Chúc Mừng Năm Mới

Văn Nghệ Quảng Trị kính chúc quý nhà thơ, nhà văn cọng tác viên và quý bạn đọc Năm mới 2017 Đinh Dậu VẠN SỰ AN LÀNH

Sunday, May 21, 2017

Hoa vườn nhà - Ảnh của Chu Vương Miện


 


 


 


 


 

READ MORE - Hoa vườn nhà - Ảnh của Chu Vương Miện

NGƯNG TỶ DỤ MỘT MÙA XA / BÀI THƠ EM ĐÃ YÊU NGƯỜI BIẾT BAO - Thơ Ngưng Thu

Tác giả Ngưng Thu



NGƯNG TỶ DỤ MỘT MÙA XA

Lung linh một dải cong bảy sắc
trời đan mưa nắng giữa lưng chiều
nụ mầm thổn thức bao mùa đợi
vươn dậy hình hài nức nở yêu.

Anh về nghe giữa thiên hà mỏng
ngàn sao chăm chút những ngàn sao
Và em một thoáng môi hôn nhẹ
mê dại anh chừ đến mãi sau.

Thảng thốt mùa xa lời tỷ dụ…
ta mặc đời cho rong rêu dày
dẫu có ngàn muôn lần tỷ dụ
nghìn năm sa mạc thổi không bay.

Vũ điệu thời gian chừng xoay tít
mơ hồ em lạc phía trăng rơi
mây bay về núi mây vờn trắng
nhìn bóng tà dương bỗng nghẹn lời.

NGƯNG THU


BÀI THƠ EM ĐÃ YÊU NGƯỜI BIẾT BAO

Hãy kể cho em về đời anh
về những chuyện tình buồn mà anh từng kể
em vẫn muốn cứ nghe hoài như thế
về một đời người
về những thăng trầm và cả những chông gai.

Em muốn hiểu về anh nhiều như những sớm mai
mong cho bước chân đêm lùi dần nhường cho ngày nắng sáng
cho khúc tình ca ngân lên lời lãng mạn
em muốn được nói tiếng yêu người cho lòng mình thôi thổn thức con tim.

Đường anh đi bao lối gập gềnh
bao phong trần gió bụi
hãy kể em nghe như lời tự tình sông núi
anh dặm trường bao nỗi gian truân.

Cuộc đời người có bao giờ là mặt hồ phăng phắc lặng im
anh từng vác đời mình ngang qua mấy lần xanh mơ ước
mong tìm được chút hương đời ươm mầm cho hạnh phúc
anh hãy kể về anh
về những câu chuyện đời có thực.

Xin được chia sẻ cùng người
những nỗi buồn
những đau khổ lẫn sướng vui
câu ca dao ngày xưa mẹ hát:
“Thương ai thương cả đường đi lối về”

Yêu người, cho dẫu lê thê cuộc chờ
anh hãy kể câu chuyện về đời mình cho em dệt thành thơ
là bài thơ: “Em đã yêu người biết bao”


Ngưng Thu
 <nhuhaphung1968@gmail.com>

READ MORE - NGƯNG TỶ DỤ MỘT MÙA XA / BÀI THƠ EM ĐÃ YÊU NGƯỜI BIẾT BAO - Thơ Ngưng Thu

NHƯNG YÊU THƯƠNG THÌ CHỈ MỘT THÔI MÀ! - Thơ Châu Thanh Thủy





NHƯNG YÊU THƯƠNG 
                    THÌ CHỈ MỘT THÔI MÀ!

Đừng hốt hoảng khi tôi đăng ảnh nhé
Anh hay ai cũng chỉ vậy thôi mà
Trên mặt sóng, nó chỉ là hư ảo
Bởi đường đời ta gặp gỡ là bao?

Cũng có người để lại những chênh chao
Tôi lưu giữ và ước ao gặp lại
Có những người là cuối đường xa mãi
Cả tôi - anh không ngoảnh lại bao giờ!

Có những người chỉ là phút tình cờ
Ngồi sát lại để ghi vài tấm ảnh
Có những người lúc tôi đang ngồi cạnh
Ai bấm luôn, tôi cũng bị bất ngờ...

Có những người đi vào cả trang thơ
Để khắc khoải những mộng mơ kỉ niệm
Người cùng chụp chẳng hơi đâu mà đếm
Nhưng yêu thương thì chỉ một thôi mà! 

                           Châu Thanh Thủy
                               20 - 5 - 2017

READ MORE - NHƯNG YÊU THƯƠNG THÌ CHỈ MỘT THÔI MÀ! - Thơ Châu Thanh Thủy

Saturday, May 20, 2017

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỤM TỪ “THANH MAI TRÚC MÔ; DỊCH THƠ “TRƯỜNG CAN HÀNH” CỦA LÝ BẠCH - Ngô Văn Ánh



                Tác giả Ngô Văn Ánh


NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỤM TỪ “THANH MAI TRÚC MÔ; DỊCH THƠ “TRƯỜNG CAN HÀNH” CỦA LÝ BẠCH
                                         
     Là giáo viên đứng lớp giảng dạy hơn 35 năm với 3 môn tạm gọi là sở trường là Ngữ Văn, Lịch Sử và Địa lý thế mà chỉ một cụm từ thông dụng thường được nghe nói hằng ngày đến lúc sắp nghỉ hưu vẫn còn chưa biết! Dù rằng kiến thức nhân loại là vô tận, sự hiểu biết của mỗi người chỉ là hạt cát trong sa mạc mênh mông nhưng tôi vẫn thấy xấu hổ cho chính mình! Thành thật mà nói, cho đến bây giờ tôi mới hiểu được nghĩa và xuất xứ của cụm từ “Thanh mai trúc mã”. Thì ra “Thanh mai trúc mã” là một điển tích lấy từ trong bài thơ Trường Can Hành của thi tiên Lý Bạch đời nhà Đường bên Trung Quốc. Tôi xin chép ra đây bài thơ phiên âm Hán-Việt của Lý Bạch để chúng ta cùng thưởng lãm.

          TRƯỜNG CAN HÀNH
                          
          Thiếp phát sơ phú ngạch
          Chiết hoa môn tiền kịch
          Lang kỵ trúc mã lai
          Nhiễu sàng lộng thanh mai
          Đồng cư Trường Can lý
          Lưỡng tiểu vô hiềm sai.
          Thập tứ vi quân phụ
          Tu nhan vị thường khai
          Đê đầu hướng ám bích
          Thiên hoán bất nhất hồi.
          Thập ngũ thủy triển mi
          Nguyện đồng trần dữ hối
          Thường tồn bão trụ tín
          Khởi thướng Vọng phu đài.
          Thập lục quân viễn hành
          Cù Đường, Diễm Dự đôi
          Ngũ nguyệt bất khả xúc
          Viên thanh thiên thượng ai.
          Môn tiền trì hành tích
          Nhất nhất sinh lục đài
          Đài thâm bất năng tảo
          Lạc diệp thu phong tảo.
          Bát nguyệt hồ điệp hoàng
          Song phi tây viên thảo
          Cảm thử thương thiếp tâm
          Tọa sầu hồng nhan lão.
          Tảo vãn há Tam Ba
          Dự tương như báo gia
          Tương nghênh bất đạo viễn
          Trực chí Trường Phong Sa.

                                     Lý Bạch

       Đây là bài thơ ngũ ngôn theo thể Cổ Phong (thể thơ cổ có trước thể thơ Đường) làm theo điệu hát dân gian của người Trung Quốc xưa ( Như ở Việt Nam ta có đồng dao, dân ca…). Bài Trường Can hành kể về cuộc tình của đôi trai gái ở xóm Trường Can. Tạm dịch như sau: Thời nhỏ đôi trẻ chơi thân với nhau rất hồn nhiên. Năm cô gái 14 tuổi thì họ thành vợ chồng.  Lúc về làm vợ, cô gái còn xấu hổ thường quay mặt vào tường. Mười lăm tuổi, cô gái bắt đầu lộ vẻ tươi vui. Họ cùng thề nguyền sống với nhau trọn đời dù gặp phải nghèo khó. Hứa sẽ như chàng Vỹ mãi ôm chân cầu (Vỹ Sinh giữ chữ tín cứ ngồi ôm chân cầu chờ đợi cho đến khi nước ngập mà chết) và sẽ làm người Vọng phu đứng trông chồng. Mười sáu tuổi họ xa nhau vì chồng phải đến tận chốn xa xôi. Tháng Năm nước lớn không thể đến với chồng được, Tiếng vượn kêu thảm thiết  vang vọng trời xanh. Trước sân nhà còn in dấu chân người xưa đã phủ đầy rêu xanh. Rêu dày không thể quét sạch hết được. Gió thu thổi sớm làm lá rụng nhiều. Tháng Tám, từng đôi bướm vàng bay lượn  ở thảm cỏ phía tây khu vườn. Nhìn cảnh ấy nàng thấy xót xa cho mình. Ngồi buồn vì tuổi xuân ngày càng phai tàn. Đến Tam Ba dù sớm hay muộn,  chàng nhớ gửi thư báo về cho gia đình biết. Nàng sẽ đi thẳng đến Trường Phong Sa đón chàng dù cho đường sá có xa xôi.
     Trong bài thơ có chi tiết  chàng (lúc nhỏ) lấy cành trúc làm ngựa  đến chạy quanh ghế nàng ngồi và ném những quả mơ xanh để chơi đùa (khi nàng đang hái hoa chơi trước sân). Sau này người ta dùng cụm từ “ Thanh mai trúc mã” để chỉ về đôi trai gái trời sinh có duyên nợ xứng đôi vừa lứa từ nhỏ.
        Tôi xin mạo muội dịch bài Trường Can Hành của Thi tiên Lý Bạch ra 3 thể thơ khác nhau là Ngũ ngôn, Lục bát và Song thất lục bát. Mong các bạn góp ý giúp đỡ..

     TRƯỜNG CAN HÀNH
       (Dịch thơ ngũ ngôn)

    Tóc nàng xõa chấm trán
    Trước sân hái hoa chơi
    Ngựa trúc chàng chạy tới
    Mơ xanh đùa ghế ngồi.
    Cùng ở xóm Trường Can
    Đôi trẻ còn trong sáng.
    Mười bốn thành vợ chồng
    Nàng xấu hổ thẹn thùng
    Quay mặt vào vách tối
    Mặc cho chàng vẫy gọi.
    Mười lăm mày ngài nở
    Thề cùng dù nghèo đói
    Ôm trụ giữ niềm tin
    Lên Vọng phu chờ đợi.
    Mười sáu chàng đi xa
    Chốn Diễm Dự, Cù Đường
    Tháng năm thuyền khó đến
    Vượn hú vọng bi thương.
    Dấu chân xưa còn đó
    Khắp lối phủ rêu xanh
    Rêu dày khó xóa sạch
    Gió thu lá tan tành.
    Tháng tám bươm bướm vàng
    Vườn tây từng đôi múa
    Thấy cảnh thiếp đau lòng
    Ngồi buồn hồng nhan úa.
    Về Tam Ba sớm muộn
    Chàng nhớ gởi thư nhà
    Dù xa xôi vẫn đón
    Thiếp tới Trường Phong Sa.

                       Ngô Văn Ánh


      TRƯỜNG CAN HÀNH 
           (Dịch thơ lục bát)

      Tóc em chấm trán xõa dài
Hái hoa trước cửa nắng mai vui đùa
      Ngựa trúc chàng đến bất ngờ
Vờn quanh ghế nhỏ ném đùa mơ xanh
      Trường Can xóm nhỏ yên bình
Ngây thơ hai trẻ vô tình hồn nhiên
      Tơ hồng, Nguyệt lão xe duyên
Tròn mười bồn tuổi đã nên vợ chồng
      Em còn xấu hổ, thẹn thùng
Quay vào vách tối mặc chồng gọi kêu.
      Mười lăm mày phượng mỹ miều
Nguyện dù nghèo khổ vẫn yêu trọn đời
      Một lòng ôm trụ giữ lời
Xin lên núi đá làm người vọng phu.
      Mười sáu xa cách tuyệt mù
Cù Đường, Diễm Dự biên khu việc chàng
      Tháng năm nước lớn khó sang
Vượn kêu ai oán đại ngàn vọng ra
      Dấu chân còn trước sân nhà
Bóng xưa phủ kín nhạt nhòa rêu xanh
      Quét rêu xóa hết sao đành
Gió thu thổi sớm tan tành lá rơi
      Bướm vàng tháng tám rợp trời
Từng đôi bay lượn chẳng rời vườn tây
      Cảnh như xé nát lòng nầy
Ngồi buồn gặm nhấm hao gầy tuổi xuân.
      Tam Ba về tới, phu quân
Phong thư xin báo tin mừng nhà hay
      Đường xa em cũng đi ngay
Trường Phong thẳng đến vui say đón chàng.

                                          Ngô Văn Ánh


           TRƯỜNG CAN HÀNH  
         (Dịch thơ song thất lục bát)

      Thuở ấu thơ tóc còn xõa trán
     Thiếp hái hoa nắng sớm trước sân
         Ngựa trúc, chàng phóng lại gần
  Đùa quanh ghế nhỏ ném chùm mơ xanh.
     Xóm Trường Can, yến oanh đôi trẻ
     Cùng thơ ngây có ngại ngùng chi
       Thiếp vừa mười bốn xuân thì
   Nên duyên chồng vợ biết gì phu thê.
      Thiếp xấu hổ, đêm về chung bóng
     Ngoãnh vào tường lóng ngóng làm ngơ
       Mặc cho chàng mãi gọi chờ
   Rèm mi run rẩy, hững hờ bờ vai. 
     Mười lăm tuổi, mày ngài  mắt phượng
     Nghĩa tào khang càng đượm càng sâu
       Nguyện cùng trọn kiếp ôm cầu
  Vọng phu núi đá dãi dầu cũng cam.
     Mười sáu tuổi, li tan đôi ngã
     Chốn biên khu vất vả riêng chàng
       Cù Đường, Diễm Dự quan san
   Tháng Năm, sông lớn nước tràn khó qua.
       Não trời xanh, xót xa vượn hú
     Trước hiên nhà xanh phủ đầy rêu
        Dấu xưa phai nhạt ít nhiều
   Ngậm ngùi cảnh cũ, phòng tiêu lạnh lùng.
      Tháng Tám sớm, thu phong lá đỏ
     Lũ bướm vàng vờn ngõ vườn tây
        Từng đôi bay lượn sum vầy
   Tủi thân thiếp sợ hao gầy tuổi xuân. 
      Đến Tam Ba, phu quân chàng hỡi
     Cánh nhạn hồng xin gởi nhà hay
         Dù xa, thiếp cũng đi ngay
   Trường Sa thẳng tới mừng ngày đoàn viên.

                                             Ngô Văn Ánh

READ MORE - NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỤM TỪ “THANH MAI TRÚC MÔ; DỊCH THƠ “TRƯỜNG CAN HÀNH” CỦA LÝ BẠCH - Ngô Văn Ánh

MỘT MÌNH CÀ PHÊ THÁNH - Thơ Châu Thạch


       
                                   Tác giả Châu Thạch
   
READ MORE - MỘT MÌNH CÀ PHÊ THÁNH - Thơ Châu Thạch

NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ KỲ 20 - Nguyễn Ngọc Kiên


          
                       Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên


NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (KÌ  20)

(57) 闻鸡起舞 [Văn kê khởi vũ] (nghe tiếng gà gáy dậy múa kiếm) : chỉ những người có chí hướng, chăm chỉ rèn luyện , cố gắng sẽ làm được việc lớn.
Chữ
[văn] ở đây là chỉ nghe thấy. Còn chữ [vũ]là chỉ múa kiếm.
Thành ngữ này có xuất xứ như sau:
Tổ Địch là 1 người văn võ song toàn, tuy nhiên hồi nhỏ ông rất nghịch ngợm và bê trễ chuyện học hành. Khi ông lớn lên bấy giờ, trong nội bộ tầng lớp thống trị của triều Tấn xảy ra lục đục, thủ lĩnh các dân tộc thiểu số cũng nhân cơ hội này nổi loạn, khiến tình hình vương triều hết sức nguy ngập. Tổ Địch rất lo lắng trước việc này,ông cảm thấy kiến thức của ông là không đủ vàrằng ông không thể phục vụ đất nước tốt nếu không nghiên cứu nhiều hơn. Ông bắt đầu đọc rất nhiều, nghiêm túc nghiên cứu lịch sử mà từ đó ông đã hấp thụ kiến thức phong phú.
Sau đó ông cùng Lưu Côn- bạn thân của mình từ thưở nhỏ đều đc bổ nhiệm làm quan Bộ Tịch chuyên quản văn thư ở Tư Châu (Tức phía đông bắc Lạc Dương tỉnh Hà Nam ngày nay). Hai người rất tâm đầu ý hợp và đều mong muốn được cống hiến sức mình cho nhà nước. Họ ban ngày cùng làm việc với nhau, tối đến lại cùng ngủ một chỗ.
Một hôm vào lúc nửa đêm, tiếng gà gáy từ xa vọng lại làm Tổ Địch thức giấc, ông trở dậy lay gọi Lưu Côn và nói "Người ta bảo gà gáy vào lúc nửa đêm là điềm không lành, nhưng tôi không nghĩ vậy. Anh nghĩ sao nếu bây giờ chúng ta tỉnh dậy và luyện kiếm"
Lưu Côn đồng ý, bèn trở dậy mặc quần áo rồi cùng bước ra sân. Bấy giờ trên trời trăng sáng vằng vặc, hai người cùng rút kiếm múa với nhau cho tới khi trời sáng, quần áo đều ướt đẫm mồ hôi mới thu kiếm trở về phòng nghỉ.
Ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, hai người không ngừng luyện kiếm và trau dồi tri thức. Sau này Tổ Địch và Lưu Côn đều là danh tướng triều đình.

(58) 金屋藏娇[Kim ốc tàng Kiều]: ( Để nói tới việc xây một nơi đẹp để cất giấu người đẹp.)
Câu này cũng có nghĩa là chỉ thứ đẹp lộng lẫy nhưng cô đơn, cô tịch.
金屋 [Kim ốc] : nhà làm bằng vàng
[tàng] : chứa
Thành ngữ này có xuất xứ từ truyện cổ:
Hán Vũ Đế có người hoàng hậu đầu tiên tên là Trần A Kiều. Bọn họ là thanh mai trúc mã cùng nhau lớn lên, Hán Vũ Đế đã hứa hẹn với chị họ của ngài rằng: nếu có một ngày ta cưới A Kiều làm vợ thì ta sẽ cho xây một tòa lầu cao bằng vàng thật to để nàng ở.Nhưng về sau vận mệnh của Trần hoàng hậu rất bi thảm, sau khi phu quân của nàng lên ngôi Hoàng Đế liền phế nàng lập Vệ Tử Phu lên làm Hoàng Hậu. Nàng bị đẩy đến Trường Môn Cung (lãnh cung Trường Môn) chờ đợi hắn trong đau khổ suốt hơn hai mươi năm trời, đến tận khi nàng chết, Hán Vũ Đế cũng không một lần đến thăm.

(59) 按圖索骥[Án Đồ sách kí]: (Để nói về người làm việc cứng nhắc , không linh hoạt.)
Thành ngữ này có xuất xứ như sau:
Thời Xuân Thu , Tôn Dương người nước Tần nổi tiếng là người xem tướng ngựa giỏi. Theo truyền thuyết, vì tâm nguyện mong muốn nhiều người biết tướng ngựa để ngựa thiên lý không bị mai một , và để bảo tồn tuyệt kỹ của mình , ông viết lại những hiểu biết và kinh nghiệm của mình thành cuốn "Tướng mã kinh". Trong sách,ông viết rõ từng đặc trưng của thiên lý mã , đồng thời vẽ rất nhiều để mọi người cùng tham khảo. Tôn Dương có một người con trai,tư chất kém cỏi , nhưng lại rất muốn kế thừa sự nghiệp của cha . Thế là anh ta đọc thuộc lòng cuốn sách do cha để lại . Anh ta cho rằng xem tướng ngựa rất dễ dàng,thế là muốn đi tìm thiên lý mã dựa vào những gì cha viết. Anh ta thấy trong "Tướng mã kinh"có viết :" Đặc trưng chủ yếu của thiên lý mã chính là gò não cao , mắt to, bắp đùi săn chắc" nên cầm theo sách , đi ra ngoài muốn thử nhãn lực . Anh ta tìm theo hình vẽ nhưng không hề có thu hoạch gì . Một hôm anh ta thấy ven đường có một động vật vừa đi vừa nhảy . Anh ta nghĩ " Con vật này rất giống với thiên lý mã trong sách , chỉ có điều nó hơi nhỏ , vế đùi cũng không to như vò rượu . Tuy nhiên không sao , thiên lý mã vẫn có điểm khác chứ ".Anh ta tốn rất nhiều sức mới bắt được con vật nhảy tưng tưng , đồng thời mang nó về nhà .Con trai vừa về nhà vui mừng nói với cha : " Cha xem , con tìm thấy một con thiên lý mã rồi .HÌnh dáng của nó rất giống với hình dáng trong sách, "tướng mã kinh" chỉ có điều hơi nhỏ hơn một chút , đùi cũng hơi kém ."
Tôn Dương thấy con trai cầm một con cóc vừa buồn cười vừa tức giận, không ngờ con trai mình lại ngốc đến thế ,bèn nói thầm : Đáng tiếc "ngựa "thích nhảy quá không thể kéo xe được , cũng không cưỡi nổi !". Tiếp đó ông thở dài : " Con ngốc à, đây là một con cóc chứ ngựa thiên lý gì . Con tìm ngựa theo sách như thế là không được , muốn học được cách xem tướng ngựa, con phải đi xem nhiều ,nuôi dưỡng nhiều ngựa thì mới có thể hiểu hơn về ngựa ". Con trai nghe lời của cha , vô cùng ân hận, từ đó đến quan sát ngựa trong chuồng rất kỹ .

 (Theo Wikipedea)

                                                          Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ KỲ 20 - Nguyễn Ngọc Kiên

LAN MAN VÀ CHUYỆN ĐÀN CỪU - Thơ Đặng Xuân Xuyến





LAN MAN VÀ CHUYỆN ĐÀN CỪU 
(Thân tặng anh Vũ Đình Ninh
Chủ nhiệm Website Văn Đàn Việt)

I.
Tôi đặt cược đời mình
Bằng nụ cười nhếch mép
Bằng vòm ngực lép kẹp
Bằng căn phòng mốc meo ướt nhép
Bằng cót két tiếng giường ọp ẹp
Bằng cả tiếng ngủ mơ chóp chép...
Tôi kỳ vọng quá nhiều!
Tôi đặt cược quá nhiều!
Hình như...

II.
Đàn cừu
Ngoài kia...

Con đầu đàn vừa bị hóa kiếp
Cả đàn chết khiếp
Lẩy bẩy
Chen đẩy
Vào chuồng
Ông chủ oang oang
Bà chủ nhẹ nhàng
Đàn cừu
Im lặng
Cúi xuống
Nhai...

Đống rơm trước mặt oải mùi.

Hà Nội, 19 tháng 05.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - LAN MAN VÀ CHUYỆN ĐÀN CỪU - Thơ Đặng Xuân Xuyến

CẢM TÁC TỪ BÀI THƠ "NĂM THÁNG MÙ SƯƠNG CỦA NHÀ THƠ PHAN PHỤNG THẠCH - Thủy Điền



               Nhà thơ Phan Phụng Thạch


NĂM THÁNG MÙ SƯƠNG

Rồi các em mỗi người đi mỗi ngã
Giữa những ngày đầy lửa đạn quê hương
Thầy đứng đó từ đầu thu - cuối hạ
Mỏi mắt nhìn sách vở cũ tang thương.

Rồi những mùa thu - mùa thu lá rụng
Thầy bâng khuâng trong từng buổi tựu trường
Một ngày kia quê hương ngừng tiếng súng
Còn em nào trở lại tự muôn phương?

Hay tất cả sẽ cùng nhau nằm xuống
Sẽ cùng nhau thành tiếng núi lời sông
Thầy đứng đó nghe tâm hồn biển động
Những buồn thương như sóng cả mênh mông

Thầy đứng đó giữa cuộc đời góc cạnh
Nhớ ngày xưa hoa bướm lạ thiên đường
Thương các em chưa đầy lông đầy cánh
Bay vào đời trong năm- tháng mù sương

                              Phan Phụng Thạch





CẢM TÁC TỪ BÀI THƠ 
"NĂM THÁNG MÙ SƯƠNG" 
CỦA NHÀ THƠ PHAN PHỤNG THẠCH

Tình cờ đọc được bài thơ của cố Nhà giáo, Nhà Thơ Phan Phụng Thạch ở trang Sài Môn Thi Đàn trưa nay 18-05-2017 tự dưng lòng dâng lên một nỗi buồn vô hạn và cảm thương một người thầy (Dù giờ đã đi xa) đã ví những học trò của mình như là những đứa con trong gia đình không hơn, không kém. Bài thơ tuy rất là đơn sơ, mộc mạc. Đặc biệt nó đã diễn tả hết sự thương yêu, gắn bó với nhau dưới mái trường qua những năm dài. Thiết nghĩ, chúng ta ai ai cũng có một thời học sinh dù khoảng ấy ngắn hay dài mà thôi. Như khi nghe những lời nói chân thành của người thầy mình hẳn nhiên đều xúc động cả. Biết, làm trai giữa thời tao loạn là bổn phận mỗi người công dân là phải lên đường giữ gìn non sông, đất nước. Nhưng ở đây lòng thầy nhìn các em đi mà cứ mãi lo lo. Sợ, ông luôn lo sợ là đúng. Bởi, những đứa em của mình còn quá trẻ, non dại, đang bước vào đời chập chững như những con chim chưa đủ lông, đủ cánh sẽ dễ gặp những điều mà người ta không lường trước được, thật là đáng tiếc.

Vì không phải là nhà bình luận thơ, nhưng khi đọc thấy bài thơ hay, cảm xúc tôi thường hay đáp lại bằng tấm chân tình như phụ họa thêm với những ý nghĩ riêng của mình, hầu góp phần cho nội dung bài thơ ấy được nổi bật hơn. Dẫu những lời đóng góp nầy còn vụng về. Tôi nghĩ dưới mộ sâu chẳng thầy nào hẹp hòi cả.


LÒNG THẦY

Thầy: Như cha. Thốt ra! Não ruột
Giữa quê hương khói lửa chiến tranh
Nhìn trò đi mà dạ không đành
Cứ liên tưởng kẻ còn, người mất

Đứng giữa sân lòng thầy chất ngất
Nhìn hai mùa thu, hạ đi qua
Nhìn bảng xanh phấn họa nhạt nhòa
Thương bóng trẻ ngoài kia tiếng súng

Các em đi lòng thầy bủn rủn
Mỗi tựu trường nước mắt tràn dâng
Ngày trở về còn mấy người thân?
Trong hiu quạnh nỗi buồn canh cánh

Thương các em còn non lông, cánh
Bay vào đời thiếu vắng thầy, cô.

                             Thủy Điền
                            18-05-2017

READ MORE - CẢM TÁC TỪ BÀI THƠ "NĂM THÁNG MÙ SƯƠNG CỦA NHÀ THƠ PHAN PHỤNG THẠCH - Thủy Điền

DẠ KHÚC BUỒN - Thơ Nhật Quang





DẠ KHÚC BUỒN

Lơi rơi cánh lá úa mềm
Nhạt phai chút nắng bên thềm hắt hiu
Vội vàng núi chặt hương yêu
Gió nghiêng ngả gió xô chiều đi hoang

Giọt buồn rơi chạm mênh mang
Chơ vơ lối mộng...miên man gập ghềnh
Đường tình trượt gót chông chênh
Lấm lem em bước lênh đênh mịt mờ

Chập chờn trong mộng hoang mơ...
Phòng côi một trái tim hờ...lặng câm
Đêm ngu ngơ - bóng âm thầm
Mắt mòn mỏi đợi đêm trầm lệ rơi.

                              Nhật Quang
                               (Sài Gòn)

READ MORE - DẠ KHÚC BUỒN - Thơ Nhật Quang

Friday, May 19, 2017

CHÙM THƠ VÀO HẠ - Hải Thụy

Tác giả Hải Thụy



MƯA HẠ

Giêng hai qua - hạ vàng tươi nỗi nhớ
Con đường quen ngập trắng áo và mây
Vòng xe quay hoa mắt - người năm cũ
Đã bao lần phượng trổ vắng nơi này

Ghế đá xanh rêu - gợi vòm ký ức
Mắt nâu tả ngạn... phiêu dạt nơi mô
Cà phê một mình - chừ nghe mặn đắng
Vầng trăng chiều treo nhánh cây khô

Bốn mươi năm dư - mùa trở gió
Chuyến tàu đêm hai đứa lạc mất nhau
Kẻ phương nao ta dặm dài rong ruổi
Biệt xứ tây nguyên nặng gánh cơ cầu

Mộng hai mươi đành chôn đất đỏ
Ấp ủ bao điều vùi gốc cây xanh
Ngày cố nguôi vơi từng chung rượu nhỏ
Lòng tự dặn lòng - rồi sẽ về thăm

***

Gối sóng sông Hương - giấc mơ đã toại
Bên cầu xưa tiếc chẳng vẹn thề
Làn tóc ai bay bềnh bồng gió ngược...
Tức tưởi ngậm ngùi - trầm khản tiếng ve!

HẢI THỤY

Tản mạn
HẠ KHÁT

Ruộng cao đợi lũ nguồn xuống núi
Hàng tre cong ướm hỏi dòng sông
Con nước hờn dùng dằng không chảy
Mộng hồn đêm - sấm chớp lên giông

Người có về mang cơn gió mát
Quạt ru ta năm tháng bỏng chờ
Tình yêu nào môi không khao khát
Vòng tay ôm... khớp mối đường tơ

Thánh đường quê chuông ngân chủ nhật
Câu kinh lòng rạng bóng phương xa
Mùa phượng hồng - ve trầm tiếng hát
Vô cớ gì mắt đỏ màu hoa...

Chiều hạ thấp mây giăng muôn nẻo
Cánh cò nghiêng - trắng khúc reo ca
Ta buồn châm từng ly rượu nhỏ
Rót xuống đời - mưa giọt mơ qua...!

HẢI THỤY


KÝ ỨC HẠ

Tháng 4 hồng chùm hoa phượng sớm
Nỗi buồn ve vội tấu khúc dạo đầu
Mây hay áo - bồng bềnh như sóng lụa
Kí ức đêm lặng dõi ánh ngàn sao

Theo thuyền trăng ta về thăm cửa lớp
Áo học trò trang trắng mộng thơ ngây
Ai còn nhớ chàng trai vàng tóc nắng
Thời đi học chẳng cặp sách cầm tay

Thường trốn tiết cùng bạn bè đây đó
Ham rong chơi đồi suối - biển sông
Tháng năm hơn bốn mươi mùa hạ đỏ
Nay trở về nhặt bóng những con đường

Làn gió thoảng xạc xào... lời gọi khẽ
Ngỡ tiếng người bạn gái mắt nâu xưa
Từng bước thầm dưới ánh đèn vàng vọt
Tự nhiên trời sấm chớp đổ cơn mưa

***
Khu phố quen bây giờ nghe lạc lõng
Lòng không dưng bỗng luống ngậm ngùi!


HẢI THỤY

Nguồn: Google +
READ MORE - CHÙM THƠ VÀO HẠ - Hải Thụy

NHỮNG TÊN LÀNG CÓ TỪ “KẺ” TRONG VÙNG HẢI LĂNG - Nguyễn Văn Hiền

Nhà thờ Giáo xứ Kẻ Văn. Ảnh từ trang web của  Giáo xứ Kẻ Văn.



Từ thời khai sơn lập làng cho đến các đời chúa Nguyễn và sau nầy là Triều Nguyễn, một số làng lân cận trong vùng thuộc Huyện Hải Lăng bao gồm Tổng Câu Hoan và Tổng An Thơ có tên bắt đầu bằng từ Kẻ.

Khi tôi lớn lên đã nghe người dân trong vùng gọi đến tiếng Kẻ như chợ Kẻ Diên thuộc xã Hải Thọ, làng Kẻ Lạng Thuộc xã Hải Sơn, làng Kẻ Văn thuộc xã Hải Văn nay là xã Hải Tân, làng Kẻ Vịnh thuộc xã Hải Kinh nay là Hải Hòa và làng Kẻ Phù thuộc xã Phong Bình bên kia bờ sông Ô Lâu tỉnh Thừa Thiên.

Chợ Kẻ Diên ở Diên Sanh là một nơi giao thương buôn bán và trao đổi hàng hóa với nhau trong vùng nên rất sầm uất. Sách Ô Châu Cận Lục của dịch dã Dương Văn An mô tả là một xã có Hố sen rất đẹp, hải sản rất nhiều. Tôi thường hay đi với Mẹ ra chợ. Năm tôi 13 tuổi, hồi đó học trường Mẫu Tâm, lúc thi hết bậc tiểu học đều phải tập trung thi ở trường Hải Thọ, đã thấy nơi này là một xã giàu có phố xá, cửa hiệu buôn bán lớn và đã có bến xe đi về Huế.

Từ Diên Sanh đi vào phía Nam qua bờ nam sông là xã Hải Chánh có chợ Mỹ Chánh thuộc làng Mỹ Chánh và Hội kỳ (hai làng này không có chử Kẻ). Chợ Hải Chánh buôn bán rất lớn, đông vào buổi sáng, hầu hết người dân hai bên mạn sông Ô Lâu từ thượng nguồn về tận Làng Rào giao thương trao đổi hàng hóa từ mờ sáng đến gần trưa mới bải chợ để về họp chợ buổi chiều của các làng có chợ.

Chợ Kẻ Lạng ở làng Lương Điền xã Hải Sơn họp chợ buổi chiều (còn gọi là chợ hôm Lạng) và sản vật có tiếng là chột nưa.  Hôì đó, ở ngay chợ có bến đò đưa ngang qua làng Mỹ Xuyên thuộc xã Phong Hòa rồi đi lên Mỷ Chánh nên chợ làng ở đây mới có câu ca của dân trong vùng: nhất thuốc Phù Lai, nhì khoai Tân Trường, ba nưa Kẻ Lạng, bốn sắn càng Câu Nhi. Chợ Kẻ Lạng hiện nay không còn đông nữa. Đi men theo bờ sông Ô Lâu về đến đầu làng Câu Nhi là đò ba bến, ở đây có chợ Câu Nhi (làng này không có chử Kẻ). Đò đưa từ chợ Câu nhi qua làng Lương Điền rồi từ Lương Điền qua làng Mỹ Xuyên, cứ đưa đi đưa về ba bến như thế nên gọi là đò ba bến. Chợ Câu Nhi chỉ buôn bán nhỏ trong làng và một số bà con các làng gần đó qua lại trao đổi hàng hóa. Ở đây có nguồn cá sông của các vạn chài đến bán nên cá rất tươi, đặc biệt có sắn Càng rất ngon được mô tả là đặc sản làng Câu Nhi.

Đi hết làng Câu nhi là đến làng Văn Quỹ còn có tên gọi là làng Kẻ Văn. Chợ Kẻ Văn ở đầu làng. Khi tôi lớn lên thì đã có chợ và nghe mẹ tôi kể lại trong thời kháng chiến bà con trong các làng lân cận gọi là chợ kháng chiến, hàng hóa cũng nhiều, một số nhà giàu làm nhà kiên cố và buôn bán hàng tạp hóa. Hiệu thuốc bắc của ông Lý Quãng Phù người làng Câu Nhi và Thuốc Tây của ông Phò (ông người gốc làng Ưu Điềm) chữa bệnh cho tất cả bà con ở các làng lân cận. Quầy hàng của ông bà Sỷ Lạc khá lớn. Có bến cho ghe thuyền của người dân các nơi đến neo đậu để giao thương buôn bán. Ngoài nghề làm nông ra, nghề truyền thống của dân làng là nghề chằm nón lá. Trong làng cũng có nhiều người đi đưa nón lá đi bán các chợ như chợ Cầu, Chợ Phiên Cam Lộ, chợ Sòng, chợ Quãng Trị, chợ Sãi và đưa các loại hàng hóa đặc sản khác về trao đổi cho bà con trong làng. Đi về hơn một km là làng Kẻ Vịnh nay là làng Hưng Nhơn, ở đây chỉ làm nghề nông vì nơi đây ruộng trưa rất nhiều, ngoài ra còn thêm nghề chăn nuôi và nghề cá.

Bên kia bờ sông là chợ Ưu Điềm có bến xe, mỗi ngày hai chuyến đi vô ra thành phố Huế. Chợ ưu Điềm rất sầm uất, có phố xá và nhiều hàng hóa rất có tiếng ở trong vùng. Đi về phía đông khoảng 2km là làng Phò Trạch có chợ Kẻ Phù, chợ này giao thương buôn bán cũng khá lớn từ các làng Vân Trình, Phú Nông, Lương Mai, Phù Lai, Thanh Hương, Đại Lược ... Làng Kẻ Phù có nghề truyền thống là đan đệm vì ở đây các bàu, trằm, và một số ruộng sâu ngày xưa dân làng trồng cây lác là vật liệu để sản xuất đệm, có một đình chợ  để giao thương buôn bán. Nghề trồng lác và sản xuất các loại sản phẩm như đệm, bao đệm, và một số đồ gia dụng khác. Có lẽ nghề nầy được người dân ở đây đưa từ ngoài Bắc lúc di dân vào đây khoãng thế kỷ XV mang theo giống và nghề này vào để sinh sống, nghề gia truyền hiện nay cũng còn một số gia đình đang lưu truyền và sản xuất.

Vào thập niên 1960, trong ngôn ngữ  thường ngày, người dân vùng Ô Lâu vