Chúc Mừng Năm Mới

CHUC MUNG NAM MOI

Thursday, March 5, 2015

VƯỜN HOA XUÂN TAO ĐÀN - thơ Hoài Huyền Thanh




VƯỜN HOA XUÂN TAO ĐÀN

Dê mẹ dê con ngẫng cao đầu bên nốt nhạc
Réo rắt cung đàn hòa tiếng hát chào xuân
Hoa muôn sắc khoe mùa vui diễm tuyệt
Dê núi rừng lạ lẫm bước chồn chân

Thềm nhà Tổ,hương nguyện cầu bay nghi ngút
Chậu mai vàng khoe nụ đón mùa sang
Mờ mịt khói, vái van gì em nhỉ!
Không khóc mà sao lệ ứa hai hàng

Vẫn là đá muôn hình vạn trạng
Bao giải vàng giải bạc, lắm kỳ công
Xanh một màu xanh giữa cát viền trắng xóa
Kiên cường thay hoa đẹp xương rồng

Lan khắp nẻo gợi  tình hoa Hồ Điệp
Cô cô cậu cậu.. réo gọi chụp hình
Hồng đất sét thẹn thùng bên Thược  Dược
Hoa giả bình yên nép bóng tùng quân

Trên sân khấu tưng bừng  ngày lễ hội
Bốn mươi năm nào phải chuyện tình cờ
Đoàn văn công diễn mùa xuân đẹp nhất
Lay lắt lòng ta xuân ngỡ như mơ

Bao đứa trẻ khoe áo vàng áo đỏ
Quà đầy tay ríu rít nắng nhung tơ
Bên kia phố, cách một con hẻm nhỏ
Vài trẻ mồ côi lem luốc dáng bơ phờ.

                   HOÀI HUYỀN THANH

                       Xuân Ất Mùi 2015
READ MORE - VƯỜN HOA XUÂN TAO ĐÀN - thơ Hoài Huyền Thanh

BUỒN TRONG KỶ NIỆM - thơ Trúc Thanh Tâm




BUỒN TRONG KỶ NIỆM

Yên bình trở lại phố xưa
Tìm em mới biết người mua mất rồi
Anh nghe động đất chỗ ngồi
Dường như trái phá nổ thời chiến tranh

Con đường vẫn lá me xanh
Nhưng cây tình ái gãy cành thiên hương
Sầu giăng khắp những ngã buồn
Tim anh đau nhói vết thương nơi lòng

Lỡ làng con sáo sang sông
Anh ôm kỷ niệm cõi hồng trần mưa
Nụ hôn đêm đó thành thơ
Theo anh khắp chốn giang hồ, em ơi

Duyên ta định số do trời
Tình ta là nợ cột rồi mối tơ
Yêu nhau từ thuở học trò
Bốn lăm năm cũ, bây giờ là đây !

Tháng 3. 2015
TRÚC THANH TÂM


READ MORE - BUỒN TRONG KỶ NIỆM - thơ Trúc Thanh Tâm

Đến với bài thơ hay: MÙA XUÂN - Hoàng Tấn Linh đọc thơ Võ Văn Luyến


ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY:  MÙA XUÂN
Hoàng Tấn Linh đọc thơ Võ Văn Luyến


Nhà thơ Võ Văn Luyến
Gương mặt Võ Văn Luyến không còn xa lạ với bạn yêu thơ, nhất là thơ trẻ Quảng Trị, bởi anh đã đến với thơ từ khi còn mặc áo lính, khi đắm mình trên tầng ba trường Đại học Sư phạm những năm 80 của thế kỉ trước. Nhẹ nhàng, trầm mặc, dung dị, cổ kính là biểu hiện thường thấy ở những trang anh viết. Bài thơ Mùa xuân trong tập Sự trinh bạch của ngọn nến, (NXB Hội nhà văn, 2007) là lời xuân ca tình tự đằm thắm, ngọt ngào trong dư vị tiếng nói xuân thì đưa anh đến niềm sống, tình yêu trong sự vần vũ của thời gian.

Đến với Mùa xuân của Võ Văn Luyến, ấn tượng đậm nhất gieo vào lòng người chính là cảm giác lạ. Không câu nệ, không khuôn sáo, anh đến với hương xuân bằng sự lắng đọng của tâm hồn nhạy cảm, tinh tế.

Mùa xuân dắt tay qua đồng cỏ
Nắng vàng như em đủ nhớ một đời
Ta nghêu ngao bài ca du mục
Bầy chim ri rỉa cánh bên trời
Ngọn gió nào kết nên hương lạ
Ta cỗi cây đành vẫy bút thiên di
Em tơ nõn, kiếp ta đòi xanh lá
Cháy trăm năm da diết tuổi xuân thì

Ngày xuân thuần khiết trong thơ là không gian sáng rỡ; rất sáng của một tâm hồn đa cảm. Thế giới xuân như một di ảnh đa tình, đồng cỏ đầy nắng vàng, ngọn gió đậm hương lạ, lộc biếc trên cành tơ nõn, bầy chim ri rỉa cánh bên trời. Vẻ cao rộng vừa xa vừa gần lâng lâng một cảm giác mê hoặc được tạo bởi một thanh âm rất trong, hoặc tưởng chỉ có tâm hồn thi sĩ lắng đọng trước tạo vật.

Vài nét chấm phá bức tranh xuân của anh đã khiến lòng người rộn ràng, thổn thức. Đồng cỏ rộng ươm đầy nắng, chất chứa trong cái dắt tay đầy niềm dấu ái. Mùa xuân dắt tay, bạn nghi ngại gì về điều đó, hãy lắng hồn mình trong khúc ca diệu vợi. Xuân là em, ta bên em đồng điệu song hành; em đưa ta về bên xuân trải rộng. Ta đi trên đồng cỏ xuân, nơi vi diệu của tâm hồn ta là khúc tự tình xuân ca.

Mùa xuân dắt tay qua đồng cỏ
Nắng vàng như em đủ nhớ một đời
Ta nghêu ngao bài ca du mục
Bầy chim ri rỉa cánh bên trời

Xuân ca rạo rực, rộn ràng loa toả trong tâm hồn thi nhân. Hình ảnh nắng vàng như em là một phát hiện lạ, rất lạ khi tơ tình mùa xuân của nhà thơ tan loãng, phân thân trong khúc điệu của xuân. Nắng xuân của niềm dấu ái, nắng đủ nhớ một đời; nắng của sự cảm nhận, sự chiêm nghiệm độc đáo. Độ lắng của ngôn từ được đo bằng sự rung cảm và chan hoà. Trên cao, đàn chim ri rỉa cánh bên trời hay là sự hiện hữu của không gian cao xanh. Bầu trời trong vắt, thanh âm đàn chim rỉa cánh không làm lay động nắng vàng mà ngược lại là sự điểm tô, khắc hoạ thêm một thanh điệu xuân ca. Bức tranh thật đẹp, đẹp cả trong độ lắng tâm hồn thi nhân. Cái ta của tác giả là sự mặc nhiên của cái tôi tự tại; hai tiếng nghêu ngao không dừng lại ở việc thưởng ngoạn mà là sự tan loãng. Ngày lên, xuân đến thật ý vị, mang một dấu ấn khó phai.

Bất chợt trong hương xuân của Võ Văn Luyến là “thanh sắc thời tươi” (Lời thơ Xuân Diệu). Hương xuân thật lạ nhưng đằm thắm: Ngọn gió nào kết nên hương lạ

Ta cỗi cây đành vẫy bút thiên di
Em tơ nõn, kiếp ta đòi xanh lá
Cháy trăm năm da diết tuổi xuân thì

Không gian mùa xuân hiện ra gần hơn, gần đến nội tại tâm hồn tác giả. Lần này em không dừng lại ở nắng vàng nữa mà là sự tơ nõn của lá; lá tơ nõn để ta ngẩn ngơ một kiếp. Sức xuân trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ!. Tôi nhớ, có lần bên bờ sông Đà lặng tờ, Nguyễn Tuân cũng đã dùng hai tiếng nõn búp để diễn tả sức sống, màu xanh đang trỗi dậy của miền Tây Bắc. Võ Văn Luyến thì khác, cái ta (cái tôi hiện hữu của tại ngã) hoá thân vào cỏ cây để lắng mình trong sự tơ nõn, cảm nhận trong từng khoảnh khắc sức xuân đang trào dâng. Tận đáy lòng của tâm hồn yêu đời của thi nhân trỗi dậy bằng ta cỗi cây, kiếp ta đòi xanh lá. Ta lắng mình, ta đi trong kiếp cỏ cây để lắng nghe từng tiếng tơ lòng của mùa xuân đang đến. Chỉ có cỏ cây, chỉ có em tơ nõn mới giữ được hồn ta. Ta bỏ lại tất cả, ta vẫy bút thiên di mà không một ngôn từ nào đánh đổ, mã hoá được kiếp ta đòi xanh lá.

Mùa xuân trong thơ Võ Văn Luyến thật lạ, thật đẹp. Đẹp đến nao lòng, bởi đó là sự hòa hợp giữa hương đất trời xuân ca và độ lắng đến chân xác tâm hồn nhà thơ. Câu thơ cuối hiện ra kết nối tình yêu đất trời và hương xuân của con người. Mùa xuân đã cảm hoá được cái ta ngêu ngao an nhiên giữa nắng của tác giả, đã soi vào gương mặt xuân xanh hương lạ mỗi người.


