠC - Đặng Xuân Xuyến





THƯA CHUYỆN CÙNG BẠN ĐỌC... 
VỀ BÀI VIẾT CỦA ÔNG NGUYÊN LẠC

Thật sự là tôi không thích đọc những bài viết chuộng lối "tầm chương trích cú" nên ngày 14 tháng 02 năm 2019, khi nhà thơ La Thụy gửi qua email, ngó thấy tên tác giả bài viết là Nguyên Lạc, tôi liền nhấn chuột thoát ra để vào đọc thư khác. Sở dĩ như vậy là vì gần đây, vào cuối năm 2018, vô tình đọc 2 bài viết của tác giả Nguyên Lạc, cũng do nhà thơ La Thụy gửi qua email, tôi đã phát hãi khi phải đọc những đoạn "tầm chương trích cú" mà nhiều người đã biết hoặc không cần phải biết, được ông Nguyên Lạc sử dụng na ná kiểu "Sơn Đông mãi võ", “lên gân dạy đời” dành cho những nạn nhân không chỉ là nhà phê bình văn học Châu Thạch, nhà thơ Phạm Ngọc Thái hay Giáo sư Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại, Phó giáo sư Phó tiến sĩ Bùi Hiền,... mà với tất cả những ai đọc 2 bài viết đó.

Tôi không có ý định "trả lời" bài: VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC BÀI BÌNH THƠ “THUYỀN NEO BẾN LẠ” vì không muốn bị cuốn vào những tranh cãi làm phí phạm thời gian bởi mấy việc chẳng đâu vào đâu với ông Nguyên Lạc. Nhưng sớm hôm nay, 16 tháng 02.2019, một người bạn khuyên tôi nên có đôi lời với bạn đọc đã đọc "VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC "THUYỀN NEO BẾN LẠ" CỦA PHÚC TOẢN" của blog Trang Đặng Xuân Xuyến và các trang web thân hữu nên tôi ngồi gõ đôi dòng.

Tôi lọc ra mấy điểm ông Nguyên Lạc nêu trong bài dài vài nghìn chữ: VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC BÀI BÌNH THƠ “THUYỀN NEO BẾN LẠ”, rườm rà vì "tầm chương trích cú" đến hơn nửa dung lượng bài viết, để thưa cùng bạn đọc.

I.

Ông Nguyên Lạc viết:
“Theo tôi, ở đây phải dùng chữ ƠI hay ÔI để tán thán sự buồn mới đúng: Ơi (ôi) em!/ ơi (ôi) anh! chúng ta đành phải xa nhau rồi.v.v... Buồn, bất lực là hai chữ này.
Chắc có lẻ nhà bình luận hiểu chữ Ơ rộng nghĩa hơn tôi!
Tuy câu thơ bị khuyết điểm nhỏ này, nó cũng tạm coi là đạt.”

Đặng Xuân Xuyến thưa với bạn đọc:

Tôi nghĩ, hẳn khá nhiều người đều hiểu:
- Ơ là tiếng thốt ra biểu lộ sự ngạc nhiên trong những tình huống bất ngờ mà chủ thể chưa có thời gian cảm nhận để có phản ứng thích hợp.
Ví dụ: Ơ... sao ngu thế!
- ÔI là tiếng thốt ra biểu lộ xúc động mạnh mẽ trước nỗi đau đã thấm sâu hoặc trước điều không ngờ.
Ví dụ: Ôi! Hắn đểu thế!
Trong trường hợp của bài thơ "Thuyền Neo Bến Lạ" thì từ Ơ được nhà thơ Phúc Toản sử dụng hợp với hoàn cảnh của nhân vật trong thơ nên hay hơn rất nhiều so với dùng chữ ÔI như ông Nguyên Lạc bày vẽ.
Còn chữ ƠI thì sao?
- Ơi là cảm từ, là khẩu ngữ dùng để gọi (hoặc đáp) một cách thân mật, thân thiết với người ngang hàng hoặc người bề dưới, ví như: Tuấn ơi, Minh ơi, Hùng ơi... Cũng có khi dùng với ý than vãn, ví như: Trời ơi!, Cha Mẹ ơi!...
Nếu thay chữ Ơi như bày vẽ của ông Nguyên Lạc:
“Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơi! Lấy chồng...”
thì câu thơ thành vô duyên, ngớ ngẩn khi nhân vật trong thơ đang xót xa vì tình yêu tan vỡ.

II.

Ông Nguyên Lạc viết:
a. "Gừng cay, muối mặn xát lòng"
Câu thơ này có chính xác ở trường hợp này không?
Xin mời nhà bình thơ đọc trích đoạn này:

 [...Như đã nói trên, quan hôn tang tế không thể nào không có rượu. Nhất là ngày "loan phụng hòa minh" và đêm "động phòng hoa chúc"

Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say...

