Chúc Mừng Năm Mới

Văn Nghệ Quảng Trị kính chúc quý nhà thơ, nhà văn cọng tác viên và quý bạn đọc Năm mới 2017 Đinh Dậu VẠN SỰ AN LÀNH

Tuesday, June 27, 2017

TIẾNG THỞ DÀI TRONG THƠ DU THUY KHUC - Zulu Cao



                 Tác giả Zulu Cao


TIẾNG THỞ DÀI TRONG THƠ DU THUY KHUC
"TIẾNG THỞ... THỞ DÀI !"


Cảm xúc của thi nhân mong manh như khói sương, nhưng có sức mạnh bão tố và hoàn toàn tự do. Cảm xúc qua màn lọc của tâm hồn để hình thành tác phẩm. Bài thơ "TIẾNG THỞ... THỞ DÀI !" của Du Thụy Khuc trong trường hợp nầy không qua màn lọc, từ cảm xúc tác giả chuyển đến người đọc cảm giác nao nao, tiếng thở đó dường như lan qua phía bạn đọc. Tiếng thở là sự sống, tiếng thở trong bài thơ nầy là Tiếng thở... Thở dài. 
 Tiếng thở từ đâu đến, hay tiếng thở của tác giả. 
 "Tiếng thở... Thở dài !"
Tác giả để khoảng trống hàm ý sự kín đáo, thân tình, xa xăm. Có thể quá khứ, có thể hiện tại. Tiếng thở gần, hay tiếng thở xa. 
Hai tiếng "Thở dài !" tiếp theo có dấu chấm than, như là cách để nói bài thơ mang dấu ấn tâm trạng của tác giả.

Đêm nghe tiếng thở
Tiếng thở...thở...dài
Thương phận người... người hôm nay
Đầy khuyết con trăng phôi phai đợi chờ

Đêm nghe tiếng thở. Tiếng thở...thở...dài. Hình như tiếng thở thuộc về quá khứ, đã hằn sâu vào kỹ niệm, để đêm nằm tác giả nghe lại, nhớ lại. Với âm điệu và cấu trúc thơ, khi đọc lên ta có cảm giác như tác giả cũng thở theo với tiếng thở của nhân vật trong thơ.
"Thương phận người... người hôm nay" 
Nhân vật gần như được xác định, đó là người hôm nay. Câu thơ cho ta hình dung tác giả cũng thở dài theo với tiếng thở của nhân vật, một sự quan tâm sâu lắng hiếm hoi, chỉ trong tình yêu đích thực mới có thể lắng nghe được hơi thở của nhau. Trăng có khi đầy, khi khuyết, tác giả lấy hình ảnh của trăng ví với sự chờ đợi, e rằng rồi cũng phôi phai như mặt trăng khi tròn khi khuyết.
Đầy khuyết con trăng phôi phai đợi chờ
Thơ lại đưa ta vào những dấu hỏi mơ hồ, phải chăng trong sinh hoạt đời thường, người thơ còn có cuộc sống của tâm linh, của mộng, của thơ. Thi nhân như rượu quý, trong bình, rượu vẫn tỏa hơi men làm chếnh choáng cuộc đời.

Đêm nghe tiếng thở
Ngậm ngùi... ngậm ngùi

Bây giờ trong thơ là tiếng thở gần, tiếng thở ngậm ngùi ... ngậm ngùi là tiếng thở của mệnh số, tiếng thở tình duyên "Mải hoài không có niềm vui", sắc hoa ti-gon là giàn bông giấy. "Hai tay rời rã buông xuôi bởi vì... "
Chấp nhận thực tại là thái độ sống của nhiều người. Đối với những vị nữ lưu, số phận chưa phải là sự ràng buộc, đó chỉ là một cách bằng lòng trong thách đố với chính mình. Nhu cầu sáng tạo, không gian cho tâm hồn và những chuyển động từ cuộc sống thâm nhập cảm xúc, sự sáng tạo và góc kín trong tâm tư mới là đời sống thực của nghệ sĩ.

Nước mắt tràn mi
Tiễn nhau... tiễn nhau
Đời không có phép nhiệm mầu
Ngày bên nhau đã còn đâu hỡi người!

Sau tiếng thở dài có nước mắt, "Ngày bên nhau đã còn đâu hởi người !" Vậy là người ấy đã đi xa - đã còn đâu - Đã còn đâu là cách diễn tả, cách dùng chữ mang tính tâm trạng của quá khứ vẫn tồn tại trong tình cảm. Tiễn nhau trong nước mắt, ước chi có phép mầu để mải gần nhau, thế mà "Ngày bên nhau đã còn đâu hởi người!"
Sau nước mắt là thân phận, là dặm trường, thôi thì cứ coi tuổi đời như cánh hoa, nhạt nhoà chìm nổi với lênh đênh. Người xa ơi, hiểu cùng em nhé.

Duyên phận nửa đường
Dặm trường đành xa
Tuổi đời như một cánh hoa
Nổi chìm rồi cũng nhạt nhoà lênh đênh!

Sau nỗi nhớ, tác giả cố quên và nhắn chàng, nói với chàng rằng, em vẫn nghe tiếng thở dài của anh. Nhưng chàng ơi, chàng ơi, cố quên lại càng nhớ.

Cố quên cố quên
Chàng ơi ! chàng ơi...
Đêm nghe tiếng thở
Tiếng thở... thở dài!

Kết thúc bài thơ là điệp khúc của vòng tròn, tiếng thở dài vẫn quay trong đời sống. Khi vừa chấm dứt đã gặp lại bắt đầu. Ôi thi nhân, tâm hồn rộng mà cuộc đời quá hẹp 

                                                                        Zulu Cao


                       Nhà thơ Trần Mai Ngân


TIẾNG THỞ... THỞ DÀI!

Đêm nghe tiếng thở
Tiếng thở... thở... dài
Thương phận người... người hôm nay
Đầy khuyết con trăng phôi phai đợi chờ

Đêm nghe tiếng thở
Ngậm ngùi... ngậm ngùi
Mãi hoài không có niềm vui
Hai tay rời rã buông xuôi bởi vì...

Nước mắt tràn mi
Tiễn nhau... tiễn nhau
Đời không có phép nhiệm mầu
Ngày bên nhau đã còn đâu hỡi người!

Duyên phận nửa đường
Dặm trường đành xa
Tuổi đời như một cánh hoa
Nổi chìm rồi cũng nhạt nhoà lênh đênh!

Cố quên cố quên
Chàng ơi! chàng ơi...
Đêm nghe tiếng thở 
Tiếng thở... thở dài!


                             Trần Mai Ngân

READ MORE - TIẾNG THỞ DÀI TRONG THƠ DU THUY KHUC - Zulu Cao

RƯNG RƯNG NGÀY VỀ - Thơ Châu Thanh Thủy



                             Tác giả Châu Thanh Thủy


RƯNG RƯNG NGÀY VỀ
Kỉ niệm ngày trở lại Hà Nội sau 30 năm.
            (1980 - 2010)

Ngàn năm còn đó kinh kì
Rêu phong bậc đá, lối đi cỏ mòn
Bia vàng mờ chạm, phai son
Chiều tàn bóng xế ta còn ngẩn ngơ.

Dòng người vội vã, thờ ơ
Mà ta như kẻ tương tư muộn màng
Cúi tìm một chiếc lá vàng
Chợt nao nao với phũ phàng thời gian

Thế thôi một kiếp nhân gian
Đời người tựa mảnh trăng tàn ngày đông.
Ta về lạc lối hư không
Đi tìm chốn cũ, sông Hồng cuộn trôi

Rưng rưng gọi: Tuổi thơ ơi!
Bãi sông, bến sóng một thời xôn xao
Tìm trong con nước dạt dào
Hạt phù sa mới hôm nào lấm tay

Nắng hè nghiêng cả trời mây
Buổi trưa Hà Nội nhặt đầy sấu non
Xếp thành kỉ niệm con con
Bạn bè rong ruổi lối mòn ven đê

Cái diều no gió mải mê
Say sưa quên cả mẹ về chợ trưa
Lung linh điện sáng Tây Hồ
Que kem Hoàn Kiếm bây giờ mới tan

Ta về, có lẽ muộn mằn
Ngày xưa còn mỗi vết hằn thời gian
Thôi thì năm tháng chưa tàn
Ngày về tìm lại vô vàn thương yêu.

                   Châu Thanh Thủy
                      25 - 4 - 2011

READ MORE - RƯNG RƯNG NGÀY VỀ - Thơ Châu Thanh Thủy

GỬI YÊN BÁI - Thơ Nguyễn Khôi

           
                     Nhà thơ Nguyễn Khôi



Lời thưa: Bố tôi bảo "Yên Bái là đất dữ... nên 1945 ông đưa gia đình về xuôi... Nguyễn Khôi tôi sinh ra ở Thị xã Yên Bái (26/12/1938), nay 80 tuổi (ta) ngẫm thấy lời Bố tôi xưa quả là rất nghiệm, có đôi vần cảm tác, viết cách nay đã 5 năm mà vẫn như những lời "dự báo" về cái  vùng Đất Dữ hôm nay, xin được chia sẻ cùng các Bạn thơ :

GỬI YÊN BÁI
(Tặng: Nhà văn Thế Phong - Sài Gòn)
                      
Nơi mẹ sinh tôi đầu nguồn nước lũ
Đi bặt tăm chẳng có ngày về...
                     
Ơi Yên Bái, người đi không ngoái lại
bỏ lại vầng trăng, câu hát lưng đèo
Về Hà Nội giữa dòng đời ngang trái
đi tìm hoài một dáng thương yêu.
                     
Đâu hương Quế, hương Hồi chiều xanh ngát
giữa phố phường chật chội sặc hơi Tiền
giữa chen chúc lòng ngắc ngư câu hát
Thèm một khoảng rừng ở góc Công viên...
                     
Ta là người điên - kẻ quên quá khứ
Trong cơn mê lảnh một tiếng còi tàu
cứ ngỡ đêm rừng qua ga Phú Thọ
Lửa lập lòe ai đợi bến Âu Lâu ?
                   
Nơi sông Thao đổ vào đầu phố
cây Đa mé chợ, nơi "đoạn đầu đài" (1)
Phố là phố của người đi chẳng nhớ
Tiếng súng đùng đoàng chạng vạng hôm mai (2)
                      
Ai đi xa có ngày về Yên Bái
Tôi đi xa là trốn biệt nơi này
là kẻ phụ tình, đứa quên xứ sở
để cõi lòng rỉ máu, buốt đôi tay.

                 Hà Nội 13/01/2012
                   NGUYỄN KHÔI
-------
(1) Nơi xử tử Nguyễn Thái Học và các Đồng chí...
(2) Nơi quyết chiến của VM & VNQDĐ sau 1945... và của các "nhóm lợi ích" thanh toán nhau hôm nay...


READ MORE - GỬI YÊN BÁI - Thơ Nguyễn Khôi

NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (KÌ 21) - Nguyễn Ngọc Kiên



                   Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên


NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ  CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (KÌ 21)  