Tác giả Hoàng Tấn Linh
Xuân lòng. Lòng thi nhân đã hướng về cuộc đời. Nên chăng xuân đất trời cũng là xuân của con người. Ta đi trong xuân, nghe trong đó kiếp xuân thì và cả những gì nhuận sắc nhất ta dâng cho đời. Ngọn lửa tình rạo rực hương xuân rồi sẽ cháy hết, sáng rực lẽ sống cho đời. Phải chăng, đó là thông điệp mà Võ Văn Luyến dành cho cuộc đời, mỗi người vào độ xuân về. Hình ảnh thơ cháy trăm năm da diết tuổi xuân thì một lần nữa đánh thức ở chúng ta ý thức về niềm sống, ý thức về chính mình, tuổi mình trước tạo vật.

Tứ thơ Mùa xuân của Võ Văn Luyến thật nhẹ nhàng, dung dị mà sâu sắc, bằng lặng nhưng lại rất mãnh liệt dữ dội; dường như đó là chuỗi kết nối của những trải nghiệm, bởi ngoài Mùa xuân, anh còn đến với hương đất trời bằng Mùa xuân gõ cửa, bằng Bất chợt mùa xuân, Mẹ ơi xuân đến rồi kìa. Tin rằng những vần thơ đó là minh chứng của tâm hồn tha thiết cháy trăm năm da diết tuổi xuân thì.

                                                        Hoàng Tấn Linh 


Trích từ tập sách: 
ĐỐI NGỌN ĐÈN KHUYA, 
tác giả Võ văn Luyến,
NXB Thuận Hóa,
2014.
(Tác giả gởi tặng)

READ MORE - Đến với bài thơ hay: MÙA XUÂN - Hoàng Tấn Linh đọc thơ Võ Văn Luyến

Trò chơi ngày Tết xứ Huế: XĂM HƯỜNG - Lê Duy Đoàn





Trò chơi ngày Tết xứ Huế: XĂM HƯỜNG


Sáng mồng 7 tháng giêng năm Đinh Hợi, tôi đang chiên mấy miếng bánh tét thì nghe vợ tôi gọi với xuống từ lầu một:” Anh Đoàn ơi ! Họ nói về Xăm Hường trong chương trình VTV1 của truyền hình VN kìa”. Tôi vội bật TV, vừa kịp lúc phóng viên đang phỏng vấn một người dân sống ở phố cổ Hội An, đứng bên cạnh một nhóm người đang chơ Xăm Hường ngồi trên một chiếc chiếu trải giữa nền của một ngôi nhà rường sang trọng. Người Vieetjgoocs Hoa này bảo rằng trò chơi Xăm Hường là một trò chơi của người Hoa, được du nhập vào Việt Nam do người Minh Hương (Việt gốc Hoa) từ rất lâu khi tổ tiên họ chạy sang nước ta và được vua chúa Triều Nguyễn cho lập thành làng gọi là Minh Hương.

Tôi nhận thấy những câu hỏi của phóng viên lẫn câu trả lời của người được phỏng vấn đều mang tính võ đoán và thiếu căn cứ. Một phát biểu như vậy trên phương tiện truyền thông dễ gây ra ngộ nhận về xuất xứ của trò chơi Xăm Hường

Bài viết này nhằm xác định trò chơi Xăm Hường được  bày ra để làm trò tiêu khiển trong nội cung Triều Nguyễn. Sau đó, những người trong Nguyễn Phước Tộc và các quan lại  mang trò chơi này ra ngoài cung và trò chơi trở nên phổ biến từ thành thị đến nông thôn Huế và Thừa Thiên.

Người dân các xứ Quảng (Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi) cũng có vài gia đình chơi trò Xăm Hường. Những gia đình này có thể là người gốc Huế hoặc trong dòng tộc có người làm quan trong triều đình Huế và từng có thời gian làm việc ở đây, họ có dịp chơi nên thích trò này.

Vào trong Nam hay ngoài Bắc, trò chơi này hoàn toàn lạ lẫm.

Như vậy, trò chơi Xăm Hường ví như vết dầu loang, từ cung đình Huế lan ra khắp Huế và Thừa Thiên rồi tỏa ra các vùng xứ Quảng, rồi thôi. Những vùng xa như Bình Định, Phú Yên trở vào đến Cà Mau, từ Quảng Bình trở ra Bắc hầu như chẳng ai biết trò chơi này.

Trở lại bài phỏng vấn về Xăm Hường trên VTV1, bảo rằng Xăm Hường có nguồn gốc từ Trung Quốc là không có căn cứ vì nếu người Minh Hương đem trò chơi này du nhập vào Việt Nam thì không cứ gì có người Minh Hương ở Hội An chơi trò này mà người Minh Hương ở Chợ Lớn là một cộng đồng người Hoa rất rộng lớn lại không biết? Dòng họ Mạc Thiên Tích lập nghiệp ở Hà Tiên ắt cũng phải đem trò chơi thú vị này du nhập chứ sao lại không nhỉ?

Để chứng minh thêm trò chơi Xăm Hường phát sinh từ nội cung triều Nguyễn, tôi dẫn ra đây vài chứng cứ:

1. Nếu phát sinh từ các triều vua trước ở Thăng Long, thì với mức thẩm thấu của trò chơi này, ít nhất là người ở Đông Đô Hà Nội phải có người biết. Dân Bắc chẳng ai biết xăm hường.

2. Trò chơi được gọi một cách thuần Việt là“XĂM HƯỜNG”. Tên gọi này chỉ ra việc từ chữ Hồng nói trại ra thành chữ Hường. Chắc chắn là những người ở Hội An không thể nói tên gọi của trò chơi này theo một cách gọi của người Tàu (ví dụ như Hồng Thiêm, chẳng hạn ) mà chỉ có thể gọi một cách thuần Việt và Huế đặc là Xăm Hường.

3. Trò chơi Xăm Hường chắc là được bày ra sau đời vua Minh Mạng.

Để thiết lập một nền quân chủ kỷ cương, năm 1832, vua Minh Mạng sai ông Đinh Hồng Phiên (có nơi  ghi là Đinh Nguyễn Phiên) soạn Đế hệ thi và 10 bài Phiên hệ thi, mỗi bài có 4 câu 5 chữ để phân biệt dòng chính và dòng thứ trong Nguyễn Phước Tộc. Đế hệ thi có 4 câu:

Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thoại Quốc Gia Xương

Bài Đế hệ thi được khắc trong một cuốn sách bằng vàng, cất trong hòm vàng đẻ lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các bài Phiên hệ thi cũng được khắc trong các cuốn sách bằng bạc.

Chữ Hồng (màu đỏ) nói trại ra thành Hường, kị húy Hồng Nhậm, tên vua Minh Mạng. Đây là lối nói tránh những từ huý kị rất phổ biến ở Huế, ví dụ như cửa Đông Hoa nói trại thành Đông Ba vì chữ Hoa là kị húy Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh Mạng.

4. Trong dịp Festival Huế 2006, chương trình lễ hội có Đêm Hoàng Cung, Ban tổ chức đưa vào nhiều loại hình văn hóa Huế, trong đó có trò chơi Đổ Xăm Hường. Dịp này, ông Giám đốc Bảo tồn Bảo tàng Cố đô Huế phát biểu rằng ông đã đi đến rất nhiều bảo tàng dân tộc học của Trung Quốc nhưng không nơi nào có dấu vết của trò chơi Xăm Hường.
           
                                
*   *   *
Tác giả Lê Duy Đoàn

Nhân đây tôi xin trình bày thêm những điều liên quan đến trò chơi Xăm Hường, một trò chơi phù hợp với niềm hân hoan của con người trong ngày Tết, phù hợp với việc tạo một không khí ấm cúng, đầy tình thương yêu gắn bó các thành viên trong gia đình,bằng hữu từ già tới trẻ, ai chơi cũng được, cũng vui, thậm chí người không biết luật vẫn ngồi vào chơi được như thường.

Người ta thường chơi Xăm Hường trong mấy ngày tết, có kéo dài lắm thì cũng đến hết mùng thì thôi. Đây là một trò chơi tao nhã vì không ai dùng Xăm Hường để sát phạt. Hầu như không có tiếng cãi cọ, cay cú trong lúc chơi, chỉ có tiếng cười vui rộn rã hòa với tiếng leng keng vui tai của nạm hột súc sắc xoay tròn trong tô kiểu cùng tiếng lách cách của những thẻ hường va chạm nhau.

Số lượng người tham dự trò chơi này có thể lên đến 12 người hay nhiều hơn nữa nếu chúng ta biết cách chơi. Do đó, Xăm Hường rất phù hợp với không khí gia đình chung vui trong ngày Tết.

Chẳng ai chơi Xăm Hường mà tính chuyện gian lận vì không ai có thể điều khiển được một lúc 6 hột súc sắc. Tính minh bạch của trò chơi rất cao, 6 hột bày ra rõ ràng trước bao nhiêu cặp mắt nên người không biết tí gì về Xăm Hường cũng có thể ngồi vào chơi thoải mái, chỉ cần thả hột vào tô thì có người đọc và lượm thẻ giúp. Chỉ qua vài ba ván là biết được luật chơi liền.

Nhiều người tin rằng chơi Xăm Hường như một cách bói quẻ tốt xấu đầu năm. Trong cuộc chơi, ai lấy được Trạng anh (Trạng Nguyên), Trạng em (Bảng Nhãn, Thám Hoa) nhiều lần thì chắc cả năm danh tài đắc lợi, công việc hanh thông, thăng tiến. Trước ăn sau thua thì đầu năm tốt, nữa năm về sau xấu và nếu trước thua sau ăn thì ngược lại tiền hung hậu cát.