Với tục lệ Việt Nam cổ truyền thì lễ động phòng cần có: Chỉ đỏ hoặc chỉ ngũ sắc gọi là dây tơ hồng, đĩa muối với dăm lát gừng tươi, chai rượu Hồng Đào đính kèm một chiếc chung. Chú rể buộc tơ hồng vào cổ tay nàng dâu và ngược lại. Rót đầy chung rượu, chàng uống nửa, nàng uống nửa. Xong, cùng lấy gừng chấm muối mà nhai, đôi lứa vừa hít hà, vừa dìu dặt ngâm nga:

Tay bưng đĩa muối chấm gừng,
Tình nồng nghĩa mặn xin đừng bỏ nhau
(Rượu Hồng Đào: Quảng Nam song hỷ tửu - Phanxipăng)[2]

Ở đây chàng trai và cô gái "động phòng, hợp cẩn" lúc nào mà nhai muối/ gừng xát lòng? Nhà bình thơ có chú ý đến điều này không?

Đặng Xuân Xuyến thưa với bạn đọc:
Tôi thật sự ngạc nhiên trước "sự hiểu" hoặc rất là ngây thơ, hoặc rất là máy móc, hoặc là cố tình "bẻ cong" của ông Nguyên Lạc. Đoạn ông trích dẫn trên, có chăng chỉ là đoạn văn mô tả tập tục cưới hỏi của người bản địa, đó là tập tục cưới hỏi của người dân xứ Quảng, không phải là phong tục cưới hỏi truyền thống của người Việt Nam.
Quê tôi, quê nhà thơ Phúc Toản hay quê của nhiều người khác trong lễ Hợp Cẩn đâu có dùng rượu Hồng Đào bởi rượu Hồng Đào là một "đặc sản" của tỉnh Quảng Nam, không phải là rượu cưới truyền thống của người Việt? Cũng đâu có nghi thức “cùng lấy gừng chấm muối mà nhai, đôi lứa vừa hít hà, vừa dìu dặt ngâm nga: Tay bưng đĩa muối chấm gừng, / Tình nồng nghĩa mặn xin đừng bỏ nhau” sau khi đã “rót đầy chung rượu, chàng uống nửa, nàng uống nửa”?
Dân gian dùng vị mặn của muối, vị cay của gừng đưa vào ca dao, tục ngữ làm hình ảnh tượng trưng cho tình nghĩa sâu đậm, thắm thiết, khó quên của tình yêu đôi lứa, của tình nghĩa vợ chồng đã gắn bó cùng nhau trải qua những đắng cay, được mất... của cuộc đời - một tượng hình rất dân dã, chân thực mà sâu sắc. Việc nhà thơ Phúc Toản dùng vị mặn của muối, vị cay của gừng vào thơ, để xót xa mối tình khắng khít, sâu đậm bị tan vỡ đâu có sai?!
Thật là buồn cười khi ông Nguyên Lạc ngô nghê cho rằng câu "gừng cay, muối mặn" chỉ được dùng khi trai gái đã thành vợ thành chồng.

III.

Ông Nguyên Lạc viết:
b. "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng..."

Theo chủ quan tôi câu này có vấn đề ở hai điểm:
- Hai chữ ở cùng một câu (Nỗi) là điều các nhà thơ nổi tiếng khuyên nên tránh.
- "Nỗi mừng"? Người yêu vu qui đi lấy chồng mà mừng? Cũng lạ?

Nhà bình luận, bạn đã nói đây là cuộc hôn nhân "không tình yêu", vậy thì cả 2 đều phải buồn chứ làm sao mà có chữ "mừng" ở đây? Nếu nói "mừng" thì không thật lòng, không đúng cảm xúc của hai người yêu nhau.
- Nếu "mừng" này ở chàng trai thì câu này có nghĩa là chàng vừa buồn vì tiếc và vừa "mừng" vi "tống khứ" cô gái được phải không? Tình yêu chân thật?
- Nếu "mừng" này ở cô gái thì sự "không chân thật" trong tình yêu càng rõ ràng. Cô gái thoát nợ!
Nhà bình thơ có thể nói (hay đoán) "nỗi mừng" là ngoài mặt của cô gái, còn trong lòng thì buồn. Làm sao biết được trong lòng của người khác?
Trong câu thơ, nếu một vài chữ có thể gây ra sự suy nghĩ tiêu cực của độc giả thì nên tránh đừng dùng, phải dùng chữ có nghĩa chính xác. Đừng chủ quan theo ý mình, nên dự phòng những vấn đề rắc rối có thể sảy ra.
Theo tôi (xin nói chỉ là chủ quan) phải thay chữ nào khác phù hợp với ý tứ bài thơ để giải quyết các vấn đề nêu trên:
Thí dụ như dùng chữ bâng khuâng ta giải quyết được điệp từ và chuyện rắc rối lẫn lộn giữa buồn/mừng nêu trên. Lúc này câu thơ sẽ như thế này:

Bâng khuâng cứ nhói vào trong nỗi buồn...

