Chúc Mừng Năm Mới

Văn Nghệ Quảng Trị kính chúc quý nhà thơ, nhà văn cọng tác viên và quý bạn đọc Năm mới 2017 Đinh Dậu VẠN SỰ AN LÀNH

Monday, March 27, 2017

GIỌT NẮNG KHÔNG TÊN - Thơ Đan Thụy

Tác giả Đan Thụy


GIỌT NẮNG KHÔNG TÊN
Đan Thuỵ

Em về bên anh rất khẽ
Thoáng trời điểm chút mưa bay
Hàng cây trong chiều im vắng
Giấc mơ chợt vỡ quanh đời

Em về thăm nơi chốn cũ
Một thời để vuột vòng tay
Gió bay qua mùa thu ấy
Đem ngày cất hết vào đêm

Em về tìm lại nụ hôn
Đánh rơi trên thềm nắng ngủ
Cơn đau cuối mùa dội lại
Người đi biền biệt thuở nào

Em về cuối ngày rất vội
Tóc mai vương ướt nhọc nhằn
Còi xe, đèn đường vàng úa
Gót mềm oằn gánh được- thua

... Bây chừ thênh thang nắng đợi
Chim non se sẽ chuyền cành
Mùa xanh mênh mang ký ức
Vụng về... khẽ gọi tên anh

Phương em bên này lộng gió
Me già trút lá ngủ quên
Trở trăn ngọn nguồn nỗi nhớ
Chờ chi giọt nắng không tên...

ĐT




READ MORE - GIỌT NẮNG KHÔNG TÊN - Thơ Đan Thụy

ĐỌC “TÔI NẰM XUỐNG”, THƠ XUÂN LY BĂNG - Bình thơ của Châu Thạch


     
Châu Thạch


          ĐỌC “TÔI NẰM XUỐNG”, THƠ XUÂN LY BĂNG            
Một trăm bài thơ nói về sự chết thì một trăm bài thơ bi quan, cho dầu có bài thơ nói đến sự phiêu diêu miền cưc lạc, hoà nhập với trăng sao nhưng lại xem thế gian là nơi đầy đau buồn mà mình vừa trút bỏ. Lần đầu tiên tôi đọc một bài thơ diễn tả cõi sống và cõi chết đều tràn lan niềm vui. Nhà thơ Xuân Ly Băng đã siêu thoát ngay tại thế gian nầy trong bài thơ “Tôi nằm Xuống”, một bài thơ nói về sự chết mà không có tiếng chuông báo tử, không có tiếng mõ Cầu siêu, không có tiếng khóc thút thít nhưng cả thế gian có anh sáng, có màu sắc, có âm thanh rộn ràng, tích cực và tươi thắm, khiến cho người nằm xuống như khởi hành một chuyến viễn du đầy hạnh phúc tại nơi đi và đầy nguồn vui tại nơi đến.
 Bài thơ có 13 khổ thơ, mỗi khổ đều có cụm từ “Tôi nằm xuống” ở mỗi câu đầu. Lần lượt 13 câu đầu của mỗi khổ thơ như sau:
     - Tôi nằm xuống, quả đất vẫn quay đều
- Tôi nằm xuống, hoa vẫn nở bốn mùa
- Tôi nằm xuống, vẫn tiếng hót chim trời
- Tôi nằm xuống màu, biển xanh cứ xanh
- Tôi nằm xuống Hòn bà vẫn hiên ngang
- Tôi nằm xuống, vẫn cuồn cuộn dòng sông
- Tôi nằm xuống, lịch sử cứ vận hành
- Tôi nằm xuống con trẻ cư sinh ra
- Tôi nằm xuông vẫn chảy dòng sông Dinh
- Tôi nằm xuống vẫn uốn khúc Li Li
- Tôi nằm xuống chuông vẫn vọng thánh đường
- Tôi nằm xuống có ai khóc thương tôi?
- Tôi nằm xuống cuộc đời vẫn cứ đi

Như thế nghĩa là khi tác giả nằm xuống, thiên nhiên và con người vẫn bình thản, cái đẹp mà thượng đế dựng lên vẫn không hề suy suyễn. Tiếp theo câu thơ có cụm từ “Tôi nằm xuống”, những câu thơ sau đó trong 13 khổ thơ đều bày tỏ sức sống tự nhiên, hài hoà, trường tồn trong vạn vật và trong sinh hoạt của con người. Cho dầu có khi “Tôi Nằm Xuống” thế gian có biến động tiêu cực đối với niềm vui, đối với nguồn hạnh phúc thì vẫn là sự bình thường:
         Tôi nằm xuống, lịch sử cứ vận hành.
         Hết hòa bình thời lại đến chiến tranh.
         Ngai tòa sụp đổ, ngai tòa dựng.
         Lãnh thổ theo thời đổi lằn ranh.