Nếu bị cướp trạng thì coi chừng những điều xui rủi, công việc gãy đỗ giữa chừng.
Hên nhất là ngũ hường đoạt tam khôi, cướp một lúc 3 ông trạng chắc là trong năm có cơ hội hoạnh phát tài lộc. Khó nhất là lục phú, tức là 6 hột súc sắc cùng hiện ra một mặt giống nhau. Vì là cực kỳ khó nên người ta tin rằng điều quá tốt hiển hiện thì có sự việc quá xấu tiềm ẩn.

Những điều cần biết về trò chơi Xăm Hường:

1. Vì sao Xăm Hường dùng mặt tứ (4) làm chuẩn của trò chơi?

Xăm Hường là một trò chơi mang tinh thần khuyến học. Đổ Xăm Hường là gieo 6 con súc sắc để dành những chiếc thẻ khắc ghi các học vị trong hệ thống khoa cử ngày xưa.  Trong trò chơi Xăm Hường cũng có các cấp đỗ đạt như vậy mà phần thưởng cho người chơi là những thẻ xăm hường, trong đó cao nhất là Trạng Nguyên.

Có lẽ nhiều người thắc mắc vì sao người bày ra trò chơi này lại lấy mặt tứ (4) làm chuẩn, trong khi mặt nhất (1) cũng có màu đỏ.

Vì là chốn quan trường nên cung quan là chủ đạo của trò chơi. Người ta đã lấy hào tứ của quẻ Dịch làm chủ đạo.

Trong quẻ Dịch có 6 hào, từ sơ hào đến hào thượng. Sáu mặt của hột súc sắc (nhất - nhì - tam - tứ - ngũ - lục) tương ứng với 6 hào.  Mỗi quẻ 6 hào tương ứng với 6 ngôi phân biệt trong xã hội quân chủ. Hào Đầu là ngôi thứ dân, hào Hai là ngôi tư mục, hào Ba là ngôi đại phu, hào 6 là ngôi trời, hào 5 là ngôi vua (cửu ngũ) và hào 4 là ngôi quan lớn (đại thần) nên người bày ra trò chơi này lấy mặt tứ làm chủ đạo cho trò chơi. Mặt tứ có màu đỏ được gọi là Hường vừa vuông vắn, vừa đẹp lại vừa có ý nghĩa như thế.

Người ta dựa trên thuật toán xác suất và căn cứ vào tần suất xuất hiện của các mặt súc sắc để định ra luật lệ trò chơi. Càng khó xuất hiện (tức là xác suất thấp, tần suất xuất hiện ít) thì mức thưởng càng cao. Từ đó hình thành ra các loại thẻ xăm hường.

Bộ thẻ Xăm Hường được lập theo thứ tự quẻ Dịch: Thái Cực (1), Lưỡng Nghi (2), Tứ Tượng (4), Bát Quái (8) từ đó tăng dần lên theo cấp số nhân mà công bội là 2. Nếu tính đơn vị là 1 thẻ nhất hường (giá trị là 1) thì tổng giá trị của cả bộ Xăm Hường là 192 đơn vị, chia ra làm 6 loại thẻ, mỗi loại thẻ trị giá 32 đơn vị gọi là 1 Trạng.

I. Tên gọi và giá trị của các loại thẻ Xăm Hường:


TT
Tên gọi
Giá trị
Số lượng (thẻ)
1
Thẻ Trạng Nguyên (dân gian gọi là Trạng anh)
32
1
2
Thẻ Bảng Nhản, Thám Hoa (Trạng em)
16
2
3
Thẻ Tam Hường
8
4
4
Thẻ Tứ Tự (hay Tứ Tấn)
4
8
5
Thẻ Nhị Hường
2
16
6
Thẻ Nhất Hường
1
32


Tổng mỗi loại thẻ có giá trị 32 đơn vị gọi là 1 trạng x 6 = 192 đơn vị, người ta gọi là 6 Trạng.

Nhất hường tương đương với cấp đỗ đạt là Tú Tài, nhị hường tương đương Cử Nhân. Thẻ Tam Hường còn gọi là thẻ Tam Hường Hội nguyên.

Như vậy chỉ với 1 bộ 6 hột súc sắc và một bộ thẻ như trên với 1 cái tô kiểu tiếng kêu thanh tao là ta đã sẵn sàng cho một cuộc chơi vui thú.

                                                                                              LÊ DUY ĐOÀN

     

Trích từ tập sách:
ĐI TÌM NHÀNH HOA THẠCH THẢO,
Tác gỉả LÊ DUY ĐOÀN,
NXB Thanh Niên,
2014.
(Tác giả gởi tặng)

(Kì sau: Những qui ước trong trò chơi Xăm Hường) 
READ MORE - Trò chơi ngày Tết xứ Huế: XĂM HƯỜNG - Lê Duy Đoàn

Wednesday, March 4, 2015

Thơ Huy Uyên: THƯ VIẾT TỪ QUẢNG-TRỊ / KHUYA VỀ LẠI GÒ-VẤP



Tác giả Huy Uyên

Thư viết từ Quảng-trị
               (gởi H.ở Pennsylvania)

Ta xưa phiêu bạt thời chinh-chiến
em về có còn nhớ gì ta
quê quán vẫn đắm chìm lận-đận
trở lại đây ta kẻ không nhà.

Máu đã đổ lấp đầy DMZ
mồ chôn cỏ, vàng từng sợi tóc
lên Dakrong, Cam-lộ núi sông hồ
về Rockpile lòng buồn như muốn khóc .

Dấu cũ hồn phai mờ trận-địa
dốc Miếu đau in vạn đường trần
xác người hai phía trôi về bể
lệ căm-hờn xa xót trăm năm .

Chiến-trường qua theo gió, núi, mưa bay
nghĩa-địa người chìm quên còn đó
Quảng-trị căm đau nhớ từng ngày
nửa đêm hồn ai vừa trổi dậy .

Cầm súng tay ta xưa đầy máu
xác thân vùi lấp tháng cùng năm
dấu trong tim lệ sầu còn ứa
quên môi hôn, người tự cõi xa-xăm .

Bên cổ-thành bao người ngã gục
bao năm quê cũ mãi điêu-linh
bên sông, thành lấp chôn ký-ức
dấu kín trong tim một bóng hình .

Thạch-hãn chờ người về sân ga
xóm chài xưa cả đời nghèo khó
em có về không mong đợi quê nhà
buồn vương theo chi mùa sương gió .

Con đường Gia-long một thời em bước
buổi ấy quê hương ngập máu người
trước ngày đi xa em quên hết
đã lâu rồi súng đạn xa trôi .

La-vang đêm nay có đợi người về
trên đồi còn chăng lời thét gọi
xuân, đời đi qua một giấc ngủ mê
ngày trở lại
Quảng-trị nhớ ai không nói .

Từ thuở vết cắt kẽm gai ứa máu
thư viết cho người thiêu đốt con tim
lên Long-hưng thắp sầu từ độ
để Trí-bưu chuông đổ Ba-lòng 
để đêm nay ngồi uống cạn rượu suông ...
                                       Huy Uyên

          
        
Khuya về lại Gò-Vấp

Đã khuất chuyến xe lam khuya nay
bóng ai đứng một mình đầu chợ
Gò-Vấp xưa năm tháng đi về
thao-trường và những giọt mồ hôi đổ .

Tháng năm lưu đày bọn lính quê tứ xứ
ngã đầu soi tóc bạc trắng đời xanh
tuổi hai mươi mộng sông hồ biển cả
đời trôi như con nước phiêu bồng .

Tiếc nhau chi về gói lại con tim
làm đám tang bên sông Sài-Gòn cuồng lũ
chôn sớm rồi giấc mộng quân-vương
áo mão xênh-xang về nghĩa-trang mây gió .

Đầu năm đứng giữa Sài-Gòn thầm nhớ
hận ai xưa gảy súng ngã cờ
một mình buồn lắt-lay theo con phố
nước mắt hoen chết giữa đường xưa .

Chiều ngẫn-ngơ đau đớn chợ Bến-Thành
đón ai người lính một lần về thành-phố
những con đường xưa ngờ như phủ lá cây rừng
ngờ như hôn người yêu
cuối tuần giữa trời lộng gió .

Mấy mươi năm bơ vơ trăm ngã
tôi về lại đây lần cuối đi tìm
đất trời Sài-Gòn bổng dưng xa lạ quá
để Gò-Vấp buồn xiết bao nỗi rưng-rưng .
                           Huy Uyên

                             (2015)
READ MORE - Thơ Huy Uyên: THƯ VIẾT TỪ QUẢNG-TRỊ / KHUYA VỀ LẠI GÒ-VẤP

MẸ VÀ GIÊNG HAI - thơ Lê Đăng Mành



Tác giả Lê Đăng Mành


MẸ VÀ GIÊNG HAI

Xuân chao rách tấm giêng hai
Mẹ bòn cơ cực vá vai đoạn trường
Trần thân phơi tủi gió sương
Ngọn bấc quơ nát vạt nương tội tình

Mầm nứt mơ giọt bình minh
Truân chuyên mót lại gom tình cho không
Qua thì cải vội ra ngòng
Qua xuân mẹ vẫn nghiêng đong mưa phùn

Lượm rìa làng chút ung dung
Cơ hàn dầu dãi đã từng Mẹ ơi!
Rét cào đông cạn máu tươi*
Mẹ hom hem gọi nắng phơi giêng mình!