Đây chỉ là thí dụ gợi ý, quyền là ở tác giả bài thơ, ông là người "sáng tạo"
Để tránh việc người khác (trong đó có thể có nhà bình thơ) cho rằng sự thay thế chữ khiến "lợn lành thành lợn què", tôi sẽ phân tích chữ "nỗi" và chữ "niềm" cho rõ ý.

Đặng Xuân Xuyến thưa với bạn đọc:

Ở mục trên (mục b), ông Nguyên Lạc soạn lại và phát triển thêm từ những comment trao đổi với tôi dưới bài viết "VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC "THUYỀN NEO BẾN LẠ" CỦA PHÚC TOẢN" đăng trên trang Văn Nghệ Quảng Trị ngày 20 tháng 01 năm 2019.
Tôi không trả lời lại mà copy 2 comment của tôi trên trang Văn Nghệ Quảng Trị như sau:
Comment 1:
- Thưa chú Nguyên Lạc!
Đúng là “Hai chữ ở cùng một câu ̣(NỖI) là điều nên tránh” nhưng ở câu thơ này, chú Phúc Toản đã (chủ ý) đặt đối trọng “nỗi buồn” - “nỗi mừng” giữa “anh” và “em” (chứ không phải chỉ riêng tâm trạng chàng trai) để nhấn sâu hệ lụy nỗi đau của cuộc hôn nhân không tình yêu, như thế theo cháu lại thành hay đấy ạ.
Comment 4:
- Vâng! Thưa chú Nguyên Lạc!

Cháu cũng trả lời chú lần này lần cuối vì chú và cháu có cách hiểu khác nhau nên cứ trao đổi sẽ mất nhiều thời gian, mà cũng sẽ làm phiền người khác.
1. Thì hẳn câu thơ "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng..." diễn tả tâm trạng chàng trai nên nhà thơ mới dùng từ NỖI mừng mà không là NIỀM vui hoặc chữ nào khác. Vì lẽ ra chàng trai cũng như mọi người đến dự hôn lễ của cô gái để chúc mừng hạnh phúc của cô gái nhưng trong hoàn cảnh trớ trêu cô gái lại là người yêu (của mình) nay “theo thuyền neo bến lạ” thì chàng trai sao vui được? Còn cô gái, nhân vật chính của ngày đại hỉ, người chàng trai nói là “nỗi mừng”, (thân bằng quyến thuộc của cô gái sẽ nói là ngày vui, niềm vui) thì trong nghịch cảnh ấy đâu có thể vui khi gặp chàng trai? Và cả những người biết chuyện tình của hai người đó nữa, thấy cảnh đấy ai chẳng có phút trầm buồn?

Thế nên cháu mới viết:
“Tôi nghĩ, ở câu thơ: "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng...", dù nhà thơ Phúc Toản chỉ nói về nỗi đau đang cứa vào trái tim của riêng "anh" thì người đọc vẫn cứ liên tưởng, vẫn cứ hình dung đấy là nỗi đau đã lan tỏa, đã xâm chiếm cả không gian ngày "em" làm lễ Vu Quy. Nỗi đau ấy không chỉ bào xót trái tim chàng trai mà còn làm rức buốt trái tim cô gái - người đang cử hành hôn lễ với một người đàn ông xa lạ.
Vâng. Câu thơ: "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng..." đã đích thực chỉ ra là vậy.”

2. Câu thơ "Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng..." theo ý cháu không nên thay thế chữ MỪNG bằng “chữ “bâng khuâng” hay chữ nào đó” vì nếu không khéo sẽ rất dễ “lợn lành thành lợn què” đấy ạ.".
Còn giả dụ nếu theo bày vẽ của ông Nguyên Lạc thì sao?
Hẳn ai cũng hiểu BÂNG KHUÂNG là cảm xúc luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn nhau, không rõ ràng khiến tâm trạng gần như ngẩn ngơ. Như thế, nếu thay chữ BÂNG KHUÂNG theo bày vẽ của ông Nguyên Lạc:
“Bâng khuâng cứ nhói vào trong nỗi mừng...”
sẽ không diễn tả được tâm trạng giằng co nửa cười nửa khóc của chàng trai trong ngày đại hỷ của cô gái, chẳng khác gì việc cố tình tạo hình cho nhân vật: giữa mùa hè mặc quần đùi, khoác áo bông, chạy lông nhông ngoài đường phố.

IV.