         Tôi nằm xuống con trẻ cứ sinh ra.
         Đẩy về đất lạnh lớp người già.
         Hỗn loạn tiếng cười chen tiếng khóc.
         Xe tang đụng độ với xe hoa.
 Trong cái nhìn bình thản vượt trên sự bình thường của một người đã chứng được lẽ cao siêu của “Đạo”, nhà thơ cho rằng mọi sự đều ở ngoài tôi. Bằng một câu thơ rất bình dị, nhà thơ đã  bày tỏ lẽ huyền vi ấy trong quan niệm đạo, đời bằng câu thơ: “Tôi có hay không, chẳng hệ gì” trong một vế thơ sau.

Nhiều nhà thơ, kể cả những nhà thơ tôn thờ Đức Chúa Trời đều cho thế gian nầy là đau khổ. Họ thường hướng về một thế giới trên cao mà quên đi thế giới hiện tại với những niềm vui mà Thượng Đế đã ban cho họ. Đọc “Tôi Nằm Xuống” của Xuân Ly Băng ta thấy thế giới tồn tại một cách tự nhiên, trung tính đối với cuộc đời con người. Thương đế tạo ra quả đất nầy để “quay đều” để “hoa nở” để “ chim hót” để “biển xanh” cho con người sống và kể cả  cho con người khi chết. Bài thơ không có lời tôn vinh Thượng Đế nhưng những hình ảnh tươi thắm của thế giới khi “tôi nằm xuống” rất tự nhiên như vô tình lan tràn vào hồn ta hương vị của một bản Thánh ca tôn vinh đấng Sáng Tạo.
 Ở khổ thơ đầu, tiếp theo cụm từ “Tôi nằm cuống”, tác giả nói về sự vận hành của thiên nhiên vẫn cứ thế khi “tôi nằm xuống”:

         Tôi nằm xuống quả đất vẫn quay đều.
         Mặt trời lên xuống, mỗi sáng chiều.
         Trăng tròn trăng khuyết, theo ngày tháng.
         Lãng đãng mây trời gió đìu hiu.

Tiếp những khổ thơ sau, nhà thơ nói nhiều đến sự tồn tại của đời sống thế gian và sự tồn tại của cuộc sống nơi địa phương mình đang ở. Tất cả điều mà nhà thơ mô tả hàm chứa một ý nghĩa của sự tươi thắm của thế gian đã có, hiện có và sẽ còn có sau khi tôi nằm  xuống. Sự “Tôi Nằm xuống” của con người trong thơ hoá ra bình thản biết bao, êm đềm biết bao và an nhiên biết bao trong khi thiên nhiên và con người vẫn vận hành êm ái như bàn tay yêu thương vổ về người đi, người ở. Bài thơ làm cho tâm linh con người trút cái gọi là “khổ đế” ngay khi đang sống,  nhìn thế gian đươi con mắt thiện cảm, để khi “tôi nằm xuống” thì lìa thế gian như rời một ngôi nhà thân yêu để đi đến một lâu đài hạnh phúc mà Thương Đế dành cho mình. Lâu đài đó nằm trong khổ thơ cuối của bài thơ:
          Tôi nằm xuống cuộc đời vẫn cứ đi.
          Tôi có hay không ? chẳng hệ gì.
          Cái có của tôi: là Đức Mến .
          Về cõi Vĩnh Hằng dẫn tôi đi.
Đức Mến là ai? Thiển nghĩ trên đời có nhiều tôn giáo, mỗi người thờ một Đức Mến của mình. Vậy có thể hiểu chung Đức Mến là Đấng Tối cao, đấng đưa ta đến hạnh phúc, cho ta sự bình an đến nỗi “Dầu ta đi trong trủng bóng chết, ta cũng chẳng sợ gì vì Đức Mến ở cùng ta”. Sung sướng cho ai nói như Xuân Ly Băng “Cái có của tôi:là Đức Mến”.

Đọc  “Tôi Nằm Xuống”, bài thơ nói về sự chết mà không chết. Toàn bộ bài thơ là sự sống, một sự sống không có chút bi quan nào. Mọi sự sinh hoạt trong cuộc đời được nhà thơ diễn tả tự nhiên và trường tồn y như trong bàn tay tể trị của đấng tối cao. Bài thơ đem đến cho ta lạc quan, cho ta ngắm cuộc đời bằng con mắt lìa tục, giải thoát ngay ở đời nầy và hướng về đời sau bằng sự tin yêu một cõi Vĩnh Hằng ./.
                                                                           Châu Thạch

        

            
TÔI NẰM XUỐNG


         Tôi nằm xuống quả đất vẫn quay đều.
         Mặt trời lên xuống, mỗi sáng chiều.
         Trăng tròn trăng khuyết, theo ngày tháng.
         Lãng đãng mây trời gió đìu hiu.

