Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, January 16, 2021

CHÙM THƠ “CƠN MƠ, CƠN MỘNG, CƠN SAY...” CỦA LÊ VĂN TRUNG


 


CƠN MƠ GIỮA MÙA ĐÔNG
 
Em trở về hiu hắt giữa cơn mơ
Theo chiều gió mùa đông ướt dầm câu thơ cũ
Tôi vẽ tiếp nỗi buồn lên dòng mưa
đang u trầm chảy qua khung trời mây úa
Chảy từ phương em mòn mỏi những mong chờ
Chảy từ phương tôi giấc mộng ủ tình xưa
Chảy thao thiết qua hồn chiều quạnh quẽ
 
Em trở về? Không! Chỉ là trăm dòng lệ
Tận phương buồn chảy tận bến hoàng hôn
Em trở về? Không! Chỉ là những sợi buồn
Như sợi máu chảy buồn trong da thịt
Như nước mắt của từng lời em hát
Năm mươi năm vàng úa dấu rêu tình
Năm mươi năm trôi mãi giữa bập bềnh
Câu thơ vấp trăm thác ghềnh giông bão
Em trở về? Không! Chỉ là cơn mộng ảo
Theo dòng mưa buồn suốt một mùa đông
Thơ ướt trong mưa, thơ chảy trăm dòng
 
Ai đứng giữa mùa đông cầm câu thơ bật khóc!
                                   
 
CƠN MỘNG DU TÌNH YÊU
 
Em
Người đàn bà thức dậy sáng nay
Sau một đêm trăn trở trong cơn mộng du tình yêu
Chợt thấy lòng mình đã khác
Người thi sỹ hôm qua
Và tình nhân hôm nay
Là hai thế giới
Mộng và thực
Mộng thì đẹp vô cùng
Nhưng cõi thực là cõi gần gũi hơn
Tình yêu trong cõi mộng.
Chỉ là những vòng hoa trang trí
Trong bữa tiệc tình yêu
Và sọt rác cuộc đời
Nơi lưu giữ những sắc màu trang trí của thế gian
Người đàn bà
Qua một đêm trăn trở trong cơn mộng du tình yêu
Chợt thấy mình
Đã âm thầm bỏ lại
Một vòng hoa
Ngày hôm qua
Nàng ngỡ như là tình yêu
Nhưng chỉ là cơn mộng.
        
 
CƠN MỘNG THẾ GIAN
 
Giữa cõi ta bà tôi bỗng gặp
Một tôi ngồi dưới bóng cây già
Mà ngỡ đất trời đang thiền định
Giữa vùng quỹ dữ với yêu ma
 
Mây trắng bên trời vẫn trắng bay
Lá úa ngàn năm vẫn rụng đầy
Gió vẫn ru đau niềm thiên cổ
(Em có về ru lòng tôi say ?)
 
Giữa cõi ta bà tôi bỗng gặp
Một tôi buồn quá ngồi hát ngao
Tôi ngỡ đất trời đang trẫy hội
Vui hội trần gian mà lệ trào
 
Em có về ngang MIỀN HIU QUẠNH
Thấy tôi ngồi dưới CỘI ĐIÊU TÀN
Tim tôi gõ nhịp HÒA VI DIỆU
Mà vỗ về CƠN MỘNG THẾ GIAN
 
Giữa cõi ta bà tôi bỗng gặp
Một tôi mệt mỏi giấc mê cuồng
Tôi ngỡ đất trời đang chếnh choáng
Rượu đời ai rót cháy tim gan
 
Thôi em đừng đến, em đừng đi
Em đừng ở lại, đừng quay về
Hãy tan vào tận MIỀN QUÊN LÃNG
Hãy chảy vào trăm DÒNG PHÂN LY.
 
                              
CƠN SAY DÀI VÔ TẬN
 
Năm mươi năm trước ta ngồi uống
Năm mươi năm sau lòng còn say
Chén rượu giang hồ bên quán chợ
Ta rót đời ta đã cạn ngày
 
Ta rót đời ta chảy thành sông
Ta rót vào ly đời đục trong
Em không về, mình ta ngồi uống
Em không về, ai phân ưu nỗi buồn
 
Em hương sắc
Một đời ta lận đận
Một đời ta bờ lở bến bồi
Em hương sắc
Mà ta hoài tay trắng
Giọt rượu buồn như lệ vỡ trên môi
 
Năm mươi năm trước ta ngồi uống
Mà say hoài, say suốt cuộc trăm năm
Ta rót cạn ly rượu đời vô vọng
Rượu cháy nồng mà lòng ta lạnh căm
 
Em hương sắc
Ta rót tình quên lãng
Năm mươi năm men rượu vẫn cay nồng
Ta rót mãi vào đất trời vô hạn
Ngọn lửa tình như một vệt sao băng.
 