Ông Nguyên Lạc viết:

LỜI KẾT

Lâu lắm rồi, tôi thường gặp câu nầy: "Dưới ánh sáng..." "Nhờ ơn..." gì gì đó...tác giả mới viết được bài này... Và những lời "hít hà" khen các bài văn thơ của của những người ve cổ áo veston trước ngực có logo "quốc huy sao vàng" (cấp lãnh đạo). Ai mà dám nói thật, ai mà dám chê trong thời này? Vì sợ, vì muốn lấy lòng để được hưởng chút "ơn mưa móc". (Về vụ "sợ" hình như nhà văn Tô Hoài đã có lần thừa nhận, nếu tôi nhớ không lầm)

Nhưng bây giờ là thời khác, không thể làm giống thế được, phải "lương thiện" với lòng, phải "chính danh" là trí thức là nhà bình luận . Nhà bình luận nên nhớ lại “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán đã nhắc ở trên.

Một nhà thơ đã viết:

Ta tìm ta bắt, trong thơ...
Những con sâu chữ, lơ mơ "ra rìa"
                            (Hà Nguyên Du)

Đúng, phải tìm bắt sâu chữ: Trong vườn hoa nghệ thuật, văn thơ, người bình luận giống như người làm vườn, phải chăm sóc vung trồng và tìm bắt những con sâu để cho cây hoa tươi tốt, nở ra những những nụ hoa đầy hương sắc cho đời.

Trên trang nhà Đặng Xuân Xuyến, nhìn kỷ thấy trên ngực (cổ áo Veston cà - vạt) của nhà thơ Phúc Toản có logo "quốc huy sao vàng"[1].

Hãy trân trọng gìn giữ tiếng nước ta. Tiếng Việt mà bị tiêu diệt thì dân tộc Việt sẽ tự nhiên biến mất y như Học giả Phạm Quỳnh đã từng nhận xét. Hãy bảo về sự trong sáng của tiếng Việt. Nên cẩn trọng về tính chính xác của nó nếu không sẽ dẫn đến "văn nạn" "bút máu" mà tôi đã đề cập trong bài viết "VĂN NẠN VÀ TÍNH CHÍNH XÁC CỦA NGÔN NGỮ(3)

Mời đọc trích đoạn:
[... Chữ viết chắt lọc từ tiếng nói. Văn và nhất là thơ là tình túy của CHỮ. Nên cẩn trọng với CHỮ NGHĨA. CHỮ quan trọng lắm, có thể làm chết hoặc làm tiêu tan sự nghiệp và tài sản con người. Không nhớ vụ án Minh sử triều Thanh đã làm tiêu mạng biết bao Nho sĩ Minh mà Kim Dung đã viết trong phần nhập của bộ truyện Lộc Đỉnh Ký sao? Vụ án của Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc (giết ba họ) do sự ganh ghét, đố kỵ của đám tiểu nhân đắc chí, trong đó có một phần từ văn nạn. Và cuối cùng với hàng chữ "Kim loại màu vàng" mà "ai đó" ghi khi kiểm kê vàng của người dân miền Nam trong đợt "cải tạo tư sản" 1976.
VĂN NẠN (cũng được gọi là ÁN VĂN), nói nôm na là những vụ án liên quan đến chữ nghĩa, văn chương, văn nghệ... Có khi nạn nhân chết chỉ do một chữ chứ không cần cả bài, cả tập. Chết mà không biết mình vì sao bị chết...]
Đừng như hai ngài Giáo sư Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại và Phó giáo sư Phó tiến sĩ Bùi Hiền, những người mắc bệnh VĨ CUỒNG (mégalomanie, megalomania) muốn làm mai một nó.

Đặng Xuân Xuyến thưa với bạn đọc:

Tôi sống ở Hà Nội, đã bỏ cơ quan nhà nước (Viện Sử học) để làm dân lao động tự do, đã viết những: Quê Nghèo, Bạn Quan, Quan Trường, Tôi Nghe, Tôi Thấy... và không thích tham gia bất kỳ hội - nhóm - đảng phái nào. Còn nhà thơ Phúc Toản, là cán bộ hưu trí, sống tại Bắc Ninh, mới kết bạn facebook với tôi chừng năm nay, vô tình đọc và đồng cảm với "Thuyền Neo Bến Lạ" mà tôi viết đôi dòng cảm nhận. Bài viết ấy cũng chỉ là chia sẻ vài cảm nhận của người đọc với tác giả thơ, có ghê gớm gì đâu mà ông Nguyên Lạc phải "thốt lên": "Bài bình thơ "Thuyền Neo Bến Lạ" của nhà thơ kiêm nhà bình luận Đặng Xuân Xuyến được đăng trên trang nhà anh và rất nhiều trang Web trong cũng như ngoài nước. Nó là Top Hít và được các fans anh "hít hà" khen thưởng." rồi dành hẳn mục LỜI KẾT, dễ đến hơn nghìn chữ trong bài viết vài nghìn chữ để bóng gió, quy chụp tôi là kẻ nịnh nọt, mắc bệnh cuồng vĩ như ông đã từng chụp mũ ông Châu Thạch, ông Phạm Ngọc Thái trong 2 bài viết mà nhà thơ La Thụy đã vô tình chuyển qua email tới tôi.
Thật nực cười!
Nếu là người bình thường sẽ không có lối suy diễn biến thái, bệnh hoạn khi cố tình quy chụp hoặc bóng gió quy chụp người khác là nịnh nọt, là mắc bệnh cuồng vĩ kiểu "suy bụng ta ra bụng người" như ông Nguyên Lạc.
Muốn phất cao ngọn cờ “yêu thương thơ văn cùng với niềm trân trọng sự chính xác và trong sáng của tiếng Việt thân yêu” để đánh trống, giong cờ hiệu triệu mọi người cùng theo làm một cuộc “Cách Mạng” như ông Nguyên Lạc rùm beng thì tối thiểu ông Nguyên Lạc phải làm được 2 điều:
- Hiểu mình nói gì, viết gì.
- Bỏ thói “suy bụng ta ra bụng người”
Nhưng tôi tin đó là 2 điều quá xa xỉ với ông Nguyên Lạc!