         Tôi nằm xuống, hoa vẫn nở bốn mùa.
         Ngát tỏa hương trời, theo gió đưa.
         Rực rỡ bướm tiên, phô màu sắc.
         Sau trời đổ nắng, trời lại mưa.

         Tôi nằm xuống, vẫn tiếng hót chim trời.
         Nhí nhảnh trên cành, mỗi sáng mai.
         Sương đọng cành khuya, như giàn ngọc.
         Tí tách trong vườn, từng giọt rơi.

         Tôi nằm xuống, màu biển xanh cứ xanh.
         Trăm muôn đợt sóng, vẫn tung hoành.
         Thủy triều lên xuống, là con nước.
         Dã tràng xe cát, vẫn đều nhanh.

         Tôi nằm xuống Hòn Bà vẫn hiên ngang.
         Đội trời đạp nước, giữa đại dương.
         Núi Cú trầm hùng nhìn âu yếm.
         Một vùng Bình Thuận một Hàm Tân.

         Tôi nằm xuống, vẫn cuồn cuộn dòng sông.
         Dẫn nước bao la, tưới ruộng đồng.
         Núi rừng còn đó, cây xanh biếc.
         Quang cảnh thiên nhiên đẹp lạ lùng.

         Tôi nằm xuống, lịch sử cứ vận hành.
         Hết hòa bình thời lại đến chiến tranh.
         Ngai tòa sụp đổ, ngai tòa dựng.
         Lãnh thổ theo thời đổi lằn ranh.

         Tôi nằm xuống con trẻ cứ sinh ra.
         Đẩy về đất lạnh lớp người già.
         Hỗn loạn tiếng cười chen tiếng khóc.
         Xe tang đụng độ với xe hoa.

         Tôi nằm xuống vẫn chảy dòng sông Dinh.
         Bãi bến nhấp nhô lắm thuyền mành.
         Phố thị La Gi thừa tấp nập.
         Màu sắc âm thanh đủ loại hình.

         Tôi nằm xuống vẫn uốn khúc Li Li.
         Nối vùng Tân thiện với La Gi.
         Gió mát bốn mùa lâng lâng thổi.
         Đàn cò bay đến lại bay đi.

         Tôi nằm xuống chuông vẫn vọng thánh đường.
         Mỗi ngày hai buổi sáng chiều buông.
         Chuông chùa Quảng Đức thỉnh đêm lạnh.
         Gọi về cõi đạo, khách bốn phương.

          Tôi nằm xuống có ai khóc thương tôi ?
          Không khóc thì thiếu, khóc thừa thôi !
          Thương xót làm chi, lộ trình ấy.
          Mọi người sớm muộn phải qua rồi !

          Tôi nằm xuống cuộc đời vẫn cứ đi.
          Tôi có hay không? Chẳng hệ gì.
          Cái có của tôi: là Đức Mến .
          Về cõi Vĩnh Hằng dẫn tôi đi.

                               Xuân Ly Băng

READ MORE - ĐỌC “TÔI NẰM XUỐNG”, THƠ XUÂN LY BĂNG - Bình thơ của Châu Thạch

Sunday, March 26, 2017

BỤI HỒNG TRẦN - Thơ Đào Duy Nguyên





BỤI HỒNG TRẦN

Em đã sống như chưa từng duyên nợ
Bụi hồng trần chẳng bận vướng gót chân
Chưa yêu ai dù đời nhiều cám dỗ
Những ân tình những mời mọc thiết than

Em đã cho đời bao lời khen tặng
Để nhận lại muôn vàn đóa hoa xinh
Lúc vui tươi đẹp màu hoa sắc thắm
Khi hương đời vẹn nghĩa ân tình

Hỏi em đã cho đời bao ý nghĩa
Đến nay nhận lại thấy được bao nhiêu
Hay đường trần vẫn còn nhiều nghiệt ngã
Chữ duyên còn vướng nợ biết bao điều

Hỏi em hương lòng liệu nay đã cạn
Mà hình như sắc nước cũng tàn phai
Mà con tim nghe buông lời mỏi mệt
Ngao ngán phận đời rũ bỏ ngày mai

Ta mong em dù còn hay đã mất
Mặc thời gian cứ mãi mãi qua đi
Bỏ qua trần gian chuyện buồn thế sự
Cứ sống như ta đang lúc xuân thì

                       Đào Duy Nguyên


READ MORE - BỤI HỒNG TRẦN - Thơ Đào Duy Nguyên

HUYỀN THOẠI HÒN BÀ – NÚI ÔNG - Thơ Đoàn Thuận



                              Hòn Bà (thị xã La Gi, Bình Thuận)


HUYỀN THOẠI HÒN BÀ – NÚI ÔNG
            (MIỀN THƠ BIẾC)

Dưới trăng xa lắm trong huyền thoại
Con bấc mênh mang, sóng bạc đầu
Đôi vần thơ biếc xanh trời đất
Như một lời nguyền để mai sau.

1.
Ngày xưa một chuyế bè sang biển
Núi tiễn đời Đảo nhỏ vào thơ
Mảnh Thiên Y choàng lên sóng biếc
Dòng sông Dinh hoa kết đôi bờ.


Đảo bé bỏng nơi miền biển nắng
Tưổi hồng thơm trăng nhỏ tròn đầy
Vần thơ biếc cho lời thứ nhất
Khi mùa về gió lạnh ngàn mây.


Những lá thắm thả theo dòng bích
Giữa rừng xanh và biển mộng mơ
Tin chưa đến, Đảo buồn dậy sóng
Dòng chưa trôi, Núi đã ngóng chờ.


Buổi xa cách lạnh sông nhạt nắng
Con gió nào làm rối tóc mây
Một chút muối mặn trên môi sóng
Giọt thu vàng xưa chợt vơi đầy



Thuở ban sơ, tự nhiên thơ mộng
Cũng thoáng buồn qua buổi đợi mong
Trong cách biệt có niềm chung thủy
Khi Đảo về giữa biển mênh mông.

2.
Từ dạo ấy, vẫn còn đâu đó
Một vầng trăng lặng lẽ thinh không.
Và năm tháng làm phai màu núi
Giữa ngàn non, Núi đã lên Ông.



Núi ghì chặt tình vào hồn đá
Những cánh rừng xanh thẳm lạnh băng
Dòng La Ngà tiếng đàn trầm lắng
Ru cõi bờ tím ngát bằng lăng.


Và như thế bao mùa rừng cũ
Tóc sương mềm trên vai lặng yên
Núi vẫn đứng ngóng trông về biển
Tinh đất trời đâu dễ nào quên



Đất La Gi biển rừng xanh biếc
Thoảng hương nguồn một thuở nên thơ
Núi và Đảo cùng phương trời nhớ
Tình nước non không thể phai mờ.


Chính tình yêu đưa xa gần lại
Cho núi sông thêm nghĩa yêu thương
Và hạnh phúc ở đâu cũng vậy
Rất đơn sơ trong cõi vô thường.


3.
Nằm trấn giử giữa muôn trùng sóng
Hòn Đảo xưa được gọi tên 

Vẫn thơ mộng một miền thơ biếc
Tình thủy chung đâu luận trẻ già.


Cũng từ đó nơi miền biển cũ
Dòng sông Dinh đưa nguồn về khơi
Động Tiên Sa lắng hồn lặng tĩnh
Của tình yêu rừng biển muôn đời.


Mây theo gió, mây về viễn xứ
Sóng ru bờ, bờ ngủ bao năm
Đàn chim biển ngang trùng dương biếc
Mang lời ru từ cõi xa xăm.


Trong lời gió có lời của biển
Của rừng xa và núi ngàn xưa
Đã thắm biếc đôi bờ dương liễu
Để ngàn sau nhịp võng đong đưa.


Ai rót mật cho lời mây nước
đêm ca dao có tự bao giờ
Mùa trăng sáng bắc cầu dải yếm
Chính tình yêu đã nén thành thơ.

4.
Huyền thoại nào chẳng từ sự thật
Cuộc tình nào chẳng có mưa ngâu
Cầu ô thước bắc qua dòng bích
Không tình yêu đâu có mai sau.

Đêm cổ tich không còn cổ tích
Khối tình Bà thành đảo Thiên Y
Nỗi nhớ Ông đã cao thành núi
Con sông Dinh dòng nối nguồn về.



Nơi hoa mộng chân trời xanh thẳm
Hương trăng xưa thơm thoảng ngàn năm
Lời thơ cũ ghi vào đá núi
Đời bên nhau từ lúc chưa rằm.


Đêm sao sáng thay vầng trăng khuyết
Ước mong thầm đời mãi dài lâu
Nếu đã có tình cao như núi
Cũng có tình  sóng vỗ bạc đầu.


                       ĐOÀN THUẬN
READ MORE - HUYỀN THOẠI HÒN BÀ – NÚI ÔNG - Thơ Đoàn Thuận

TÍM NHẶT TÍM RƠI - Thơ Hiệp Kim Áo Tím





TÍM NHẶT TÍM RƠI 

Chiều ni thấy giận ông trời 
Mưa chi cho phượng tím rơi ơi buồn
Thích trên cành hổng chịu buông 
Mà cơn gió ác chịu luồn đám mây

Để cho rung cả cành cây 
Phượng rơi lả tả cánh ngây thơ nhìn 
Một sân tím ủ rũ tình
Áo tím đi nhặt hoa xinh giữa đời

Xin đừng rụng nữa tím ơi
Ở trên cây ấy ngắm trời tự do
Chẳng còn phiền muộn âu lo 
Ngọt ngào đâu để chỉ cho riêng mình

Đừng vội tàn đón bình minh 
Sum xuê cành lá mới tinh nhoẻn cười
Thương cho một kiếp hoa rơi
Bàn chân dẫm nát chẳng lời thở than

Tím đi trên phố thênh thang
Góp nhặt hạt nắng để mang tặng người
Nơi này xin gửi nụ cười
Về nơi xa lắc- người ơi nhận giùm

                      Hiệp Kim Áo Tím 
                             27/3/2017

READ MORE - TÍM NHẶT TÍM RƠI - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

ÂM THANH ĐÊM - Trần Mai Ngân





ÂM THANH ĐÊM

Đêm loanh quanh, chòng chành
Những âm thanh rạc rời, cô độc
Có những bước chân sớm, muộn nhọc nhằn 
Tiếng côn trùng chia chác dối gian
Có thinh lặng cùng hoang mang đợi sáng
Có nồng nàn trong gối chăn hạnh phúc 
Có lạnh lùng ở phía không tim
Đêm trăn trở lặng im...

                     Trần Mai Ngân

READ MORE - ÂM THANH ĐÊM - Trần Mai Ngân

NHÂN ĐỌC BÀI “ĐỌC THƠ HỒNG THANH QUANG” CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN KHÔI Nguyễn Ngọc Kiên



                         Nguyễn Ngọc Kiên




NHÂN ĐỌC BÀI “ĐỌC THƠ HỒNG THANH QUANG”
                CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN KHÔI

      Khi đọc bài của Nguyễn Khôi “Đọc thơ Hồng Thanh Quang” viết về chuyện Hồng Thanh Quang in cái gọi là thơ trên tờ TINH HOA (phụ san báo Đại Đoàn Kết của MTTQ Việt Nam), chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Nguyễn Khôi, nhưng xin nhà thơ nên cảm thông với Hồng Thanh Quang vì theo chúng tôi biết, người đầu tiên “phát minh” ra việc làm này là ông Hữu Ước – người trước kia vừa là thủ trưởng vừa là thầy thơ của ông Hồng Thanh Quang. Bốn câu thơ nhà mà Nguyễn Khôi muốn chia sẻ với Hồng Thanh Quang, nguyên văn như sau:
Sợ không có độc giả
         Báo mình in Thơ mình ?
        -Đồng Văn...tim hóa đá
         tự đá vào Trời xanh...
Chúng tôi xin mạo muội sửa lại câu đầu thành:
        Sẽ không có độc giả
        Báo mình in Thơ mình ?
       -Đồng Văn...tim hóa đá
        tự đá vào Trời xanh...
 Bốn bài gọi là thơ in trên tờ TINH HOA đã biến tờ báo này thành báo lá cải! Chúng  không thể gọi là thơ được bởi cả tất cả đều vô hồn, đều là làm xiếc chữ của một nhà ảo thuật có nghề. Bài “Từ chối Khau Vai” chứng tỏ ông không hiểu gì về bản chất của phiên chợ này. Chợ Khau Vai  là một nét đẹp văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Ở đây người đọc thấy Khau Vai chỉ là nơi mọi người đến để …ngoại tình!
       Chẳng tới Khau Vai đâu
       Tình yêu e thẹn lắm
       Ta cùng vào rừng sâu 
       Suối thơm cùng nhau tắm.
Theo chúng tôi, đọc xong bốn câu mở đầu trên chỉ nên đưa nhau vào … nhà nghỉ. Khổ 2, thể hiện tình yêu của một kẻ từng trải, lão luyện:
      Ta sẽ giấu nụ hôn
      Vào từng viên sỏi trắng
      Em rạng rỡ nhìn anh
      Qua bảy màu của nắng. 
Khổ 4 cho thấy Hồng Thanh Quang từng trải qua rất nhiều cuộc tình “từng bắt mình quắt quay”  và nó đã cho ông những kinh nghiệm để không sợ hậu quả những cuộc tình sau:
      Tạ ơn những người trước
      Từng bắt mình quắt quay
      Giọt  rượu thời quá vãng
      Giúp mình không hãi say.
Bài “Đêm Đồng Văn” phảng phất Đường thi:
     Tôi ngồi như đá rồi tôi đá
Không có gì mới lạ! Hình ảnh giống như trong bài “Đợi” của Hoàng Trần Cương:
      Mặt tôi buồn như đá
      Ai vần ra ngoài đồng
Đọc kĩ, nó lại có nét giống “Tạm biệt Huế” đã rất nổi tiếng của Thu Bồn:
       tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng 
       anh trở về hoá đá phía bên kia.
Hay trò làm xiếc chữ kiểu như trẻ con vẫn đố nhau: “Con ngựa đá đá con ngựa đá”. Ở đây, “tôi ngồi hóa đá rồi tôi đá” thì sao mà (đá) “nỗi buồn lên bám mảnh trăng trôi” được? Qua đây có thể thấy sự bế tắc về việc tìm tòi hình ảnh và câu chữ của Hồng Thanh Quang.
Trong bài “Đồng Văn” có những câu:
       Gặp em muốn gọi là con
       Để vòng tay siết chỉ còn nâng niu
       Chắc là muộn quá tình yêu
       Thôi đành nắng quái chẳng thiêu đốt tình.
Nâng niu gì khi gọi người yêu là con. Đúng là đầu óc của một kẻ ấu dâm! Đọc đến đây, người viết bỗng nhớ đến bài Hát Karaoke của lão thi sĩ xứ Thanh, ông vua lục bát Lê Đình Cánh:
       Ấy đừng gọi bố xưng con
       Đôi hàm răng giả vẫn còn hát hay!
Còn ở đây:
       Muốn hôn vẹt đá tai mèo
       Tuổi thơ vất vả đói nghèo vắng anh.
Câu thơ hết sức ngớ ngẩn! Thảo nào trẻ con bây giờ phát dục quá sớm!
Bài thơ “Phố núi”:
       Phố núi qua cầu em sớm mai
       Có nghe thung vắng thở hơi dài
       Em đi bước bước lưng chừng gió
       Để đúng tôi thành như vẫn sai.
Bài này cũng có hơi hướng của  Đường thi. Nhưng ông lại biến nó thành đường… hóa học mất rồi! Câu cuối “Để đúng tôi thành như vẫn sai” thật tối nghĩa, đánh đố người đọc. Phải chăng thơ phải bí hiểm, không ai hiểu gì mới là … thơ Hồng Thanh Quang!
Tóm lại: 
- Hồng Thanh Quang đang tập làm thơ Đường. Chúng tôi rất lo ngại về vốn Hán Nôm của ông, nên ông đã biến Đường thi thành … đường hóa học.
- Theo thiển ý, ông nên gửi những bài in trong TINH HOA cho HỘI NGƯỜI CAO TUỔI !

                                             Làng Mọc Nhân Chính, 26/3/2017
                                                        Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - NHÂN ĐỌC BÀI “ĐỌC THƠ HỒNG THANH QUANG” CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN KHÔI Nguyễn Ngọc Kiên

CHÊ - Tuỳ bút của Lão Gàn


              
                       Tác giả Lão Gàn Hoàng Đằng



                  CHÊ
                                      Tuỳ bút của Lão Gàn
Chê là sự đánh giá tiêu cực về một người, một vật, một việc nào đó. Chê thể hiện bằng nói xấu, chống đối; nói xấu, chống đối những gì mà mình không thích, hoặc cho là sai trái. Dựa vào đâu để chê? Mỗi xã hội, mỗi nền văn hoá, mỗi thời đại đều có mặc định thế nào là sai trái để dựa vào mà đánh giá tiêu cực – chê – một sự vật. Sự mặc định ấy thủ đắc được nhờ thẩm mỹ học, đạo đức học, tôn giáo học ...
Tuy nhiên, chê vẫn thường xuất phát do cảm tính từng người mà người thì không ai giống ai từ mặt mũi, dáng dấp, bản tính, môi trường sống, trình độ văn hoá ..., vậy nên nhiều khi trước một sự vật, người này chê nhưng người khác thì không, thời trước chê nhưng thời này không, Tây phương chê nhưng Đông phương không.
Chê còn xuất phát từ thái độ thiếu thiện cảm; không thích người nào, việc gì, vật gì thì chỉ nghe nói đến chê ngay. Sự thiếu thiện cảm bắt nguồn từ sự tranh giành quyền lợi – tranh giành giữa cá nhân này với cá nhân khác, giữa phe nhóm này và phe nhóm khác; sự thiếu thiện cảm còn bắt nguồn từ mặc cảm tự tôn hay tự ti giữa người và người không cùng một tầng lớp xã hội; người ở tầng lớp xã hội cao khinh bỉ người ở tầng lớp xã hội thấp; người ở tầng lớp xã hội thấp ganh ghét người ở tầng lớp xã hội cao; người và người thiếu tình thương yêu nhau, từ đó “đấu tranh giai cấp” diễn ra.
Chê còn bắt nguồn từ thái độ ngã mạn và ái kỷ, nghĩ rằng mình luôn trội hơn người về tài năng, về kỹ năng, về hiểu biết; ngã mạn và ái kỷ là những thành tố của bản tính con người. Vì vậy, thấy ai làm cái gì dù tốt, người ta vẫn chê là chưa tốt, vì nếu cho là tốt thì sợ rằng người ấy đã bằng mình, hoặc hơn mình. Trong tu hành, ngã mạn và ái kỷ là xấu, cần phải diệt trừ; nếu không bị diệt, ngã mạn và ái kỷ sẽ chận đứng tính dung chấp khiến người sống với người thiếu sự hoà ái.