                                   Lê Văn Trung

READ MORE - CHÙM THƠ “CƠN MƠ, CƠN MỘNG, CƠN SAY...” CỦA LÊ VĂN TRUNG

PHẢI DUYÊN CHỒNG VỢ - Thơ Huỳnh Tâm Hoài, nhạc Phan Ni Tấn, tiếng hát: Duy Khang.


                         Nhà thơ Huỳnh Tâm Hoài



PHẢI DUYÊN CHỒNG VỢ
 
Chắc duyên, chắc nợ mình ơi!
Xuôi mình lặn lội thăm tôi để rồi.
Hai đứa xếp lại một đôi,
Thiên duyên tiền định mình ngồi bên nhau.
Mình về tôi ở ruột bào,
Thương mình thương quá, chừng nào mới phai!
Tôi đây ở phía non Đoài,
Mình xa biển Bắc dặm dài lê thê.
Bao giờ chim nhạn bay về?
Cho cành khô héo vỗ về chân chim.
Chim kêu mấy tiếng kêu chiều,
Cành vui lắc lẻo cho mềm lòng chao.
Dây trầu quấn quýt thân cau,
Phải duyên chồng vợ bên nhau suốt đời.
 
                                   Huỳnh Tâm Hoài


  

Thơ: Huỳnh Tâm Hoài.
Nhạc: Phan Ni Tấn.
Tiếng hát: Duy Khang.
Hòa âm: Lê Hùng.

READ MORE - PHẢI DUYÊN CHỒNG VỢ - Thơ Huỳnh Tâm Hoài, nhạc Phan Ni Tấn, tiếng hát: Duy Khang.

NGƯỢC DÒNG | CHỜ | KIẾP TRAI | HOA ĐÊM - Chùm thơ độc vận của Đặng Xuân Xuyến

 

NGƯỢC DÒNG

 

Hôm nọ có người ghé bến sông

Nói chuyện nhà bên đã gả chồng

Từ độ ngược dòng đi xây mộng

Chả thấy một lần ghé bến sông.

 

Tôi biết người ta chẳng ngóng trôn

Chỉ mình tôi với mộng hư không

Chiều qua lạc bước về Kim Động

Tôi lại trắng đêm hứng gió đồng.

 

Tôi biết người ta đã gả chồng

Giờ là mệnh phụ giữa phố đông

Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng

Say mãi đò ngang khách má hồng.

 

Đã  mấy đông rồi, đã mấy đông

Bếp lửa nàng nhen có đượm hồng

Mỗi bận nàng ra cài then cổng

Có lạnh so người trước gió đông?

 

Nàng có còn quen nép cạnh chồng

Hững hờ dạo gót giữa phố đông

Lá vàng lả tả khi chiều xuống

Có thấm cô đơn bởi gió cuồng?

 

Tôi biết người ta chẳng đoái trông

Chỉ mình tôi với mộng hư không

Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng

Lỡ cả chuyến đò khách sang sông.

 

Hà Nội, Ngày 29.11.2014

 

 

CHỜ...

 

“Tôi nghe” “Chuyện của gã khờ”

“Nhủ lòng” đời chẳng như “Mơ”

Thôi kệ “Chàng lùn nể vợ”

“Ngược dòng” về cõi “Ngu ngơ”.

 

“Đêm” nay “Người ơi... người ở”

“Thức” chờ “Tiệc rượu trong mơ”

“Tiếng khèn” nối dài nỗi “Nhớ”

“Người thơ” “Khờ” đến bao giờ?

 

Hà Nội, chiều 17 tháng 07.2018

 

-------

 (“...”): tên các bài thơ, truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến

 

 

KIẾP TRAI

(Tặng Trần Anh Quân)

 

Tưởng em là cô gái

Sao lại là chàng trai?

Ngỡ em là chàng trai

Sao lại là cô gái?

 

Cuộc đời nhiều ngang trái

Lặng thầm qua đời trai

Ôm kiếp đời tự ải

Thổn thức tình bi ai

 

Bao dè bỉu mỉa mai

Bao ánh nhìn thương hại

Em vẫn cứ trượt dài

Những ngu ngơ luyến ái

 

Cuộc đời nhiều oan trái

Lặng thầm qua đời trai

Câu thơ buồn tê tái

Nhức nhói suốt đêm dài...

 

Hà Nội, ngày 26 tháng 12-2012

 



 

HOA ĐÊM

 

Áo trễ vai trần rảo bước nhanh

Nhũ hồng e ấp áo mỏng manh

Gió khuya cong cớn từng cơn lạnh

Nhợt nhạt môi hường lúc tàn canh.