指鹿为马 [CHỈ HƯƠU NÓI NGỰA]
Các thành ngữ: “混淆是非” “Làm xáo trộn phải trái” hay “指鹿为马” “chỉ hươu nói ngựa” đều có ý không phân biệt trắng đen.
Trong cuộc sống, nhiều người vì ham lợi lộc mà bất chấp phải trái, sẵn sàng đổi trắng thay đen miễn là mọi việc chiều theo ý mình. “Chỉ hươu nói ngựa” chính là một thành ngữ dùng để nói về những chuyện như thế. Ví dụ: Cậu không hiểu cái tính khí thất thường của ông Hữu sao? Ông này sẵn sàng chỉ hươu nói ngựa, cốt làm đẹp lòng ông chủ để mong kiếm chác đấy mà!
Hươu là hươu, ngựa là ngựa. Hươu là thú thuộc nhóm nhai lại, có gạc ở trên đầu, thân hình lớn hơn hoẵng và nhỏ hơn nai. Còn ngựa là thú có guốc, cổ có bờm, chân chỉ có một ngón, chạy rất nhanh (nhanh như ngựa). Vậy mà lại có người nhầm lẫn đó. Có một giai thoại liên quan tới thành ngữ này.
Các bạn chắc biết nhân vật Tần Thủy Hoàng (tên thật là Doanh Chính, 259-210 trước Công nguyên) là vua nước Tần trong thời kì Chiến quốc. Ông chính là người khởi xướng xây Vạn lý trường thành vĩ đại còn tồn tại đến ngày nay. Khi Tần Thủy Hoàng chết, Hồ Hợi lên kế vị, lấy hiệu là Tần Nhị Thế. Nhưng có một vị thừa tướng trong triều lúc đó tên là Triệu Cao có mưu đồ soán ngôi nhà Tần. Rắp tâm thực hiện mưu đồ của mình, Triệu Cao bèn lập mẹo để thử triều thần, xem họ có sẵn sàng thần phục mình hay không. Ông sai gia nhân dắt một con hươu đến sân triều và nói với Tần Nhị Thế: “Bẩm đại vương! Thần có một con ngựa quý muốn hiến cho đại vương”. Nhị Thế ngạc nhiên, nói đây là hươu chứ đâu phải ngựa. Triệu Cao bèn quay hỏi các đại thần, rằng đây là con gì. Nhiều kẻ bợ đỡ, xu nịnh, muốn nhân cơ hội sau này có dịp nhờ vả Triệu Cao nên nhao nhao nói đó là con ngựa. Chỉ có một số ít người khảng khái dám nói đó là con hươu chứ chẳng có gì giống ngựa. Triệu Cao liền bí mật ghi tên những người này vào sổ để sau này có dịp sẽ tìm cách trị họ. Quả là kế hiểm.[Theo Từ điển thành ngữ, điển cố Trung Quốc, Lê Huy Tiêu dịch, NXB Khoa học Xã hội 1993]
Người đời sau dùng tích “chỉ lộc vi mã” (chỉ hươu nói ngựa) để tạo nên thành ngữ nhằm diễn tả một nội dung ngữ nghĩa: Không ít người vì lợi riêng mà nhắm mắt nói sai sự thật. Thật là một thái độ xu thời, cơ hội.
Ngựa kia đâu phải là hươu
Trách người quân tử nói điêu hại người…
(Theo PGS – TS Phạm Văn Tình, Viện Từ điển học & Bách khoa thư)

童颜鹤发 ĐỒNG NHAN HẠC PHÁT 
童[Đồng] : nhi đồng, trẻ con. . Đầu bạc trắng như là lông hạc, mặt hồng hào như là trẻ thơ. Người già còn đầy sinh khí, quắc thước. 
Thành ngữ này có xuất xứ từ “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung thời Minh, hồi thứ 15. “Hồng nhan hạc phát, thoáng quá có dáng xuất thế.”
Ví dụ: Một ông lão hơn 70 tuổi, đồng nhan hạc phát, qua  đường đi như bay, khó mà đuổi kịp.

同床异梦  [ĐỒNG SÀNG DỊ MỘNG]
异 [Dị]: khác nhau. Cách nói tỉ dụ: ở gần / cùng  nhau  nhưng cách suy nghĩ , tính toán, chí hướng thì hoàn toàn khác nhau.
Thành ngữ này có xuất xứ từ “Chu Nguyên Hối bí thư thư” của Trần Lương đời Tống. “Đồng sàng nhưng khác mộng, Chu Công không thể học được. Hà tất nhất nhất phải nói đến Khổng Minh?”
Ví dụ: Mọi người cùng nhau làm việc, phải đồng tâm hiệp lực, không thể đồng sàng dị mộng mãi được.

                                                              Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (KÌ 21) - Nguyễn Ngọc Kiên

LỜI THƯƠNG... Thơ Tịnh Đàm


                   Tác giả Tịnh Đàm



LỜI THƯƠNG...
(Gởi bạn tình)

Chuyện Mình, đâu nói lời yêu
Mà đôi ta vẫn sớm chiều bên nhau.
Ân tình nào hẹn trước, sau
Nụ cười, ánh mắt đắm màu thiết tha.
Chuyện Mình, đâu kể gần, xa
Niềm tin trong trái tim ta có mình.
Tháng năm, lòng mãi kiên trinh
Bạc đầu tuổi nhớ ... lung linh bóng đời.
Người ơi... xin hiểu tình người,
Đâu cần phải nói: yêu thời mới yêu.

                              TỊNH ĐÀM
                              (TP. HCM)

READ MORE - LỜI THƯƠNG... Thơ Tịnh Đàm

Monday, June 26, 2017

LỢN HEO - Vĩ văn của Chu Vương Miện



              Nhà thơ Chu Vương Miện



LỢN HEO
Vĩ văn của  Chu Vương Miện

Tôi hay có thói quen là tìm tòi những danh từ thường dùng hàng ngày mà nghĩa đôi khi không được rõ ? hôm trước được nghe người em bên vợ giải thích, con Lợn là tiếng ngoài bắc, thường ăn củ sắn, ăn trái bắp còn con Heo trong miền Nam thì ăn củ mì và trái ngô, vậy ra là con Heo và con Lợn khác hẳn nhau, tự điển ngoài Bắc thì phận biệt con Lợn là con Lợn Ỉn là một thứ lợn truyền thống có nguồn gốc từ Heo Mọi (nuôi tốn cơm cũng chỉ đựơc 50 ki lô  là cùng - từ sáu tháng đến 1 năm), còn con Heo có nguồn gốc từ ngoại quốc thì nuôi từ 4 tháng đến 6 tháng cân được 1 tạ (100 kg). Chúng tôi không bàn cách nuôi Lợn Heo ở bài này mà chỉ đi tìm nguyên nhân nào, con Lợn đi từ ngoài Bắc vào Trung rồi vào Nam, mà từ tên cúng cơm là Lợn chuyển thành Heo lúc nào không biết. Thực ra nếu danh từ nào gặp khó khăn không hiểu thì mang tra Tự Điển, nếu cuộc đời chỉ giản dị "giản đơn và giản kép" như thế thì khỏe quá, Tự Điển thì chỉ giải nghĩa đại khái và chung chung, coi cũng như là không coi, thế rồi một hôm coi tivi, mục "Bóp Méo Vo Tròn" "nghệ sĩ Trần Thiện nguyên là một ảo Thuật Gia, một Mc, một ca sĩ thuộc vào loài kiêm nhường, thường chỉ trình diễn nơi nào có Nhang Đèn" nói nôm na là nơi nào hát Chùa và Cộng Đồng là có anh. Ở Chương Trình "Bóp Méo Vo Tròn" nghệ sĩ Trần Thiện giải thích Lợn Heo như sau:
-Thực ra là như thế này, năm 1802 vua Gia Long nhà Nguyễn thống nhất sơn hà, (không có thống nhì) có nhiều vị quan văn và võ theo vua Gia Long từ thủa hàn vi gốc gác từ ngoài miền Bắc nhưng vào Nam làm quan, chữ Việt Nam thì thống nhất, nhưng tiếng nói Việt Nam thì thống nhì, đôi khi nói ra phải còn người diễn giải hoặc thông dịch thì người nghe mới hiểu là nói cái gì ? ý nghĩ ra làm sao? đa số thời bấy giờ các vị quan này đều được gọi là Quan Lớn, nhưng dân chúng bá tánh không ưa vì các quan xấc xược ngang tàng coi dân chúng miền Nam như rơm rác nên nói giọng trại ra lớ lớ là Quan Loợn, dần dà thành quen “ Quan Lợn. Mấy vị quan gốc Bắc Hà nghe vậy thấy kỳ cục quá nghe không lọt lỗ tai, mỗi lần nghe dân ai mà kêu mình là Quan lợn là a lê hấp sai lính hổ bôn đè ra sân Huyện sân Phủ, tẩm quất cho từ 20 hèo đén 50 hèo, sau đó thì bá tánh kêu Quan Lớn là quan Hèo 
“ Hèo là Gậy tức là quan chỉ dùng hèo mà đánh dân. Hèo từ từ chuyển thành Hèoo, rồi khi không chuyển thành Heo lúc nào không biết.
Chúng tôi thấy cách lý giải trên rất hợp tình và hợp lý (logic) nên ghi lại nơi đây làm tư liệu tham khảo 
Ai có thắc mắc thì cứ tìm nghệ sĩ Trần Thiện mà chất vấn.

                                                             Chu Vương Miện

READ MORE - LỢN HEO - Vĩ văn của Chu Vương Miện

NGƯỜI THƠ - Đặng Xuân Xuyến





NGƯỜI THƠ

Kệ vợ tru tréo hết gạo
Mặc con thiếu bữa xanh xao
Người thơ
tấp tểnh in thơ
Mang thơ
dọa tặng trăm họ

Ngó nghiêng trò đời điên đảo
Ngác ngơ thế sự ồn ào
Người thơ
phiêu cùng mây gió
Thả hồn bát phố
luận thơ

Hà Nội, 12 tháng 06.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - NGƯỜI THƠ - Đặng Xuân Xuyến

CHÙM THƠ HUY UYÊN





1-
Một lần về Sài-Gòn
Vây quanh trái tim bão dữ
Cuộc tình chia biệt bao năm
H.xưa một thời mộng-ảo
Bơ vơ trời đất Sài-Gòn.
Tôi chong mắt nhìn quanh tôi
Đã mất em từ dạo đó
Tình em phố rộng sông dài
Trên cao ngọn đèn vàng võ.
Nước mắt vùi chôn quá-khứ
Hoang trôi quay lại Sài-Gòn
Mưa, mưa ầm ào thác đổ
Quên thôi ngày cũ nụ hôn.
Tôi về ngày tháng ngậm tăm
Kể từ đêm ta từ-biệt
Nhớ không thôi đã mười năm
Trời Sài-Gòn buồn da-diết.
Ở sân bay em không nói
Lúc ta lặng im cầm tay
Em Pennsyl. tôi ở lại
Xa bỏ cuộc tình hôm nay.
Em, tôi chiếc lá cuối cùng
Ngậm ngùi Sài-Gòn mưa nắng
Giữ hoài nỗi nhớ, đợi, mong
Đi trọn một đời xa vắng.
Chiều sông Sài-Gòn chầm chậm
Trôi nghiêng lỡ hẹn ngày về ...


2-
Đợi mùa thu về 
Ở đó mùa thu chưa về
Chiếc lá âm thầm rơi rụng
Bỏ lại trong vườn nụ cười
Cầm giữ trong tay khoảng lặng.
Em đi mang theo con tim
Hát khúc ca buồn con phố
Gió có quay lại bên em
Mắt môi buồn chi lắm thế!
Thiếp mê một đời giấc ngủ
Xa nhau có làm em buồn
Sông xa chảy hoài nỗi nhớ
Bên đường dấu xưa bước chân.
Đà-Nẵng lá thu chín vàng
Mây bay lang thang trú ngụ
H.xưa cổ-tích tháng năm
Em, tôi giấc mơ loài quỷ.
Phải mắt em buồn bên cửa
Có đợi chờ không thu về?
Cuộc vui trốn miền nhung nhớ
Bia mộ riêng tôi ngày về.
Em có về không tôi chờ
Ngoài trời sắc thu vàng lá
Con đường nhớ dấu chân xưa
Đâu đây âm vang tiếng gọi.
Nhớ người !!!


3-
Em, mùa thu, nỗi nhớ
Năm tháng bên em ngày đó
chừng khuất dấu lạnh trong hồn
cầm trong tim đầy nỗi nhớ
người giờ phai nhạt môi hôn.
Em xưa như lục bình trôi
bên sông tôi buồn xa xót
chuyện đời cay đắng đầy vơi
em nói thương tôi, giờ mất.
Đốt tình ai thêm nồng cháy
dù xa tôi mãi bên em
còn nhớ gì không quay lại
con đò năm xưa chở buồn.
cho dù sao hôm sao mai
tôi em chiều đi thay nước
bên cầu giọt lệ đắng cay
nhớ ai nào tôi biết được.
Em có về không tôi đợi
dìu dịu trong ai chờ mong
đò người bao giờ quay lại
trong tôi dấu mãi chuyện buồn.
Sao em về chi thu vàng
năm tháng em hoài đứng đó
lên đồi thả gió theo sang
chiêm bao một đời vàng võ.
Từ em đi buồn ở lại
sao em nằm chết cùng trăng
nơi xa tôi nào kịp tới
thôi tôi nỗi nhớ khôn cùng.


4-
Đà-Nẵng  -  Sài-Gòn.
Gởi em nụ-hôn-môi-xa
xao ngủ chi hoài mắt biếc
ngày ngậm chiều muộn đi qua
những lần bên nhau nuối tiếc.
Lá đông lìa cành quá sớm
ai kia đứng lại bên đường
phố nhỏ chiều quên chiếc bóng
trong vườn hoa cải mù sương.
Mình em quay lại sân ga
tiễn đưa hồi còi da diết
bạc lòng chi tình hai ta
chôn sâu con tim chia biệt.
Ở Sài-Gòn sầu trăm ngã
cầm tim dạo bước loanh quanh
giấc mơ xưa hồn rêu đá
đêm quên trước chợ Bến-Thành.
Mới đó người đi một năm
lang thang xứ người hoài hủy
lạc bến Thủ-Thiêm đợi thuyền
người đã xa sao buồn thế.
Chén rượu đầy vơi cay đắng
quán cóc ngủ thiếp mê buồn
thoáng đời bay hoài mộng tưởng
tình tiền cũng đã xa luôn.
Đốt tim cháy gởi quê nhà
khói cay buồn lên mắt đỏ
son môi hồng tím phôi pha
hàng cây tóc em cùng gió.
Thu đi treo tình góc phố
mùa đông chậm bước quay về
kỷ-niệm giọng buồn nhung nhớ
Ở Chợ-lớn sầu ly cà-phê.
Đà-Nẵng đi quanh nỗi buồn
áo phai bụi trần dong ruổi
đời chìm cây cỏ mây sương
dấu cuối nổi sầu xa xứ.
Chạy quanh trăm nẻo đường trần
em về quán xưa một bóng
đêm đi tội nghiệp con đường
có tìm Sài-Gòn chạy trốn.
Em chờ anh từng góc phố
gió bay nhẹ bước Cầu Rồng
có đứng mà khóc trước biển
dỗ dành che dấu vết thương.
Đà-Nẵng xa ai, Sài-Gòn
quê nhà ngày nào quay lại...


5- 
Ly cafe cao-nguyên
Nặng lòng gió cao-nguyên ly cafe
sao người vương sầu lên mắt
đất đỏ ba-dan bụi Ban-Mê
chiều quán lạnh khuất chìm tiếng hát.
Có phải tại em trời sớm sang thu
trên nương, đồi rắc vàng chầm chậm
khuất nẻo cùng chiều đi xa lắm
bên sông đứng đợi ai về.
Hỏi mây trên đầu
sao không giăng cuối núi
dĩ vãng người lầm lũi cầm tù
lặng lẽ một mình bóng tối
đã khép rồi ký-ức ngày xưa.
Cao nguyên bơ vơ rủ gió qua sông
trên núi ai gùi đồi về làng, bản
hạnh-phúc đắng cay đốt cháy lòng
gió ngưng thổi đêm buồn?
Tôi lấp mộ bia môi người
say nghiêng ché rượu dạo bỏ cao nguyên ngày đó
đứng lặng thinh bên cầu, núi sông dài
dỗ mối tình theo con nước trôi mau.
Mưa trái mùa giăng ngang lòng phố
cuối dốc dấu con đường buồn
đi và ngậm ngùi thương nhớ
sơn-khê thôi hết bâng khuâng.
Khuya ngồi bên thềm dỗ gió
tháng ngày ai đi không quay lại
một mình trò chuyện sương đêm
phế hoang cho lòng tê tái.
Mây ở lại tím pha màu mắt
ai đi che khuất trời sao
thôi đã lạc tình, đời chia cách
cao-nguyên ngủ quên giấc mơ không về.
Bàn tay dịu dàng se lạnh
hơi thở phả hương tóc người
quán cafe Hạ-Vàng nghiêng trôi
hoang hoải đêm hắt hiu, cô quạnh.
Trên đồi nhà ai khép hờ cửa sổ
gọi tên em ở cõi vô-cùng
giọng tượng buồn tiếc đời cây cỏ
đã vùi chôn hoài niệm con tim.
Dấu trong tôi ánh mắt, nụ cười
thời ở lại chân trần quanh phố vắng
nửa đêm cơn mưa chợt về
mang vội nỗi buồn năm tháng.
Xa người, xa cao nguyên đầy gió
người-đàn-ông-tóc-bạc nhuộm sương đồi
ngỡ sầu đi ngang qua phố
cầm trong tay con tim chết trôi
để nhớ một người!


6- 
Trở lại "đồi 55" (*)
Những đám ruộng chín vàng cuối đồi
Ngày tháng cũ trên tay súng đạn
những ngọn tre cụt đầu cắt bom rơi
"đồi 55" một thời chinh chiến.
trên đồi đâu đây hầm, gai, thép lửa
đêm hỏa-châu lính chong mắt nhìn
nấm mồ chung quân hai bên
tan thây máu đổ 
45 năm chiến trường cũ về thăm.
Hai mắt đăm đắm chong nhìn
xác người nằm phơi dưới nắng
những khuôn mặt "chết trôi" ngậm tăm
nỗi đau băm ngang mặt trận.
Úp mặt chết giữa lòng địa đạo
đêm đêm trái phá cắt chân nằm
mẹ già,vợ con quê hương khốn khổ 
hầm hào che lấp đồi "55" .
Tháng ngày bên em đã nguôi quên
sao cả đời mãi hoài u-uất
đạn bom xưa thức dậy chiến-trường
cầm súng bắn người anh em
đồi"55" chất đầy xác giặc.
Trên điêu tàn "đồi 55" ngày trở lại
gió quắt quay thả xuống chân đồi
nằm lặng câm những ngôi-mộ-gió
lời-ru-buồn chìm khuất riêng tôi.
Quanh đây tiếng gọi oán hờn
chiều trên đồi đầy gió
hàng vạn người đi có trở về không?
chia biệt ghim sầu từ độ
Ngày tháng bao mùa máu xương, dâu bể
"đồi 55" tiếng gọi ai về.

* "Tên"tiền đồn phía tây nam"


 7-            
 Đêm 2 người ở "đồi 10"

1-
Đêm hoảng-hốt vây quanh đồi 10
những khuôn mặt tối đen ôm súng
bên ngoài ngã-ba-chết-trôi
lính chờ giặc dưới hầm im lặng.
Tiếng ai gọi giữa trời Hiếu-Đức(*)
gió đầu khe xô xoáy rừng lau
từng pháo chùm run bần-bật
tim ai đốt cháy hố hầm hào.
Buổi sáng thức dậy đầy mây
đêm qua xác thù, kẽm gai nhuộm máu
căn-cứ sớm mai nhuộm trắng lá, tơ trời
ngày đợi giặc mà lòng thêm dông bão.
2-
Đứng dưới chân nghĩa-trang rêu cũ
lâu rồi tắt tiếng đạn bom
bạn bè, người anh em từ thuở
bắn nhau chi để chết trong lòng.
Lạnh tái môi người
gió trên đồi xô từng sợi tóc
súng nổ dưới đồi
đêm hỏa-châu soi xác giặc.
Em đứng bơ vơ bên sông
Túy-Loan"*"hơi thở chiều nhạt bóng
cầm tay chờ mong
mộ đã cũ
người đi quên ngày tháng.
Những chuyến xe qua "đồi 10" lặng lẽ
mắt ai đăm nhìn thoáng buồn
những hàng cây xanh màu cỏ úa
bỏ lại bên đường những đau thương.
(Đi về một mình xa xăm
bạc lòng tình người ở lại
người đàn bà ngày cũ
đau đáu chiếc khăn tang
soi mặt kẽm gai mùa thu đã rủ).
Lên đồi em đứng lại
đưa tay hái lá tình-nhân
bao năm người mê ngủ
khuôn mặt quá dịu dàng.
3-
Đã lâu về "đồi 10"
đêm thả quanh thuốc độc
chiến-tranh và nỗi buồn hoang trôi
tim người vở toang trái phá.
Nhớ diết-da thời mới lớn
ngày ai đưa tiễn một-người-đi
hằn sâu thép lạnh ngoài mặt trận
que diêm ngủ thiếp đêm ngày.
Những chiếc lá trên đồi
người đàn bà xưa quay trở lại
ơi người tình ngày ấy ơi!
đã chết vội vàng đóa hoa chín tái.
Giấc mơ đu dây quan-hà-rưng-lạnh
đêm ở lại "đồi 10"
dấu hoài trong tim ảo-ảnh
(bóng tình-nhân)
con thuyền và dòng sông chết trôi.
Xa người
sáng mai đọc kinh cầu Chúa
bỏ lại và về thôi
chỉ còn trơ vơ những nấm mộ.

                              Huy Uyên

(*) Huyện lỵ & thị-trấn ở Quảng-Nam

READ MORE - CHÙM THƠ HUY UYÊN