Tuân Tử, một lý thuyết gia của Nho Giáo, (313 -235 tr CN) chủ trương: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta.” Nói vậy thôi, chứ theo tâm lý thông thường, dù bị chê đúng, cũng không ai muốn mình bị chê, người bị chê luôn cảm thấy tự ái bị xúc phạm.
Bởi thế, từ “chê” được thay bằng từ “góp ý”; thay vì nói:”Anh làm vậy xấu quá, dở quá”, người ta nói nhẹ hơn: “Anh làm vậy không tốt lắm, không hay lắm, phải làm khác cơ!”.
Trong ngôn ngữ chính trị bây giờ, từ “chê” được thay thế bằng từ “phê bình”; thật ra, phê bình, hiểu đúng nghĩa, là xem xét trong sự vật có gì tốt, có gì xấu, có gì phải, có gì trái rồi nói ra, viết ra. Tuy nhiên, từ “phê bình” không còn phần nghĩa tích cực mà chỉ còn phần nghĩa tiêu cực; phê bình tức là chê. Do ngôn từ bị cưỡng nghĩa, hành vi “phê bình” hầu như mất đi tính xây dựng, chỉ còn mang dáng dấp hù doạ, gây thù chuốc oán; thế nên, việc phê bình thường đưa đến tình trạng “ăn miếng trả miếng” - mình phê bình người ta thì người ta sẽ phê bình lại mình. Trong cuộc sống, ai cũng có khiếm khuyết; do đó, tốt nhất là giữ im lặng, theo chủ nghĩa “mặc kệ”. Những chính trị gia đưa ra việc phê bình nhằm mục đích giúp nhau tiến bộ; bây giờ không dám phê bình, tức là đánh mất động lực tiến bộ, và chấp nhận trì trệ.

Chê có thể biểu hiện dưới hình thái nặng nề hơn; một người thiểu năng trí tuệ, trong học hành, sự tiếp thu chậm; một thầy giáo đánh giá: “Em hiểu bài không được tốt lắmGắng lên nghen!”, ấy là góp ý, nếu đánh giá: “Em học kém quá!”, ấy làchê; còn nếu đánh giá: “Em ngu chi mà ngu dữ rứa!”, ấy làmạt sát. Góp ý mang tính xây dựng nghĩa là người góp ý muốn người được góp ý cố gắng khắc phục điểm yếu của mình; chê là nhận xét chung chung thực trạng yếu kém của đối tượng, không mang tính khuyến khích; còn mạt sát là dìm đối tượng xuống, đẩy đối tượng vào tình trạng vô vọng.
Vì vậy, chê và mạt sát là không nên. Chê và mạt sát làm cho đối tượng mất tin tưởng, nhụt chí. Ở đời, ít người nổi trội mọi mặt hay trì trệ mọi mặt; thông thường, người giỏi mặt này thì kém mặt khác và ngược lại, những người giữ vai trò phán xét nên xiển dương (khen) mặt mạnh, mặt tốt và góp ý xây dựng mặt yếu, mặt kém. Sống không phải để đạp đổ mà để vực dậy.
Con người sống là sống cùng, sống bên và sống với, không thể tránh khỏi “búa rìu của dư luận”. Khi bị dư luận nói này nói nọ, con người phải lắng nghe, nhưng đừng để bị động. Người ngoài chê mình thì mình cần bình tĩnh, giữ bản lĩnh vững vàng, dùng lương tri thiên phú và trí thông minh thủ đắc từ học vấn và trải nghiệm để nhận ra điều chê nào là đúng, điều chê nào là sai. Dựa theo điều chê đúng để sửa mình, và phớt lờ điều chê sai, sao cho người chê không đúng thấy tác dụng lời chê của họ là con số không.
Một giai thoại kể rằng hai cha con mua một con ngựa từ xa đem về nhà. Trên đường đi, hai cha con đi bộ dắt ngựa; người đi qua, thấy vậy, chê: “Hai cha con này dại dữ rứa! Sao không cùng cỡi lên ngựa cho đỡ mỏi chân!” Thấy ý kiến phải, hai cha con cùng trèo lên ngồi trên lưng ngựa, một người đi đường khác chê: “Hai cha con to lớn thế, con ngựa gầy thế, sao cả hai cùng ngồi lên lưng nó để nó chịu nặng nhọc, tội nghiệp thế!” Nghe ý kiến này cũng phải, người con trụt xuống, trên lưng ngựa chỉ còn người cha; người đi đường thứ ba chê: “Sao ông cha này đành lòng ngồi trên lưng ngựa mà để con mình đi bộ đường dài, nhọc thế! Đúng là “phụ bất từ” (làm cha mà không biết điều)!”. Nghe ý kiến này vẫn phải, người cha xuống ngựa để người con lên, người đi đường thứ tư chê: “Người con này sao đành lòng ngồi trên ngựa mà để người cha đi bộ, đúng là làm con mà không biết hiếu - tử bất hiếu”. Ôi cái “lưỡi thiên hạ không xương nhiều đường lắt léo”.
Vậy thì phải tỉnh táo trước lời chê. Bị động bởi lời chê, người chê có đà xông tới, người bị chê thế nào cũng sa lầy vào rối loạn; Văn Trung Tử viết: “Nghe lời chê bai mà giận là làm ngòi cho người gièm pha.

                                             Hoàng Đằng
                                       20/3/2017 (23/Hai/Đinh Dậu)


READ MORE - CHÊ - Tuỳ bút của Lão Gàn

HOÀI CỔ LONG - Thơ La Thụy


 Trịnh Giai Hân đóng Lâm Tiên Tử Trịnh Giai Hân đóng Lâm Thiên Nhi  người được mệnh danh đệ nhất mỹ nhân. Trước mặt người ngoài, Lâm Thiên Nhi rộng lượng dịu dàng nhưng thực ra là kẻ độc ác, dâm đãng. Sở trường của ả là dụ dỗ, lừa gạt đàn ông.  Lâm Thiên Nhi hận Lý Tầm Hoan, luôn giở thủ đoạn hãm hại.
                             Cảnh trong phim Tiểu Lý Phi Đao

HOÀI CỔ LONG*

Trong bóng thâm u núi đồi hoang dã               
Bước chân yêu run rẫy mỗi đêm về               
Ta lạc bước giữa hoa ngàn cỏ lạ               
Gió muôn trùng âm vọng phủ lời mê               

Lá tương tư vẫy vầng trăng khuyết sử               
Rêu xanh rì mềm ướt, đẫm sương giăng                  
Tay vuốt nhẹ lòng đàn reo tở mở               
Muôn tơ huyền rung động khúc hòa âm               

Em kiều mị bất ngờ ta choáng váng               
Phút giây nào thảng thốt đến mê si               
Từng ép xác dưng không chừ thoáng đãng               
Lòng Tiểu Phi* đồng vọng viễn khúc gì?               

Ừ, Mai Hoa Đạo* mỹ nhân kỳ ảo               
Kiếm ngây tình, lãng tử muốn Tầm Hoan*               
Lâm Tiên Nhi* từng đêm về cởi áo               
Dợn sóng tình mê mải cõi hồng hoang              

Vô tình kiếm, bên hông đa tình khách              
Có bừng lên sát khí chấn đêm trường              
Chừ phóng kiếm ném tung vào tuyệt cốc              
Dạo sông hồ khinh khoái gót Lưu Hương* ...

                                                 La Thụy

Cổ Long (1937- 1985)  là nhà văn Đài Loan viết tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng. Ông cũng là nhà biên kịch, nhà sản xuất và đạo diễn. Các tác phẩm của ông đã được chuyển thể nhiều lần trên phim truyền hình cũng như điện ảnh.

* Lý Tầm Hoan, Tiểu Phi, Mai Hoa Đạo, Lâm Tiên Nhi, Sở Lưu Hương ... : Tên nhân vật trong tiểu thuyết võ hiệp của Cổ Long

READ MORE - HOÀI CỔ LONG - Thơ La Thụy