 

Giáp Bát, đêm 04 tháng 10.2018

 

 

XIN XĂM

(Với L.L)

 

Đầu xuân đi xin xăm

Coi cơ sự cả năm

Bốc que xăm tuyệt lắm

Duyên đẹp tựa đêm rằm.

 

Bấm Tiểu Vận của năm

Mưa sẽ trôi bụi bặm

Lộc năm GÀ đằm thắm

Ấm nồng trọn cả năm

 

Ngài phán tích Đức chăm

Chả cần đến nửa năm

Hương thơm lan trăm dặm

Phong lưu sẽ chắc đằm.

 

Giờ cũng sắp hết năm

Hương thơm vẫn xa xăm

Phong lưu còn xa lắm

Tích Đức mình còn chăm.!

 

Hà Nội, 11 tháng 11 năm 2017

Đặng Xuân Xuyến


READ MORE - NGƯỢC DÒNG | CHỜ | KIẾP TRAI | HOA ĐÊM - Chùm thơ độc vận của Đặng Xuân Xuyến

BAO LA | MƯỢN HỒN - Thơ Chu Vương Miện

 

Nhà thơ Chu Vương Miện


BAO LA

thơ chuvươngmiện


ngươì bệnh năm 1 chỗ

trên đầu là chai nước

ngang hông là ấm trà

vợ đi làm mờ sáng

con trai đi học xa

mắt lim dim thiếu ngủ

quay ngang ngửa vật vờ

tuổi già thêm mệt mỏi

bằng hữu cũng giả lơ

như rong bèo vớ vẩn

trôi trôi chả bến bờ

đứng lên rồi ngồi xuống

cũng chỉ mỗi mình ta

nhớ mẹ già em dại

lếch thếch 1 phương nhà

bao chuyến tàu chuyển bánh

để lại mấy sân ga

ta lữ hành tơí trễ

chờ lâu lại trở về

nhìn qua khung cửa sổ

mây hồng vội vã qua

cầm ly nước ngại uống

trùng dương nào bao xa




MƯỢN HỒN


con tôm mượn vỏ ốc

lang thang ngoài bãi ghành

gặp quá nhiều đồng loại

quay mặt rồi quay lưng

chỉ giống nhau cái vỏ

cái ruột khác trăm phần

ruột ốc và vỏ ốc

com tôm chỉ mượn hồn

loài tôm nhện sinh ra

tự nhiên không có vỏ

chỉ bơi và chỉ ngoi

quanh năm cầu sóng vỗ

chiu vào vỏ ốc hoang

bò chơi biển cát vàng

tự do và thoải mái

có thân chẳng có hồn

dưới nước mặn là tôm

trên bãi khô là ốc

lỡ cỡ tôm và ốc

lang thang trên mặt duyềnh



chuvươngmiện

READ MORE - BAO LA | MƯỢN HỒN - Thơ Chu Vương Miện

THÁNG CHẠP | NGỦ ĐÔNG... | CHIỀU - Thơ Trần Mai Ngân

 


THÁNG CHẠP

 

Tháng Chạp đốt lửa trên sân

Có vài sợi khói tần ngần chẳng bay

Vương vào đôi mắt mi cay

Khói thương tro hiểu những ngày mất nhau...

 

NGỦ ĐÔNG...

 

Giống như tôi đã ngủ đông...

Không lời, không tứ... lòng không nghĩ gì

Dường như chẳng muốn làm chi

Chỉ ngồi lẳng lặng... đôi khi... thở dài!

 

 

CHIỀU

 

         Chiều quyện hồn ta như cơn say

         Chiều xoá suy tư cuộc tình này

         Chiều mang đi hết ngày xưa ấy

         Chiều bỏ một mình ta ở đây

         Chiều thả trôi xa lời đắng cay

         Chiều rơi giọt sầu trên mi ai

         Chiều run rưng rưng là giọt lệ

         Chiều khóc một thời ta đắm say!

 

                          Trần Mai Ngân

READ MORE - THÁNG CHẠP | NGỦ ĐÔNG... | CHIỀU - Thơ Trần Mai Ngân

Thursday, January 14, 2021

NGƯỜI CON GÁI HUẾ - thơ Võ Thị Như Mai - nhạc Trần Thái Quang - CS Châu Thuỳ Dương (Bút tích bạn bè)

READ MORE - NGƯỜI CON GÁI HUẾ - thơ Võ Thị Như Mai - nhạc Trần Thái Quang - CS Châu Thuỳ Dương (Bút tích bạn bè)

NĂM SỬU NÓI CHUYỆN TRÂU - Nguyễn Đại Duẫn




Thành ngữ “con trâu là đầu cơ nghiệp” nói lên vị trí, vai trò quan trọng của trâu đã có từ lâu trong đời sống con người Việt với nền nông nghiệp lúa nước. Con trâu là con vật có vai trò quan trọng đến mức trước cả việc lập gia đình, làm nhà. Vậy nên trong tục ngữ ca dao Việt Nam có câu: “Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà” là thế.
 