                                        Lê Đăng Mành


*Tục ngữ Quảng Trị: Giêng hai cắn ngón tay không ra máu
READ MORE - MẸ VÀ GIÊNG HAI - thơ Lê Đăng Mành

ĐỌC “NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ" ĐƯỜNG THI LÊ NGỌC PHÁI - Châu Thạch





   ĐỌC “NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ" 
                                 ĐƯỜNG THI LÊ NGỌC PHÁI

                                                                   Châu Thạch

Hiện nay phong trào làm thơ Đường phát triển rất ngoạn mục trên diễn đàn văn chương nước ta. Ngoài những trang web và ấn phẩm của Hội thơ Đường luật Việt Nam chuyên về Đường thi,  hầu như trên tất cả các trang web văn chương khác đều có “Góc Thơ Đường” dành riêng cho bạn đọc và bạn viết yêu thích thể thơ nầy.
Quan niệm chơi Đường thi hiện nay cũng có hai ý kiến khác nhau. Một số người cho rằng không nên chơi Đường thi vì Đường thi là thể thơ cổ điển, luật lệ nghiêm ngặt có nguồn gốc từ Trung Quốc. Hơn nữa,  Trung Quốc và ta vì đương “cơm không lành, canh không ngọt” nên tẩy chay nó đi là vừa. Tuy nhiên, đại đa số các nước trên thế giới đều thấy được rằng thể loại thơ Đường hiện đang tồn tại ở Việt Nam chính là thơ Đường của Việt Nam. Thơ Đường tuy phát xuất từ Trung Quốc nhưng du nhập vào nước ta đã hơn cả ngàn năm, được ông bà ta chắt lọc, cách tân và biến hóa thành văn hoá nước nhà. Ngay tại Trung Quốc, thơ Đường cũng đã biến mất từ lâu. Vậy chơi Đường thi là bảo tồn và phát huy cái hay của người xưa để lại. Trong nhiều năm gần đây, Liên Hiệp Các Hội UNESCO Việt Nam đã quan tâm đến thể thơ Đường luật của Việt Nam và đã tạo điều kiện để duy trì và phát triển thể thơ này thông qua Trung tâm UNESCO Nghiên cứu Văn chương Việt Nam và một số đơn vị hoặc tổ chức thơ văn khác.  Trong phong trào phát triển mạnh mẽ của thơ Đường hiện nay, tác giả Lê Ngọc Phái, cựu Giảng viên Đại học Huế, hiện là thành viên của Hội Nhà Văn Thành phố Hồ Chí Minh và Chánh Văn Phòng của Trung tâm UNESCO Nghiên cứu Văn chương Việt Nam đã phát hành tập thơ “Những Dấu Ấn Lịch Sử” vào đầu năm 2015.
 Tập thơ ‘Những Dấu Ấn Lịch Sử” gồm có 88 bài thơ Đường luật viết về lịch sử Việt nam từ thời Hùng Vương cho đến khởi nghĩa chống Pháp ở Yên Bái năm 1930. Mỗi bài thơ còn kèm theo hình ảnh và chú thích để minh hoạ thêm nội dung. Tập thơ dùng Đường thi để kể lại những vinh quang của dân tộc Việt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước trước hoạ xâm lăng phương Bắc.
 Ở trang đầu Thượng Toạ Thích Thiện Thông (Trụ trì chùa Sắc Tứ Minh Thiện Khánh Hòa) đã tán dương tập thơ bằng một bài Đường thi có hai câu kết như sau:

              Tác phẩm vinh danh bao chiến tích
              Giả, chơn minh định đẹp vô bờ.

Nhà thơ Nguyễn Văn Quang (Cựu GS THNH) trong bài Đường thi cũng cảm tác, khái quát được nội dung của sách như sau:

            Bao trang sách, tạc bao thần tượng
            Mỗi áng thơ, ghi mỗi tấm lòng
            Sự tích anh hùng lưu hậu thế
            Vinh danh hào khí giống Tiên Rồng.

Và Châu Thạch tôi cũng cảm tác một bài tứ tuyệt như sau:

           Một áng văn chương lắm sắc bông
           Đường thi ghi dấu bậc anh hùng
           Nghìn thu rạng rỡ hồn dân Việt
           Xây dựng giang sơn giống Lạc Hồng.

Trên đây chỉ xin trích một vài khen tặng ngắn gọn có tóm tắt nội dung của tác phẩm, còn lại nhiều bài của các nhà thơ, các nhà phê bình thơ, các nhà trí thức, các Hòa Thượng, Thượng Toạ viết tỉ mỉ hơn về giá trị của “Những Dấu Ấn Lịch Sử” thì còn nhiều.
 Về giá trị văn chương của “Những Dấu Ấn Lịch Sử” thì nhà thơ nhà giáo Võ làng Trâm cảm tác bốn câu đầu của một bài Đường thi như sau:

           Tập thơ- lược kể các danh nhân
           Truyền bá sử ta đẹp mọi phần
           Thông suốt luật niêm không trái ý
           Chỉnh chu phép đối giữ thông vần

Nhà thơ Kim Hoa có bài tứ tuyệt như sau:

           Tiếng thơ khơi động tiếng gươm khua
           Vệ quốc, an dân nghiệp kế thừa
           Lịch sử ngàn năm bừng sống dậy
           Thầm nghe chí lớn của người xưa.

 Với chỉ hai nhận xét nêu trên cũng đủ xác nhận được
tập thơ với những bài Đường thi sít sao, chuẩn xác luật Đường thi một cách “Thông suốt luật niêm không trái ý/ Chỉnh chu phép đối giữ thông vần” và tiếng thơ
 “ khơi động tiếng gươm khua” làm cho người đọc cảm nhận được “Lịch sử ngàn năm bừng sống dậy/ Thầm nghe chí lớn của người xưa”. Vậy thì về giá trị văn chương của “Những Dấu Ấn Lịch Sử” thiết nghĩ không cần bàn tới nữa. 

Từ xưa ông cha ta đã dùng Đường thi để công bố chủ quyền đất nước, hịch quân sĩ , vinh danh tổ quốc thân yêu và cho đến nay những bài thơ như thế không bao giờ thiếu. Tuy thế, một tập Đường thi dành riêng để tôn vinh “Những Dấu Ân Lịch Sử” của dân tộc như tập thơ của tác giả Lê Ngọc Phái thì rất hiếm, hoặc nếu không lầm thì hình như không có. Thật như thế thì nhà thơ Lê Ngọc Phái là người có sáng kiến tiên phong, đáng trân trọng và hy vọng như nhà văn Nguyễn Khắc Phước đã viết:  “Một ngày nào đó, tôi tin rằng những bài thơ trong tập NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ sẽ xuất hiện trong sách giáo khoa”.

Đến đây Châu Thạch tôi nghĩ không nên viết gì thêm, để dành phần còn lại cho người tìm và đọc, khám phá những dấu ấn lịch sử hào hùng của dân tộc qua cây bút tài hoa Lê Ngọc Phái ./.

                                                                             Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ" ĐƯỜNG THI LÊ NGỌC PHÁI - Châu Thạch

DẤU YÊU - Thơ Nhật Quang




DẤU YÊU

Nắng vàng vương nhẹ bờ vai
Nụ hoa chúm chím em cài tóc xanh
Xuân ngời, mắt liễu long lanh
Vương bờ môi ngát tình anh đợi chờ

Tháng hai trời biếc xanh mơ
Nghiêng câu lục bát,hồn thơ đắm tình
Nhành yêu lộc nhú nguyên trinh
Yến oanh lảnh lót,bình minh ửng hồng

Con tim rạo rực tơ lòng
Dâng em một đóa hương nồng yêu thương
Nụ hồng mọng đẫm làn sương
Nở mùa hoa mộng, vấn vương ngạt ngào

Yêu nhau thầm ước tình trao
Nụ hôn ấm áp, dâng trào men yêu.

                                 Nhật Quang
                                 (TP. HCM )

READ MORE - DẤU YÊU - Thơ Nhật Quang

Tuesday, March 3, 2015

NGHE GIÓ HÚ - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân

Tác giả Nguyễn Hữu Minh Quân


NGHE GIÓ HÚ
Nguyễn Hữu Minh Quân

vấn vít
những dây leo hoa thường xuân
lưu đãng bãi bờ cát thức
nghiêng ngày vào đêm
ủ thơm giá rét
câu thơ đùa cợt xoay vần
giấc lạnh ngày run
miền mơ đầu cành đã gió
hừng đông mở cửa những luống cày
nỗi đau xưa ra đi cùng gió
say với cô đơn,
một thời lầm lỗi…
một tận cùng xóa bỏ
một riêng tôi…

N.H.M.Q


13.1.2015
READ MORE - NGHE GIÓ HÚ - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân

LÚM TIỀN DUYÊN - thơ Trần Ngọc Hưởng




Lúm tiền duyên 

Hát cùng anh lý tầm duyên,
Em về nhoẽn nụ chiều nghiêng bóng chiều.
Nụ cười xinh lạ đến điều,
Cho anh đọng lắng bao nhiêu nỗi niềm

Bí bầu ơi một nét duyên,
Hai bên má lúm đồng tiền hõm sâu.
Hớp hồn từ phút gặp đầu,
Thỏm rơi tận đáy … tìm đâu lối về.

Lúm tiền em thả bùa mê,
Cho anh những phút bốn bề thăng hoa.
Để đêm về lại hiện ra,
Anh mơ chỉ một đóa hoa lúm tiền.

Nhớ hoài một nụ cười duyên,
Đẹp trên khuôn mặt dịu hiền đáng yêu.
Tình về lòng vẫn mang theo
Đồng tiền duyên với bao nhiêu khát thèm

Phút nào hơi bén tiếng quen,
Má em hồng thắm thơm duyên bí bầu.
Ấp đầu tay gối bên nhau,
Môi hồng anh rõ cạn sâu lúm tiền

Trần Ngọc Hưởng


READ MORE - LÚM TIỀN DUYÊN - thơ Trần Ngọc Hưởng