                                     Hà Nội, sáng 16 tháng 02.2019
                                          ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - THƯA CHUYỆN CÙNG BẠN ĐỌC... VỀ BÀI VIẾT CỦA ÔNG NGUYÊN LẠC - Đặng Xuân Xuyến

CỔ TÍCH ĐỜI THƯỜNG - Thơ Kha Tiệm Ly



                                Nhà thơ Kha Tiệm Ly


CỔ TÍCH ĐỜI THƯỜNG

Có loài cỏ lớn lên từ vùng biển mặn,
Nên luôn thèm vị ngọt hạt sương rơi.
Ta từng hớp ngụm rượu đời cay đắng,
Nên cũng thèm vị ngọt một bờ môi!

Giữa biển khơi, giữa muôn trùng sóng dữ,
Lại mơ về một bến đỗ bình yên.
Lỡ phận lỡ duyên suốt hành trình cô lữ,
Bao bến yêu không chấp nhận một con thuyền!

Đâu cần đợi tia nắng hồng rực rỡ,
Nụ cười em cũng ấm những ngày đông.
Đâu cần đợi hoa lục bình rộ nở,
Màu áo em cũng đủ tím dòng sông!

Chẳng chuyện thần tiên, mà chuyện tình rất thật!
(Cổ tích đời thường cũng đâu quá xa xôi).
Buổi hoàng hôn vẫn còn loài hoa tươi thắm,
Đủ sắc, thừa hương tô điểm cuộc đời!

Quên chuyện nhục vinh, quên câu thành bại,
Quên rượu rót một mình, quên những cơn say.
Lấy tình em, thay cho đời gió bụi,
Lấy chén ngọt ngào, thay chén đắng cay!

                                      KHA TIỆM LY

READ MORE - CỔ TÍCH ĐỜI THƯỜNG - Thơ Kha Tiệm Ly

Thursday, February 14, 2019

TÌNH TRÚC PHƯƠNG - Thơ - Hoàng Yên linh



Tình Trúc Phương
                                                                          
          Nhớ Trúc Phương. Một thời mưu sinh, lưu lạc ở Sài Gòn. tháng ngày chung nhau qua đêm ở Bến xe Miền Tây. Nhũng kỷ niệm vẫn còn hằn sâu trong ký ức... Những hôm đạp xích lô được khách, tôi lại về sớm mướn sẵn đôi chiếu chờ Trúc phương về ngủ qua đêm... Có hôm Trúc Phương mang về chai rượu, cả hai nhâm nhi với bao tâm tình. Rồi đến lúc bến xe bị kiểm soát, tôi chỉ có tấm giấy ra trại, cả hai chúng tôi đành chia tay. Trúc Phương về miền Tây còn tôi lên cao nguyên kiếm sống... Từ đó cho đên khi Trúc Phương qua đời, tôi chưa lần gặp lại. Bài thơ như nỗi niềm thương nhớ gởi đến cố nhân...
HYL                                                                                                          
                               
"Con đường xưa mang tên em..."
Lời ca còn đó ngọt mềm yêu thương
Còn đâu hình bóng Trúc Phương
Một đời khổ lụy tang thương một đời
Người đi thăm thẳm mây trời
Tôi nghiêng chén rượu nhớ người năm xưa
Tình Trúc Phương tình tiễn đưa
Ngậm ngùi bao cuộc tình thua với người
Bạc đen cũng chuyện "thói đời"
Đa tình, tình lụy tình người xót xa
Thôi đành lỗi khúc tình ca
Thôi đành dang dỡ, tình là thiên thu.
                                
                                Hoàng Yên Linh


READ MORE - TÌNH TRÚC PHƯƠNG - Thơ - Hoàng Yên linh

CHIỀU CUỐI NĂM - Nhạc & Lời: Mai Hoài Thu - Ca sĩ: Đông Nguyễn

READ MORE - CHIỀU CUỐI NĂM - Nhạc & Lời: Mai Hoài Thu - Ca sĩ: Đông Nguyễn

TÂM TÌNH VỚI MÙA XUÂN - Thơ - Trường Hải Lê Văn Đông

Tác giả Trường Hải Lê Văn Đông
TÂM TÌNH VỚI MÙA XUÂN

Ơi, mùa Xuân, mùa Xuân
Mùa xuân muôn đời vẫn trẻ,
Cũng như bình minh tinh khôi,
Mỗi sáng đất trời thức dậy,
Cuộc sống ngày ngày sinh sôi.
Tuổi xuân một đời đẹp đẽ,
Nâng niu, trân trọng đời hoa,
Để rồi đến khi bóng xế,
Nhặt cánh hoa rơi chiều tà.
Mùa xuân thiên nhiên luôn trẻ,
Mùa xuân đất nước ông bà,
Mấy muôn nghìn năm có lẻ,
Xuân này thương nhớ xuân qua.
Mùa xuân đời người hữu hạn, 
Mong xuân quyến luyến cùng ta                     
Để được vui cùng con cháu,                                           
Đón chờ đất nước nở hoa.
Tổ quốc thanh bình tươi đẹp,
Cho đời vang khúc hoan ca.

Trường Hải Lê Văn Đông

READ MORE - TÂM TÌNH VỚI MÙA XUÂN - Thơ - Trường Hải Lê Văn Đông

CHÙM THƠ NGÀY VALENTINE - Châu Thạch.



BÀI THƠ MUỘN CHO NGÀY TÌNH NHÂN
Châu Thạch

Anh chẳng biết ngày tình nhân chi cả
Cũng chẳng bao giờ tặng em đóa hoa
Ta vẫn yêu nhau thắm thiết, mặn mà
Năm năm sướng ,bốn ba năm nghiệt ngã.

Ngày tình nhân có chi đâu mới lạ
Ta vẫn có hoài thời gian bên nhau
Ngày của ta đẹp hơn mọi sắc màu
Quà, hoa, rượu, socola đồ bỏ

Trái tim anh, trái tim em vẫn đỏ
Một màu son ở tuổi cổ lai hy
Trên đường đời ta cứ nắm tay đi
Tình duy nhất như lông chiên, bạch tuyết

Chúa đã dạy tình gái trai Ngài quyết
Thì trần gian không được rẽ chia nhau
Hai đứa mình đã thề nguyện trước, sau
Khi chưa biết cả những lời Thượng Đế

Điều thổ lộ chân thành thì không trể
Nên bây giờ anh mới nói cùng em
Cảm ơn em, đôi chân cứng đá mềm
Đã theo suốt đường đời anh sỏi đá!!!
CT
MỒNG TÁM TẾT
Châu Thạch

Mồng tám tết, xuân đến nhà tám bửa
Con về thăm nằm với mẹ chung giường
Tám đêm trường ta đã thiếu mùi hương
Nên đêm cứ năm mơ toàn ác mộng.

Mồng tám tết con chia tay bốn hướng
Buồn xa con cũng thấy thảm trong lòng
Nhưng đêm về ta nằm cạnh người thương
Mà ta đã yêu từ thời trai trẻ.

Em có biết tình ta luôn mới mẻ
Cứ từng ngày hoa lại nở trong vườn
Hoa lòng ta cũng thế, ngát mùi hương
Hương sắc mới, giữ cho tình cứ mới.



Đến thất thập ta vẫn mong vẫn đợi
Em nói yêu như từ thuở mười ba
Lá thứ tình em đã viết cho ta
Mùi mực tím thơm trong hồn mãi mãi!
CT
READ MORE - CHÙM THƠ NGÀY VALENTINE - Châu Thạch.

MẤY LỜI TÂM SỰ - Châu Thạch


Nhà thơ Nguyễn Đăng Hành

MẤY LỜI TÂM SỰ
(Nhân nhà thơ Nguyễn Đăng Hành nói về Châu Thạch)
*
Vừa ăn Tết xong, mồng mấy Tết không nhớ, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến điện thoại cho Châu Thạch. Sau vài lời chúc tết, nhà thơ hỏi:

- Chú đã đọc bài “Tưng Tưng bảy chuyện cùng…Nguyễn Đăng Hành” chưa ạ?.
- Hả, mấy bữa nay bận lo Tết quá nên chú chưa đọc.
- Chú đọc đi, trong đó có nhắc về chú đấy ạ.
- Ừ, để chú đọc bây giờ.

Thế là tôi ngồi vào máy vi tính mở trang web dangxuanxuyen.blogspot.com và tìm đọc bài nầy. Bài nầy Đặng Xuân Xuyến chép lại những lần trao đổi giữa anh với nhà thơ Nguyễn Đăng Hành, bàn luận về các nhà thơ, trong đó tôi có biết vài người chớ chưa quen ai cả. Châu Thạch tôi cũng hân hạnh được đề cập đến hai lần. Lần thư nhất hai người nói về Châu Thạch như sau:

 “Mươi hôm sau, anh (tức Nguyễn Đăng Hành) điện cho tôi, vẻ rụt rè:
- Anh hỏi câu này, chú trả lời thật nhé. Bài "Ẩm trời" của chú, đáng mấy điểm.
Tôi có chút ngập ngừng:
- Tự chấm điểm thì em không biết cho điểm mấy nhưng bài đó cũng thường thôi, không thể là hay.
Anh ồ lên, lanh lảnh:
- Vậy mà bác Châu Thạch khen hết lời.
Tôi cười, nửa phân trần:
- Chú Châu Thạch khen hay ở phong cách tỏ tình mới lạ, bạo liệt chứ không khen bài thơ "Ẩm trời" hay.
Anh chậm rãi:
- Anh nghĩ bác Châu Thạch vì quý người mà quý thơ. Bác Châu Thạch nhiều bài bình rất sâu, rất hay, anh rất phục nhưng đọc mấy bài bình kiểu quý người quý thơ như thế không sướng.”

Trước hết tôi thành thật cảm ơn nhà thơ Nguyễn Đăng Hành đã thốt lên những lời có cánh khen tôi, khiến trong tôi, niềm vui đầu năm ập đến bất ngờ.
Sau đó thấy bài ghi chép của Đặng Xuân Xuyến được đăng lên facebook tôi có comment mấy lời như sau:
Nhà thơ Nguyến Đăng Hành viết có cái chưa hiểu tôi:
Khi nói về bài bình “Ấm Trời” của Đặng Xuân Xuyến, nhà thơ Nguyễn Đăng Hành nói: “bác Châu Thạch quý người nên quý thơ”. Thật ra khi bình bài “Ấm Trời” tôi chưa hề quen biết gì Đặng Xuân Xuyến và cho đến nay cũng chưa hề gặp Đặng Xuân Xuyến lần nào hay trao đổi với nhau quá 5 phút trên điện thoại, còn trên email thì hoàn toàn không có. Vậy thì phải nói tôi “QUÝ THƠ NÊN QUÝ NGƯỜI” mới đúng.”
Nói cho đúng, tôi biện hộ cho mình như thế cũng chưa chính xác, vì nếu nói quý người nên quý thơ thì tôi còn quý nhiều người hơn quý Xuyến, mà thơ họ không thua gì thơ Xuyến, nhưng tôi chưa bình cho họ lấy một bài thơ. Ví dụ như nhà thơ Phan Minh Châu ở Nha Trang. Anh đã là bạn thơ với tôi gần 10 năm, tôi yêu thơ anh như điếu đổ nhưng cho đến khi anh qua đời, tôi chưa hề viết một câu về thơ anh. Tôi đau đớn và chua xót trong lòng.
Tôi nghĩ người làm thơ và người bình thơ có một sợi dây liên kết vô hình nào đó, nên có sự đồng điệu trong cảm thụ, tri kỷ nhau ít nhất trong chính bài thơ được đem ra tán thưởng. Ví dụ như bài thơ “Ấm Trời” của Đặng Xuân Xuyến, nhà thơ Nguyễn Đăng Hành tỏ ý không vừa lòng nhưng với tôi nó là bài thơ hay thật thụ.
Ở trên, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến trả lời nhà thơ Nguyễn Đăng Hành như sau:  “Chú Châu Thạch khen hay ở phong cách tỏ tình mới lạ, bạo liệt chứ không khen bài thơ "Ẩm trời" hay.”. Đó chỉ là một câu nói khiêm nhường thôi. Thật ra bài thơ phải hay mới làm bộc lộ “phong cách tỏ tình mới lạ, bạo liệt” và độc đáo được. Thơ hay là ở chỗ diễn tả sống động cái phong cách ấy.
Từ sự trao đổi giữa hai nhà thơ trên, tôi mở bài bình thơ của tôi đọc lại. Bài viết có đầu đề là: “Ấm Trời” thơ Đặng Xuân Xuyến: Một phong cách tình khác lạ.
Để hiểu những đoạn sau của bài viết nầy, xin mời đọc lại một lần bài thơ của Đặng Xuân Xuyến:      
ẤM TRỜI
Em gạ một đêm chồng vợ
Cho mùi da thịt thơm hương
Mấy ngày hôm nay mưa tợn
Ẩm trời, khó ở, thấy ghê.
 .
Ừ thì, một đêm thôi nhé
Mai đừng, nữa gạ một đêm
Mùa này ẩm trời dài lắm
Da đây thịt đấy đến mòn.

Mở đấu bài bình tôi đã viết:

Có những bài thơ nói về tình yêu thiên về tinh thần nhẹ nhàng như bướm bay, lãng mạn như gió trăng và êm đềm như tiếng suối chảy. Cũng có những bài thơ nói về tình yêu thiên về nhục dục hừng hực như lửa cháy, cuốn hút như phong ba và cuồng nộ như con thiêu thân sa vào hố lửa. Giữa hai lằn ranh đó có những bài thơ nói về tình yêu khô khan như một lời bông đùa dí dỏm, nhưng nó lại hoàn toàn thể hiện sự độc đáo của một phong cách yêu”.
 Như vậy bài thơ nầy không phải hay ở chỗ lời thơ hoa bướm mà hay ở chỗ lời thơ ngổ ngáo, có mãnh lực cuốn hút người đọc nhìn thấy một cuộc truy hoan hoàn toàn vì nhục dục sẽ diển ra.

Đoạn giữa của bài bình thơ tôi viết như sau:

Người ta có thể tìm thấy trong ca dao hay trong thơ những câu đối đáp rất hay của những chàng trai trả lời cô gái đang gặt lúa trên đồng hay ban đêm giã gạo cùng nhau. Những câu đó chắc chắn rất trữ tình nhưng chắc chắn không bao giờ thân ái như lời thơ trong khổ thơ này. “Ừ thì một đêm thôi nhé”: chúng ta nghe như lời của anh nói với em. Chúng ta tưởng tượng lời từ cửa miệng chàng trai thốt ra âu yếm vô cùng, ấm áp vô cùng. Rồi thì “Mai đừng, gạ nữa một đêm”: Câu thơ không phải là lời từ chối đâu, ngược lại đó là lời hẹn hò những đêm kế tiếp bằng một câu bông đùa tế nhị.”
Như vậy, bài thơ hay ở chỗ diễn tả được cái chân tình, cái tình yêu ẩn kín phía sau những lời tưởng như trắng trợn đó. Nhà thơ đã dùng ngôn ngữ thật thô cứng nhưng lại diễn tả hết cái mềm mại nằm trong sâu kín tâm hồn của hai người có bản tính bông đùa và thích diễu cợt cùng nhau.

Đoạn cuối của bài bình thơ tôi viết như sau:

Bài thơ hay là hay ở chỗ đó, diễn đạt cái kín đáo mà bề ngoài không mấy ai thấy được, không mấy ai trân trọng, có khi còn khinh ghét nữa. Bài thơ hay cũng là hay ở chỗ “nói tục giảng thanh”. Đọc “Ấm Trời” ta nghe tiếng thơ như của một nhân vật bất cần đời, một cặp trai gái ngổ ngáo xem tình như cỏ rác, nhưng ngẫm kỹ, đọc đi đọc lại nhiều lần ta tìm thấy ở đó những tâm hồn đẹp mà ta yêu quý, một mối tình có thể làm cho ta se lòng và cảm mến
Tất nhiên ở đây tôi chỉ trich lại những phần chính trong bài bình thơ của tôi, mục đích để biện hộ cho mình. Biện hộ rằng tôi quý thơ Đặng Xuân Xuyến mà viết những lời có cánh cho thơ anh chớ không phải vì quý anh mà viết những có cánh cho thơ ấy. Quý vị nào có vui thì tìm trên web dangxuanxuyên đọc trọn bài bình cúa tôi cho “ẤmTrời” sẽ tường tận hơn.
Sau đó hai nhà thơ còn đề cập đến việc tôi và nhà thơ Nguyên Lạc cãi cọ nhau.
Khi nói về thái độ của ông Nguyên Lạc đối với tôi, nhà thơ Nguyễn Đăng Hành nhận xét: “Ông Nguyên Lạc thâm và đểu khi dùng thái độ nhã nhặn lịch thiệp để ra đòn với ông Châu Thạch”.
Thật ra ông Nguyên Lạc dùng chữ “không lương thiện” để chửi tôi thì không thể nói là “nhã nhặn lịch thiệp” được. Phải nói đó là một câu nặng nề nhất khi dùng cho một người đã từng viết khen ngợi ông ta từ khi chưa hề biết ông ta là ai và chưa đòi hỏi ông ta một món quà nhỏ nào. Nghĩa của chữ Lương thiện là “không làm những gì trái với đạo đức và pháp luật”. Vậy ông ấy nói tôi “không lương thiện” là ông ấy nói tôi “vô đạo đức và phạm pháp”. Ông ấy có nhiều bằng đại học, là một nhà văn thì phải ý thức đầy đủ lời nói của mình, không vu khống làm xúc phạm nhân phẩm kẻ khác chứ. Nhưng thôi, tôi đã hứa với mọi người quên đi nên không nhắc lại nữa.

Cuối cùng xin gởi đến hai nhà thơ Nguyễn Đăng Hành và Đặng Xuân Xuyến lời chúc một mùa xuân an lành, một năm mới phát triển và viết thật hay. Xin gởi đến quý vị đã đọc bài nầy lời cảm ơn và ước nguyện nhận nhiều niềm vui, an khang, thịnh vượng trong năm Kỷ Hợi nầy./.
                                             Châu Thạch

READ MORE - MẤY LỜI TÂM SỰ - Châu Thạch