Trong văn hóa phương Đông, trâu là một trong 12 con giáp được gọi là (Sửu), đứng ở vị trí thứ 2, đồng thời là con vật đứng đầu lục súc (gồm trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn). Về tính âm dương, 12 con vật được xếp thành hai cực âm và dương đan xen nhau, trong đó con trâu (Sửu) thuộc âm.
 
Từ khi được thuần hóa, trâu là một trong những con vật rất gần gũi với con người. Hình ảnh con trâu siêng năng, cần cù gắn liền với lũy tre làng thể hiện một nét văn hóa của người Việt. Trâu là một loài động vật thuộc họ Trâu bò, được nuôi để cày ruộng, kéo xe, lấy thịt và sữa. Ngoài ra da trâu còn được sử dụng để làm trống và sừng trâu dùng làm tù và…
 
Con trâu cũng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của con người trên nhiều phương diện văn học, hội họa, ca dao, tục ngữ, phong tục… Trong tín ngưỡng nông nghiệp, hình ảnh con trâu còn thể hiện trên nhiều lĩnh vực như tục thờ trâu trong các lễ hội truyền thống. Một số vùng nông thôn Việt Nam có tục lệ là làm lễ Tết Trâu. Con trâu này sẽ đem giết để cúng thần linh, cầu cho mưa thuận gió hòa… Người ta quan niệm trâu là thánh vật nên thường dùng làm vật tế lễ, là biểu tượng cho cầu nối giữa trời và đất; giữa người và tiên để cho thần tiên ban mùa màng bội thu, nhân gian an lành. Một số nhà chiêm tinh cho rằng, trâu được coi là tượng trưng cho sự tốt lành, ai mơ trâu vàng đến nhà là điềm phú quý; cưỡi trâu vào thành là có hỉ sự; trâu sinh nghé là tâm thành ý nguyện. Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng) cũng phần nào nói lên được ý nguyện mong muốn chiến thắng trong đời sống con người. Hình ảnh con Trâu gồng lưng kéo cày trên ruộng đồng trồng lúa, hay con trâu đang nhẫn nại gặm cỏ trên bờ đê, hoặc đầm mình trong vũng ao hồ nước là hình ảnh quen thuộc, gợi lên hình ảnh bản chất hiền lành, cần cù của con người Việt, biểu tượng cho sức khỏe lực điền.
 
Con trâu cũng góp phần xây dựng căn bản cho nền văn minh nông nghiệp lúa nước, đó cũng là hình ảnh ăn sâu vào đời sống trong dân gian Việt. Theo các sử sách chép lại cho hay, tượng Trâu bằng đất nung được tìm thấy trong di chỉ Đồng Đậu [1] cách đây hơn ba ngàn năm. Trên mặt trống đồng Bắc Lý (Hiệp Hòa, Bắc Giang) còn chạm khắc hình ảnh hội đâm trâu của người Việt cổ cũng đã nói lên con trâu gắn bó với người nông dân từ bao đời nay. Truyền thuyết thần thoại ở Việt Nam có sự tích hồ Trâu Vàng (hồ Kim Ngưu) – hồ Tây (Hà Nội).
 
Thời nhà Lý – nhà Trần, Nhà nước phong kiến rất quan tâm tới việc bảo vệ sức kéo của con Trâu. Năm 1123, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu nhắc nhở: “Trâu là con vật quan trọng cho việc cày cấy, lợi cho người. Từ nay cấm không được giết trâu ăn thịt. Ai làm trái thì trị tội theo pháp luật”. Theo lệ, vào đầu xuân, vua thân chinh làm lễ tế Thần nông [2] và cày ruộng Tịch điền [3].
 
Ngoài ra, nhiều đình chùa, miếu mạo đã chạm khắc và tạc tượng trâu, đó là tượng trâu bằng đá ở chùa Kim Ngưu (Bắc Ninh). Thời nhà Lý, chùa Phật Tích (Bắc Ninh) có cặp tượng trâu to bằng trâu thật, tạc trên đài sen ở sân chùa, nhìn xa cứ y như thật.
Hình ảnh con trâu còn hiện diện trong tranh dân gian và trong điêu khắc gỗ đình làng, những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc dân gian đẹp về con trâu ở thế kỷ XVII, XVIII cũng được rõ nét.

 

 Con trâu trong hội họa Việt Nam thể hiện từ những nét in khắc dung dị trên tranh Đông Hồ, được thể hiện với nhiều chất liệu từ tranh lụa, tranh sơn mài.  Đó là hình ảnh chú bé tóc để chỏm thổi sáo trên lưng trâu trên cánh đồng lúa chín vàng, hay có những con trâu được nghỉ ngơi nhai lại cỏ sau những giờ làm lụng vất vả bên lũy tre xanh là hình ảnh gần gủi, sát thực với cảnh sinh hoạt làng quê.
 
 Trong âm nhạc Việt Nam, có ca khúc “Đường cày đảm đang” của An Chung, ca khúc “Lý con trâu” của Lư Nhất Vũ, phỏng theo dân ca Nam Bộ và nhiều ca khúc khác cũng ca ngợi vẽ đẹp của con trâu luôn hiện diện với con người lao động.
 
 Trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ hình ảnh con trâu được khắc họa rõ nét, nó gợi tả cho ta những tiếng nói tâm tình, thủ thỉ giữa con người với con trâu như đang nói với người thân:
 
“Trâu ơi ta bảo trâu này:
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày giữ nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công.
Bao giờ cây lúa còn bông,     
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”
 
Nghề nông mà không có trâu thì cũng giống như muốn làm giàu mà không có thóc lúa: “Làm ruộng không trâu như làm giàu không thóc”. Cảnh trâu và người cùng đồng hành trong công việc nhà nông, trâu như là một thành viên trong gia đình đầm ấm, gắn bó tình cảm: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”
 
Nuôi trâu để phục vụ cho lao động sản xuất là sự ưu tiên lựa chọn hàng đầu của người nông dân. Muốn có trâu hay, cày khoẻ thì cần phải biết chọn trâu giống tốt. Chọn trâu phải dựa vào kinh nghiệm: “Tai lá mít, đít lồng bàn”. Trâu khoẻ và nhanh có ảnh hưởng đến hiệu quả công việc sản xuất: “Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa”.
 
 Nghề nông là một nghề vất vả nhưng là một nghề ảnh hưởng lớn đến đời sống của mọi người. Câu ca dao sau đây nói về sự lam lũ của nghề nông và lời nhắn gửi với mọi người đừng quên công lao nhọc nhằn của con trâu: “Bước chân xuống cánh đồng sâu/ Mắt nhắm mắt mở dắt trâu đi cày”.
 
Với văn hóa ẩm thực cũng có thành ngữ: “trâu chết gặp lúc khế rụng”. Trong câu thành ngữ này, nghĩa đen là ám chỉ sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng lại hợp quy luật âm dương ngũ hành trong ẩm thực; còn nghĩa bóng là “thời cơ” trùng hợp của công việc nào đó... Sự thông minh, trí nhớ của trâu cũng được thể hiện qua thành ngữ “…lạc ngõ bắt đuôi trâu”. Con trâu dù có lạc đồng, hay dắt đi xa trong một khoảng cách nhất định, trâu vẫn tìm được ngõ để về.
 
Bên cạnh sự cần cù chăm chỉ làm việc, con trâu cũng biểu tượng cho sự thông minh, bình tĩnh thể hiện trong truyện cổ tích “trí khôn của ta đây”. Trâu trở nên gan dạ, không run sợ trước con hổ là kẻ dũng mãnh. Con trâu siêng năng, cần cù là vậy nhưng vẫn bị mang tiếng oan. Thành ngữ, Tục ngữ: “Sáng tai họ, điếc tai cày” nhằm chỉ hiện tượng con trâu lười biếng khi cày ruộng. Ở miền Trung, người cầm cày hô họ tức là cho trâu dừng lại, thì trâu nghe rất tinh nhanh, ấy vậy, khi nghe hiệu lệnh cày thì chúng cứ đủng đà đủng đỉnh, như chẳng nghe thấy gì. Thiết nghĩ thành ngữ này để chỉ những con người hiểu biết về cuộc sống, về thế sự nhưng vì một lý do nào đó lại tỏ ra bàng quan, giả điếc như không hay biết gì. Như vậy dựa vào sự việc của con người  để đổ lỗi cho trâu thì thật oan uổng lắm sao? Vậy nên Nguyễn Khuyến mới có bài thơ “Anh giả điếc”:
 
Trong thiên hạ có anh giả điếc
Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây,
Chẳng ai ngờ sáng tai họ điếc tai cày.
 
Như vậy con trâu trong đời sống con người Việt không những phục vụ thiết thực đời sống vật chất cho con người mà còn được khắc họa trong đời sống tinh thần, đời sống tâm linh. Để rồi sau một vụ mùa con trâu được nghỉ ngơi và con người được chiêm ngưỡng nét văn hóa mà họ đã tạo ra nhằm phục vụ cho đời sống tinh thần của chính họ.
 
Đất nước ta đang đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Máy cày dần thay thế việc cày bừa, xe vận tải thay sức kéo của trâu…, do vậy hình ảnh con trâu kéo cày, chở xe giúp nhà nông có thể không còn nữa mà chỉ còn con trâu nuôi lấy thịt, lấy sữa mà thôi! Mặc dầu ở vị thế nào chăng nữa, tình cảm gắn bó giữa con người và con trâu luôn có thực và mãi mãi trong đời sống của chúng ta.
                                                         
Xuân Tân Sửu, 2021
Nguyễn Đại Duẫn
 
………….
 
[1] Di chỉ Đồng Đậu là một khu di chỉ khảo cổ học ở gò Đậu, thôn Đông, thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Những phát hiện đầu tiên chính tại đây về một nền văn hóa có niên đại khoảng 1.500 năm trước công nguyên,
[2] Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông để cầu mong được mùa và nghề nông phát đạt. Trên các quyển lịch cổ hàng năm, người ta thường vẽ một mục đồng dắt một con trâu. Mục đồng tức là vua Thần Nông, còn con trâu tượng trưng cho nghề nông.
[3] Lễ Tịch Điền là lễ nhà vua đích thân cày ruộng nhằm khuyến khích dân chúng chăm lo việc cày cấy, phát triển nông nghiệp.
 
Nguyễn Đại Duẫn
Hội NHNT Quảng Bình
51, Nguyễn Hữu Cảnh, thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
DĐ: 0977194533; TK: 53110000581134 BIDV

READ MORE - NĂM SỬU NÓI CHUYỆN TRÂU - Nguyễn Đại Duẫn

Wednesday, January 13, 2021

TRẢ LỜI ANH NGUYÊN LẠC VỀ SHOW, DON’T TELL – Phạm Đức Nhì


Nhà bình thơ Phạm Đức Nhì


Trong bình luận của tôi về bài viết của anh Nguyên Lạc tôi chỉ giới hạn nhận xét của mình vào một phần “không ổn”:
 
Trong 3 truyện ngắn anh Nguyên Lạc đưa vào làm thí dụ cho thủ pháp Show, Don’t Tell trong bài Vài Điều Về Cao Xuân Huy Và Lâm Chương thì nhận xét của tôi chỉ nhắm vào truyện ngắn Bùa Ếch của nhà văn Lâm Chương. Truyện ngắn này có đoạn kết như sau:
 
Lương Mập phân trần: “Tôi thương cô ta thiệt tình. Chứ đâu phải vì cái đó.” Lão (thầy bùa) lắc đầu: “Cậu lầm rồi. Nếu cô ta không có cái đó, cậu có thương không?” Lương Mập cứng họng.
 
Trên đường về, nghiệm lại lời của lão thầy bùa, hắn hiểu ra rằng tình cảm trai gái đều bắt nguồn từ cái đó khác nhau mà thôi…
 
Anh Nguyên Lạc thì cho rằng Bùa Ếch có ẩn ý:
 
Tôi thấy gì? - Thấy cái mà Sigmund Freud (an Austrian neurologist and the founder of psychoanalysis) đã nói đến, nó luôn chi phối cách “hành xử” của con người, - Thấy “cõi tồn sinh” nơi ngã ba (“con đường ngã ba” - chữ của Bùi Giáng) cái mà con người muốn chiếm hữu, sở hữu... do đó mới xảy ra chiến tranh đau thương, khổ sở ... và cũng tạo ra hạnh phúc, sung sướng ... nhờ đó nòi giống trường tồn. Thí dụ như việc vì muốn chiếm đoạt “cái đó” của người đẹp Helen mà gây nên “Chiến tranh thành Troia” (trường thi của Homer: Iliad và Odyssey). Vì “cái đó” mà tiêu tan đất nước, toi mạng, tiêu đời… Trụ Vương / Đắc Kỳ, Ngô Vương/ Tây Thi và Đồng Trác / Điêu Thuyền v.v…
 
Và vì thấy nhiều thứ tiềm ẩn như vậy nên anh Nguyên Lạc đã đưa tác phẩm lên làm thí dụ danh giá cho thủ pháp Show, Don’t Tell
 
Tôi cho rằng nếu đọc cả truyện ngắn Bùa Ếch độc giả sẽ thấy cốt truyện thẳng tuột, không có ẩn ý. Và ở đoạn kết tác giả đã “nói toạc móng heo” điều mình muốn nói “… tình cảm trai gái đều bắt nguồn từ cái đó…”
 
Thành Phần Của Thủ Pháp Show, Don’t Tell
 
1/ Tell: Thường dùng trong Văn –
Thí dụ: Michael rất sợ bóng tối
 
Trong khi Show, Don’t Tell thì được viết là:
 
Khi mẹ em tắt đèn và rời khỏi phòng, Michael căng thẳng. Em thu mình dưới chăn, nắm chặt tấm trải giường và nín thở khi gió lướt qua rèm. (2)
 
2/ Show & Tell: Nhiều đoạn văn, bài thơ tác giả chỉ giới thiệu đôi chút rồi đi thẳng vào điểm chủ yếu mình muốn nói đến. Trong trường hợp này tác phẩm chỉ có Show và Tell, không có “phần chìm” Don’t Tell – nghĩa là không có ẩn ý.
 
Thí dụ:
 
CHỢT THỨC
 
Lão Trư Bát Giới đang ngủ yên
bỗng bừng tỉnh dậy
phùng mang trợn mắt
là lúc lòng anh rạo rực
nhớ em.
 
Đây là bài thơ nói thẳng – không ẩn dụ, không bóng gió, không ẩn ý, chỉ có Show & Tell.
 
Show: Lão Trư Bát Giới “phùng mang trợn mắt”
Tell: Anh “thèm chim” và nhớ em.
 
Ý chính của bài thơ: Lão Trư Bát Giới thức dậy làm dữ quá nên anh “thèm chim” và nhớ em. Thế thôi. Chứ suy rộng, hiểu sâu như anh Nguyên Lạc – nghĩ đến Sigmund Freud và muôn thứ lòng thòng ở phía sau – không phải là không có lý, nhưng trong khung cảnh của Chợt Thức là đi quá xa, là lạc đề. Nói rõ ra, đây chỉ là bài thơ Show & Tell – không có phần Don’t Tell (ẩn ý).
 
Dưới đây là một đoạn thơ nghe được từ tiệc nhậu của mấy anh đánh cá:
 
Đêm nay cờ ‘dục’ trống dồn
Cái hồn lại ngứa bồn chồn nhớ anh
Em đây nhớ cái củ hành
Nhớ sao những lúc thả phanh gầm gừ
Tiếng rên vô nghĩa ư …ư
Cái hồn sung sướng ngất ngư quên trời
 
(Chữ “dục” viết sai chính tả có chủ ý)
 
Ý chính của đoạn thơ là tác giả lên cơn thèm “củ hành” và nhớ “chàng” chứ chẳng có Sigmund Freud hoặc Trụ Vương Đắc Kỷ hay Đổng Trác Điêu Thuyền gì hết. Và đoạn thơ này cũng chỉ thuộc loại Show & Tell.
 
3/ Show, Don’t Tell (Có Ẩn Ý – Don’t Tell)
 
CÁNH ĐỒNG
 
Sau ba năm chung thủy
Với người chồng đi xa
Chị đã thất tiết một cách lạ kỳ
Với người đàn ông xấu xí
Già hơn chị rất nhiều
 
Trong một buổi chiều bão tố
Khi chúng tôi đến đó
Người đàn ông đã đi rồi
Chỉ còn lại trên đồng lúa
Vết xước của dĩa bay mà thôi
 
               (Nguyễn Đức Tùng)
 
Show: Thiếu phụ “thất tiết” với “người từ hành tinh khác”.
 
Don’t Tell = Ẩn ý: Khi “thèm chim” mà vì lý do này lý do khác không thể thỏa mãn thì gặp “người từ hành tinh khác” Bà cũng “chơi”, mặc kệ những cái nhìn không đồng tình, thiếu thiện cảm của người đời. Đó là quyền mưu cầu hạnh phúc chính đáng của con người nói chung và của Bà nói riêng.
 
GIÓ DẬY THÌ
 
Lạ chưa cơn gió dậy thì
Cứ tưng tửng thổi kể gì ngày đêm
Cây đào nghiêng ngả trước thềm
Nhụy hoa tơi tả cành mềm gẫy ngang
Cạnh chùa cây đại, cây bàng
Tiếng chim kêu thảng thốt vang giữa trời
Thấy hồn bay bổng chơi vơi
Nằm nghe gió thổi nhớ thời thanh xuân
 
                             (Thanh Bảo Nguyên)
 
Show: Cả bài thơ
Don’t Tell = Ẩn ý: Tác giả đang “thèm chim” “quá cỡ thợ mộc”.
 
Bài Cánh Đồng độc đáo ở chỗ ý đi rất xa, thể thơ mới lạ, hiệu quả, phần Don’t Tell được sắp xếp kín và khéo nhưng ít cảm xúc.
 
Bài Gió Dậy Thì “hiền” hơn, mặc dù cơn “thèm chim” mạnh hơn, sinh động hơn, cảm xúc nhiều nhưng vẫn giữ được nét thanh của thơ.
 
Truyện Ngắn “Bùa Ếch” Có Thể Xếp Vào Loại Show, Don’t Tell?
 
Như đã nói ở phần đầu, truyện ngắn Bùa Ếch có kết luận là “tình cảm trai gái đều bắt nguồn từ sự yêu thích cái đó của nhau”. Theo tôi, đó cũng là ý chính của cốt truyện. Và Bùa Ếch chỉ thuộc loại Show & Tell chứ không phải Show, Don’t Tell.
 
Nghĩ sâu, suy rộng như anh Nguyên Lạc - từ Bùa Ếch mà nghĩ đến Sigmund Freud, Trụ Vương Đắc Kỷ, Đổng Trác Điêu Thuyền - không phải là hoang tưởng nhưng trong khung cảnh của truyện ngắn Bùa Ếch là đi quá xa, là lạc đề. Và hậu quả là đã tặng cho Bùa Ếch danh hiệu Show, Don’t Tell - một quyết định sai lầm về một thủ pháp quan trọng trong viết văn, làm thơ.
 
Còn Truyện Ngắn “Bắt Khỉ” Thì Sao?
 
Bình luận của tôi trên FB chỉ nhắm vào truyện ngắn Bùa Ếch nhưng trong phần trả lời của anh Nguyên Lạc cả 3 truyện đều được đem ra phô diễn, biện minh nên nhân tiện tôi nói thêm về truyện ngắn Bắt Khỉ.
 
Nếu nhà văn Lâm Chương cho dừng truyện ở chỗ
 
Anh Khan cũng không ngủ được. Anh ngồi dậy vấn thuốc, bất ngờ anh hỏi tôi, nghĩ thế nào về những con khỉ bị sơn mặt? Tôi nói, nếu ở Âu Mỹ, Hội Bảo Vệ Súc Vật sẽ can thiệp cho nó.
“Cũng không ai biết sẽ ra sao. Nếu nó cứ bám riết theo bầy, có thể một ngày nào đó, con khỉ đầu đàn sẽ cắn nó chết.”
 
và để mặc độc giả mò ra ẩn ý của anh thì Bắt Khỉ sẽ xứng đáng được xếp loại Show, Don’t Tell. Nhưng nếu làm như vậy thì ẩn ý quá kín, độc giả không thể suy đoán ra, không về được điểm đến mà anh muốn. Chính vì thế anh đã phải thêm đoạn kết và đưa vào 2 câu:
 
Anh bảo, khi tôi sang xứ người, nên tìm đến cái Hội Bảo Vệ Súc Vật, để nhờ họ che chở. Và nhớ hỏi họ, rằng giữa vùng rừng núi Việt Nam, có những “con khỉ người” đang bị sơn mặt, họ có bảo vệ không? để độc giả hiểu được ý mình. Hai câu đó trở thành phần Tell của truyện và đã làm Bắt Khỉ không còn là Show, Don’t Tell nữa.
 
Anh Nguyên Lạc không thấy được điều đó nên đã có thêm một quyết định sai lầm, rất đáng trách khác nữa. Đó là quyết định (về mặt thủ pháp nghệ thuật trong viết lách) xếp Bắt Khỉ vào loại Show, Don’t Tell.
 
Kết Luận
 
Anh Nguyên Lạc đọc nhiều biết rộng nên trong các bài viết của anh rất nhiều tư liệu được trích dẫn, nhất là những đề tài nặng tính lý thuyết. Tôi rất nể phục anh ở điểm này. Có điều khi đem những ý niệm nặng tính lý thuyết đó ra để soi sáng, làm rõ giá trị nghệ thuật một tác phẩm nào đó thỉnh thoảng anh cũng có chỗ này, chỗ kia lầm lẫn.
 
Trong tranh luận văn chương tôi lại thích cãi tới bến, nhiều lúc quên cả nể nang nên đã làm anh phật lòng. Nhưng biết làm sao được. Cha mẹ sinh con trời sinh tính. Mong anh thông cảm.
 
Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com

READ MORE - TRẢ LỜI ANH NGUYÊN LẠC VỀ SHOW, DON’T TELL – Phạm Đức Nhì