CHÀO MỪNG GIÁNG SINH VÀ NĂM MỚI 2015

Thursday, December 18, 2014

ỨNG TÁC VỚI MÙA XUÂN - thơ Lưu Thế Quyền

Tác giả Lưu Thế Quyền



Ứng tác với mùa xuân

Đường đời bao lúc đi qua
Mùa đông đã lắm, mùa thu càng nhiều
Mà xuân có được bao nhiêu
Cúi xin dâng hết tình yêu với nàng

Đời anh thôi đã bẽ bàng
Nát ơi theo những cũ càng tháng năm
Lệ tràn qua với lạnh căm
Dòng người tấp nập. Tôi thăm mộ chiều

Mộ chiều cuốn cả đông phiêu
Lạnh hờn ai biết gió liều sang xuân
Xuân ân ái hoá muôn phần
Đón bao giá rét. Bần thần nắng thoa

Ửng hồng ai tới thướt tha
Áo hoa giăng kín đường qua, lối về
Ngoằn ngoèo ơi khúc triền đê
Có đôi trai gái mải mê nói cười.

Lưu Thế Quyền
Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc
ĐC: Khu doanh nghiệp Thanh Lãng - Bình Xuyên - Vĩnh Phúc
READ MORE - ỨNG TÁC VỚI MÙA XUÂN - thơ Lưu Thế Quyền

Thơ Huy Uyên: GIÁNG SINH Ở ĐÀ NẴNG, GỞI TÌNH VỀ XÓM ĐẠO




Giáng-sinh ở Đà-Nẵng

Giọng hát Celtic lạnh mùa giáng-sinh
cô đơn vây quanh hang đá
mặt trời, màu mây, những con đường
trước nhà thờ hàng cây khô trụi lá .

Tôi níu trong tôi hiu quạnh
vòng hoa Noel tối màu đỏ xanh
chùm nến trắng phả hơi thở lạnh
nhà hàng xóm trên đồi
tiếng kinh thì thầm .

Ngoài đường đã vắng cô bé bán diêm
giáo đường những ngọn đèn mờ tỏ
em còn tôi không, đêm giáng-sinh
xót xa trong nhau nổi nhớ .

Ngày lên xanh hơi thở Chúa
gió về thả lạnh tháng mười hai
mắt  người đọng sầu bên bếp lửa
Đà-Nẳng đêm nay nhớ ai .

Những ngôi sao trên nóc nhà thờ
ngoài sân cặp tình-nhân quấn quít
lần cuối hôn nhau "mùa vọng" về
em đi xa tôi coi như đã mất .

Tình em, lời kinh của Chúa
giá lạnh đâu đây choàng cơn mưa
những chiếc lá chạy dài theo hè phố
long lanh mắt ai như Huyền xưa .

Giọng ca nhỏ từ phía nhà thờ
đêm thánh ca Noel buồn quá đổi
gởi tới em tôi những ngày tháng tương tư
còn lại nụ cười phai sau tan lể .

Xa rồi tháng ngày bên xóm đạo
nữa đêm ai giọng nhỏ tiêng cầu kinh
lạy Chúa ba ngôi trên trần thế
vắng em tôi băng giá đời tim .




Gởi tình về xóm Đạo

Em dấu trong tôi sầu-vạn-cổ
đường về xa lắm Hạnh-Hoa (*)thôn
thập tự giáo đường chiều chao gió
Noel này có lẽ em buồn .

Bỏ Quảng-trị đi bao nhiêu năm
bão-tố đời, nơi xa em có biết
lạnh đêm đông ngày giáng-sinh
ba-ngôi cao xa rồi biền biệt
nước mắt chạy quanh ngày Chúa bỏ mình .

Phố cũ Trí-Bưu đèn chiếc bóng
đường về heo hút lối Hạnh-Hoa
bến sông quê dòng nước đã sang mùa
lạy Chúa Jesus,lời kinh em cầu nguyện .

Kể từ xa nhau mùa thánh-vọng
Tôi cầm trong tay kỹ-niệm ra đi
người đàn ông xưa trái tim của rắn
ngọn nến Noel đốt cháy tuổi xuân thì .

Quán trọ đông gió lạnh thổi về
tội tim ai treo đầu ghềnh đá sỏi
cả đời tôi một thuở hoang mê
quỳ bên em lòng đầy lỗi tội .

Bethlehem(**) chuyến xe đêm thánh lễ
còn lại chăng bước tuần-lộc bơ vơ
tuyết lạ lẫm trắng, tình em nhỏ bé
Chúa thương chúng con chưa tới bến bờ .

Hạnh-phúc ba ngôi,trần gian Amen
hai mắt long lanh đêm nhung nhớ
đi qua sân quạnh vắng giáo-đường
gởi về Hạnh-Hoa tình người xưa cũ .

Trên cao trời sao nhấp nháy
nữa đêm giáng-sinh em khấn nguyện , cầu
Hạnh-Hoa-thôn mùa này vào hội
tan lễ rồi ta có mãi bên nhau ...


(*)  Tên ngôi nhà thờ nổi tiếng ở Quảng-trị
(**)Ở phía Nam Jerusalem, Israel

Huy Uyên
(2014)
READ MORE - Thơ Huy Uyên: GIÁNG SINH Ở ĐÀ NẴNG, GỞI TÌNH VỀ XÓM ĐẠO

TÌNH KHÚC TÂY NGUYÊN - thơ Trúc Thanh Tâm




TÌNH KHÚC TÂY NGUYÊN

Đêm vui kéo ngọn rượu cần
Không gian khép nép một vầng trăng non
Núi rừng bàng bạc trong sương
Tiếng chim gọi bạn kéo hồn thời gian

Suối mơ róc rách nhịp đàn
Hoa cười trong nắng bản làng hồi sinh
Cồng chiêng mây gió ru tình
Nhà rông đâu đó còn hình bóng xưa

Đời còn bao cuộc nắng mưa
Tình nhau dỗ ngọt mấy mùa nhớ nhung
Nụ cười sơn nữ bao dung
Nên ta từ đó nợ nần cùng em !

Ban Mê Thuột, 1980
TRÚC THANH TÂM
READ MORE - TÌNH KHÚC TÂY NGUYÊN - thơ Trúc Thanh Tâm

VỀ NGUỒN - thơ Hồng Tâm

Hồng Tâm


 Về Nguồn

Chân vừa chạm đất nơi đây
Câu Thơ tôi viết là điều tôi đã nói
Phải! Bến Cầu thay màu áo mới
Cho tôi giây phút bồi hồi

Bến Cầu quê tôi!
Giờ cây trái sinh sôi
Cánh đồng vàng gọi mùa no ấm
Tôi thương những con người " chân bùn tay lấm"
Bốn mùa vất vả mưu sinh

Những con người đi ra từ chiến tranh
Một thời , họ đào hầm địa đạo
Nay mọi người trở thành nhà giáo
Gieo hạt giống nhân tài - thế hệ tương lai

Trở về nguồn thăm những hàng cây
Thăm địa đạo chiến trường xưa oanh liệt
Theo trang sử nghìn năm nước Việt
Máu cha ông đỏ thắm quê hương

Chợt thoáng buồn!
Vì nợ với người xưa
Không trả ơn nổi nên lòng day dứt
Làm sao tôi trả hết công lao những người đã khuất
Chỉ có thơ - tôi viết ca ngợi người

Cảm ơn! Quê hương tái sinh tôi
Theo dấu người xưa
Nối tiếp hành trình dang dỡ
Bốn nghìn năm biết bao gian khổ
Thế hệ sau- thấm nhuần lời nói của cha ông

Bến Cầu hôm nay, có chút nắng hồng
Đầy sức sống
Những công trình lớn
Mặt trời mới, vùng quê biên giới
Vươn mình
Sánh vai cường quốc năm châu

Hồng Tâm 
( Lý Thị Minh Tâm- Bến Cầu - Tây Ninh )
Điện thoại:01285990757
Email: lyminhly456@gmail.com
READ MORE - VỀ NGUỒN - thơ Hồng Tâm

NGÀY GIỖ MẸ - thơ Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn)

















Ngày Giỗ Mẹ

Một bình hoa và một nén nhang thơm
Con niệm Phật kính dâng ngày giỗ mẹ
Giữ chính tâm để nhiệm mầu nghi lễ
Con nguyện cầu linh hồn mẹ siêu thăng

Con không muốn mẹ kết duyên ngạ quỷ
Nên chẳng mâm cao cỗ lớn đua đòi
Ngày giỗ mẹ đâu phải ngày hoan hỉ
Nên chẳng tiệc tùng rượu thịt đãi bôi

Con thương nhớ làng quê mình ngoài ấy
Tiếng chuông chùa đi biệt thuở chiến tranh
Mẹ tất bật với tháng năm cơm áo
Chánh Đạo chưa nghe để kết duyên lành!

Con trôi nổi … gặp nẻo về bến giác
Thương bao linh hồn còn mãi lênh đênh
(Sống tà kiến gieo nhân vào cõi khổ
Giữa vô minh say đắm mãi vô minh)...

Một bình hoa và một nén nhang thơm
Con niệm Phật xin nguyện cầu cho mẹ
Giữ thiện tâm để nhiệm mầu nghi lễ
Chúc mẹ an lành - tâm thức thăng hoa.

Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn)
READ MORE - NGÀY GIỖ MẸ - thơ Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn)

TIM NỞ MẶT TRỜI - thơ Hạnh Phương





READ MORE - TIM NỞ MẶT TRỜI - thơ Hạnh Phương

CẢM XÚC - Thơ Phan Thạch Nhân






 CẢM XÚC

Mùa Giáng Sinh rong chơi miền Xuyên Mộc BR-VT.
Nhớ anh Hoàng Xuân Diệu (nhà thơ Kung Tần).

Một chút bâng khuâng - dừng chân - quán vắng
Chiều đông về nghe thấm lạnh hai vai
Nhớ bạn xưa ta vòng qua thị trấn
Sông Ray chiều lam khói vướng chân ai.

Anh bây giờ đã về qua đất mẹ
Quên hết trần gian ngày tháng u buồn
Bài thơ xưa đọc xong anh lặng lẽ
Ngắm nắng tàn vàng vọt đón hoàng hôn.

Ly rượu nhỏ chiều nay nghe đăng đắng
Một đời người đơn giản quá đi thôi
Phủi nhẹ nhàng - mà chỉ còn tay trắng
Rủ bụi trần - còn lại kiếp đơn côi.

                          Tháng 12/2014
                        Phan Thạch Nhân


READ MORE - CẢM XÚC - Thơ Phan Thạch Nhân

ĐÔNG VỀ - thơ Tuyền Linh

 
Tác giả Tuyền Linh


Đông về
   Nén nhang cho hiền thê


Đông về mãi tận non xanh
Sáng nay thức dậy thấy cành trơ phơi
Con chim bay lượn trên trời
Cũng chao đảo cánh muốn rơi lộn vòng
Đông về nhuộm trắng đầu non
Sương sa tuyết phủ cõi hồn ngẩn ngơ
Bây giờ cho đến bao giờ
Chữ duyên chữ nợ thôi mờ mắt trông
Đông về tuyết chắn nối vòng
Rồi tan như chuyện có không nhân tình
Tại sao bóng chẳng theo hình
Để cho ai mãi khóc tình Tố Như ? (*)
Đông về gió thổi mây đưa
Ôi, sao thương quá giọt mưa trong lòng !
Rơi hoài vào chốn hư không
Hỏi còn gì nữa trên nhân thế nầy
Đông về nhạn lạc xa bầy
Hỡi ơi, nhân ảnh mây bay cuối trời !
Trăm năm người mãi xa người
Nhìn cơn bấc thổi, khóc cười với ai ? 
Tuyền Linh
READ MORE - ĐÔNG VỀ - thơ Tuyền Linh

MÙA GIÁNG SINH BUỒN - thơ Nguyễn An Bình

Tác giả Nguyễn An Bình


MÙA GIÁNG SINH BUỒN

Về ngang qua giáo đường
Tiếng chim gù tháp chuông
Chúa còn trên thập tự
Lòng mang nhiều vết thương.

Lời kinh cầu ai nguyện
Chờ giờ phút hiển linh
Tin vui theo lời giảng
Cho tình yêu phục sinh.

Tôi con chiên lạc đàn
Quên hết bao điều răn
Thánh kinh bay đâu mất
Nào dung kẻ tà tâm.

Tôi chưa từng xưng tội
Nên lời tình dễ thương
Trong trái tim lầm lỗi
Khó qua cửa thiên đường.

Về ngang qua xóm đạo
Một mùa giáng sinh buồn
Chúa cười trên thánh giá
Em thành gió ngàn phương.

Giáng Sinh 1976-2014
NGUYỄN AN BÌNH

READ MORE - MÙA GIÁNG SINH BUỒN - thơ Nguyễn An Bình

TIỄN BẠN NGHỈ HƯU - thơ Trần Ngọc Hưởng



Tác giả Trần Ngọc Hưởng


Tiễn bạn nghỉ hưu



Ngày mai bạn nghỉ hưu rồi,

Nâng ly rượu tiễn biết vui hay buồn.

Đò chiều cập bến, neo buông,

Hết rồi sóng gió bốn phương hải hồ.



Ngỡ vừa chợp mắt nằm mơ,

Một đời trải mấy ván cờ thắng thua.

Từ thanh xuân đến già nua,

Tóc râu phờ phạc tiếc mùa trẻ trai.



Đâu rồi quyền bính một tay,

Bốn bên vâng dạ trong ngoài xun xoe.

Bây giờ nói chẳng ai nghe,

Một thời đưa đón ngựa xe… hết rồi.



Cũng đừng sửng sốt bạn ơi,

Bạn bè xưa chẳng tới lui nữa rồi.

Ai còn san sớt buồn vui,

Buổi này mới thật là người tương thân.



Cõng ta qua thác trầm luân,

Cỏ cây mây gió bỗng gần… hơn xưa.

Tiệc tàn bạn cạn ly chưa?

Ngoảnh nhìn đời đã ngã mùa sắc không



Trần Ngọc Hưởng
READ MORE - TIỄN BẠN NGHỈ HƯU - thơ Trần Ngọc Hưởng

Thơ Trúc Thanh Tâm: MỜI NHAU CẠN HẾT XUÂN ĐỜI





MỜI NHAU CẠN HẾT XUÂN ĐỜI

Con én ngậm cành hương sắc
Thả mùa yêu xuống trần gian
Gió hôn lên bờ môi mọng
Ta say sưa phố hoa vàng

Tóc em xanh trời mơ ước
Tình ơi đời đẹp vô cùng
Nắng non tơ thời con gái
Đầy vườn lá lật nhớ mong

Chạnh lòng khi nghe điệu lý
Thương người bỏ xứ xa quê
Nhớ mẹ canh nồi bánh tét
Đãi con cháu tết tụ về

Giao thừa pháo hoa rực sáng
Cùng em hái lộc đầu năm
Thời gian quay vòng nỗi nhớ
Cho đời còn những tri âm

Tình xa hương thầm ngày cũ
Yêu người đâu dễ gì quên
Em qua đời ta một thuở
Vậy mà còn dấu trong tim

Thắm thoát tóc ta đã bạc
Mùa xuân bốn chục năm trôi
Tiếng cười đầy trong ly rượu
Mời nhau cạn hết xuân đời !

Tháng chạp 2014
TRÚC THANH TÂM
( Châu Đốc )
READ MORE - Thơ Trúc Thanh Tâm: MỜI NHAU CẠN HẾT XUÂN ĐỜI

VĂN TẾ VUA HÀM NGHI - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba


Vua Hàm Nghi (1871-1943)


Văn tế vua Hàm Nghi
(Linh hồn phong trào Cần vương kháng Pháp)

 
Hỡi ơi,

Đất khách thân lưu.
Quê nhà hồn mộng.
Vua một nước lưu đày vì nước, khổ ấy là vinh,
Người hai quê khoắc khoải nhớ quê, chết mà như sống.
Việc bôn tẩu mưu đồ diệt tặc, dân còn ghi cốt khắc tâm minh,
Chuyện bại hư hữu chí vô thời, sử đã chép công bình chính thống.

Thế mới hay,

Đạo nghĩa(1) vốn trường tồn,
Giang sơn là chí trọng.
Suốt muôn đời, gương ái quốc treo cao,
Khắp mọi chốn, tiếng ưu dân truyền rộng.

Nhớ linh xưa.

Bẩm tính thông minh
Giống dòng vương tộc.
Đến cái lúc hoàng triều suy nhược, Nam kỳ mất rồi Bắc kỳ(2) cũng mất, nhường sông cắt đất đã hung.
Gặp phải thời bạch quỉ xâm lăng, chiến phí nhiều thêm bồi phí quá nhiều, đòi nợ réo tiền quá thúc.
Bóng triều ca tà xế tựa chiều, tứ nguyệt những tam vương(3)
Mối xa thư vùi rối như tơ, nhất giang mà lưỡng quốc.
Giang sơn binh cách(4), tang tóc thương vong tràn ngập, quân dân xương máu tơi bời,
Điện miếu đảo khuynh, đổi thay phế truất liên hồi, quan tướng kế mưu hiểm hóc(5).
Lên ngôi báu tuổi vừa mới lớn(6), thấy cổn bào mà sợ, từ mẫu ngóng theo,
Cầm quyền uy tóc vẫn măng tơ, lên bảo điện còn run, thị thần dẫn bước.
Điện Thái Hoà rộn gót giày săng đá(7), nghĩ tới thêm đau,
Cửa Ngọ Môn vang giọng nói lang sa(8), nghe mà nổ óc.
Nghi lễ quàng xiên,
Thánh uy meo mốc.

Than ôi,

Trong đã không yên,
Ngoài thì quá bức.
Đờ Cuốc-Xy(9) ngông nghênh doạ nạt, lâu la đông đảo, ta cũng nao lòng,
Hoàng thái hậu(10) mềm dẻo nhún nhường, lễ vật đàng hoàng, chúng càng cậy sức.
Quan Quận cam tâm sang ra mắt, giặc lại làm kiêu,
Quan Tướng phẫn chí thác nằm nhà, mình lo lựa lúc.
Chốn Tân Sở, sơn phòng đã lập, gạo tiền đồn luỹ sẵn sàng
Nơi Kinh Thành, cai đội đang chờ, gươm giáo đao khiên túc trực.
Nhìn dân lành dầu sôi lửa bỏng, lòng xót miên man.
Thấy bọn ác cổ cỡi đầu đè, máu hờn sôi sục.
Chết vì đất nước cũng đành.
Sống với địch thù quá cực.
Đêm Hăm hai, quân ta xuất trận, Toà Khâm Mang Cá lửa cháy pháo vang,
Rạng Hai ba, bọn chúng phản công, Thượng Tứ Lương Y đạn vèo lê thúc.
Dân hoảng hốt đổ xô chạy loạn, lớp chết lớp thương
Lính kiên gan ào ạt diệt thù, đứa rơi đứa gục.
Thương ôi! Gậy gộc chống ngăn đạn sắt, kẻ lủng bụng lòi gan,
Giận thật! Ghe thuyền đánh với tàu đồng, người tan thây vỡ ngực.

Thôi thôi,

Hoàng thành bái biệt, trí thơ ngây nào hiểu được quân cơ(11),
Hiểm địa tị thân, lòng khôn lớn dần nhìn ra thế cuộc.
Cần vương ban chiếu(12), kêu muôn dân góp sức diệt sài lang,
Cứu quốc truyền văn, gọi trăm xứ vùng lên tru xâm lược.
Sơn lam chướng khí, Quảng Trị rồi Quảng Bình Hà Tĩnh, lao đao thân ngọc hao mòn,
Duyên hải viễn biên, Bình Định đến Thanh Hoá Hưng Yên, chốn chốn lòng son sáng rực.
Ngược Bắc có Đình Phùng, Thiện Thuật, … máu thằng Tây đẫm giáo dân lành,
Xuôi Nam thì Xuân Thưởng, Trung Đình(13) gươm quân Việt bêu đầu bọn ác
Khi Ấu Sơn khi Tuyên Hoá, chân ngày đi quen ghềnh thác rú rừng,
Lúc Tân Sở lúc Hương Khê(14), thân đêm ngủ bạn muỗi mòng sên vắt.
Dân vì nước, gà trâu heo lúa, bán sạch mà mua súng đánh Tây
Vua vì dân, đèo ải buôn mường, len khắp cả giương cờ phá tặc.
Sốt run cầm cập, chí đâu sờn bởi chính nghĩa nấu nung,
Rét lạnh rẩy run, lòng vẫn ấm vì nhân dân đùm bọc.

Thương ơi,

Lương cùng đạn kiệt, quan Tướng đành cầu viện lân bang(15),
Thế lẻ thân cô, nhà vua bị gian thần phản trắc(16).
Sa vào tay bạch quỉ vẫn bình tâm thanh thản(17), long uy xui lũ cướp kính vì,
Chết dưới kiếm phản đồ mà bất khuất hiên ngang, hộ giá(18) để đời sau ngưỡng phục.
Mẹ đau cũng mặc(19), nhà tan nước đổ, tâm ý nào thăm viếng dưới trên;
Thầy đến phải chào(20), giấy rách lề nguyên, lễ nghĩa vẫn giữ gìn sau trước.
Cờ quân địch tựa như muối xát, mỉa mai chi người đã thất cơ.
Còi tàu binh nào khác ớt hun, dày vò mãi kẻ đà bại cuộc.
Tủi thân đón cuộc lưu đày,
Xa xót đi về đảo giặc.

Thảm ơi,

Nghìn trùng thương đất mẹ, từ nay côi cút xứ người,
Vạn lý nhớ quê nhà, e trọn sầu bi cõi tục.
Ngàn Thông(21) đó lầu cao gió thổi, vui chi đâu lòng nghẹn mối căm hờn,
“Chiều tà”(22) đây góc tạm đời thừa, xót biết mấy dân còn nơi cũi ngục.
Giữ trang phục, luôn dài đen luôn búi tó(23), nào có quên thân kiếp sa chân.
Giết thời gian, khi khắc tượng khi vẽ tranh, cố tìm nguôi nỗi buồn mất nước.
May mắn thật, nên chồng nên vợ, trai gái nối dõi giòng(24).
Hiếu nghĩa sao, cũng bánh cũng hương, cháu con thờ họ tộc(25).
Năm mươi sáu năm lưu đày vong quốc, tha phương nặng trĩu gánh sầu,
Bảy mươi tư tuổi thọ mãn phước phần(26), tiên cảnh nhẹ nương cánh hạc
Đất lạ mồ xa gởi xác, lênh đênh An Rế(27) lại Lang Sa.
Làng yêu quê mến du hồn, phiêu bạt Cấm Thành(28) qua Thương Bạc.

Nay,

Bùi ngùi bao, tưởng nhớ bậc minh vương.
Cay đắng lắm, xót thương người chính trực
Trời xa mộ lạnh, Tho-nac(29) ơi, xin ấp ôm tàn cốt anh hùng
Đất mẹ quê xưa, Huế đô này, tưởng nhớ mãi uy linh thống khốc.
Hoa hương bày biện, truy niệm ân thâm
Bánh trái cúng dâng, tụng xưng thạnh đức.
Hồn hỡi linh thiêng,
Xin về thụ lộc.

Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Chú thích:

1.      Đạo làm vua phải lo cho dân, nghĩa làm dân phải lo bảo vệ đất nước (Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách).
2.      Theo hiệp ước Patenôtre (Giáp Thân, 1884), triều đình Huế công nhận sự bảo hộ của Pháp ở cả Bắc kỳ và Trung kỳ. Nam kỳ thì đã cát cho Pháp, triều đình Huế chỉ là một hư vị.
3.      Trong vòng bốn tháng, ba vị vua (Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc) đã liên tiếp bị phế truất trước khi vua Hàm Nghi lên ngôi. Pháp đặt Toà Khâm sứ ở hữu ngạn sông Hương chính thức bảo hộ Nam triều theo hiệp ước Giáp Thân. Hồi ấy truyền tụng câu đối “Nhất giang lưỡng quốc nan phân Thuyết/ Tứ nguyệt tam vương triệu bất Tường.
4.      Ở Nam kỳ cũng như Bắc kỳ các phong trào kháng Pháp nổ ra khắp nơi gây nhiều tổn thất cho giặc Pháp.
5.      Hai phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường (Quan Quận) và Tôn Thất Thuyết (Quan Tướng) đã ám hại nhiều người như vua Dục Đức, vua Hiệp Hoà, vua Kiến Phúc, Phụ chánh Trần Tiễn Thành, Hồng Sâm, Hồng Phì,.. vì họ không theo chủ trương đánh Pháp của hai ông này.
6.      Vua Hàm Nghi (1871 - 1944) lên ngôi mới 13 tuổi. Khi có người đưa áo mão đến ngài không dám nhận, và khi bước lên ngai vàng phải có thị thần dìu đi.
7.      Đại tá Guerrier và Khâm sứ Rheinart vào điện Thái Hoà làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi ngày 27.6 năm Giáp Thân (1884).
8.      Tháng 4 năm Ất Dậu, Thống tướng De Courcy sang Bắc Kỳ. Tháng 5 y mang 1024 quân đi tàu đến Huế, đòi hai quan phụ chánh Tường và Thuyết sang Toà Khâm trình diện. Giày da của lính Pháp thường được gọi là giày săng đá (soldat: người lính)
9.      France (nước Pháp) được âm ra tiếng Việt là Phú-lang-sa, hay còn gọi tắt là Lang-sa.
10. Hoàng thái hậu Từ Dũ lệnh mang lễ sang tặng Thống tướng De Courcy để mua chuộc lòng y, nhưng y không nhận.
11.  Theo Nguyễn Quang Trung Tiến trong bài “Vị thiếu niên trưởng thành từ niên thiếu” đăng ở Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ số 01 (7), 1995 thì khi hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tâu vua lánh đi tị nạn, vua Hàm Nghi bảo “ Ta có đánh nhau với ai mô mà phải chạy.”
12.  Ra Tân Sở, ông Thuyết xin lệnh vua ra Hịch Cần Vương, rồi sau đó ban Dụ Cần Vương kêu gọi sĩ phu và dân chúng nổi lên đánh Pháp, giành độc lập Tổ quốc.
13.  Phong trào Cần Vương sôi sục nổ ra khắp nước, tiêu biểu như Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên, Phan đình Phùng ở Hà Tĩnh, Mai Xuân Thưởng ở Bình Định, Lê Trung Đình ở Quảng Ngãi,...
14.  Tân Sở (Quảng Trị), Ấu Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh), Tuyên Hoá (Quảng Bình) là những nơi vua Hàm Nghi đã ở lại trước khi bị bắt.
15. Phụ chánh Tôn Thất Thuyết đã để vua ở lại Hà Tĩnh, còn mình đi Quảng Châu cùng Đề đốc Lê Trực, Phạm Tuân cầu viện Trung Hoa.
16.  Suất đội Nguyễn Đình Tín dụ được Trương Quang Ngọc đầu thú, rồi dẫn Pháp đến vây bắt vua Hàm Nghi khuya 26 tháng 9  Mậu Tý (1888).
17.  Khi bị bắt, nhà vua bình thản chỉ mặt Ngọc quát “Thà mi giết ta đi còn hơn mang ta ra nộp cho Tây.”
18.  Con trai của ông Thuyết, Tôn Thất Thiệp, lúc ấy đang hộ vệ nhà vua bị đâm chết. Tôn Thất Đạm nghe tin cũng treo cổ tự ải.
19.  Khâm sứ Rheinart báo cho vua biết là Thái hậu đang ốm nặng, nếu nhà vua muốn thăm hỏi thì sẽ cho rước về gặp mặt.  Vua Hàm Nghi đáp, “Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ gì đến cha mẹ anh em nữa.”
20.  Dù vua Hàm Nghi làm ngơ, giả như là không phải là vua khiến giặc Pháp hoài nghi không biết có phải bắt nhầm người hay không. Tuy vậy, khi thấy thầy giáo cũ là Nguyễn Nhuận đến xem, Ngài đứng dậy vái chào khiến đã lộ ra chân tướng.
21.  Pháp bố trí nhà vua ở tại biệt thự Ngàn Thông (Villa des Pins) trong thủ đô Alger, sau nhà vua cải tên thành biệt thự Gia Long.
22.  “Chiều tà” là một bức tranh nổi tiếng của vua Hàm Nghi. Ngài có thiên khiếu về mỹ thuật, điêu khắc và đã vẽ nhiều bức tranh rất đẹp theo trường phái Gauguin. Hàm ý của bức tranh “Chiều tà” có lẽ là cuộc đời êm ả về chiều của một kiếp người bất hạnh chăng?
23.  Ở Algérie, nhà vua luôn mặc y phục Việt (áo dài đen, khăn bịt đầu), tóc búi tó, ăn cơm Việt. Dân bản xứ gọi Ngài là ông Hoàng An Nam (Prince d’Annam). Ngài luôn luôn giữ tư cách một nhà vua yêu nước và bất khuất nên chính quyền thực dân Pháp tại Alger tỏ ra rất kính trọng Ngài.
24.  Nhà vua lấy vợ người Pháp là bà Marcelle Aimée Léonie Laloe và có 3 người con: 02 gái và 01 trai. Đó là công chúa Như Mai, công chúa Như Lý và hoàng tử Minh Đức.
25. Nhà vua cho xây Gia Long các 2 tầng, có bộ mái tựa như Phu Văn lâu để thờ vua Gia Long và liệt tổ liệt tông. Ngài tổ chức cúng bái tổ tiên hàng năm tại đây.
26.  Trên mộ Ngài có ghi 1871 – 1944, tức nhà vua thọ 74 tuổi ta, và đã ở Algérie tổng cộng 56 năm (1888 - 1944)
27. Ghi âm từ Alger, thủ đô của Algérie.
28.  Tử Cấm thành.
29.  Nghĩa trang ở làng Thonac, Dordogne thuộc Pháp nơi hiện nay có mộ vua Hàm Nghi, được cải táng từ thủ đô Alger sang. Vợ con Ngài (ngoại trừ công chúa Như Lý) cũng chôn cất tại đây.



  


(Trích từ tập sách 
TÂM THÀNH LỄ BẠC  
Cáo Phú Hịch Văn Tế Văn Bia, 
tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, 
tác giả gởi tặng.)
READ MORE - VĂN TẾ VUA HÀM NGHI - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba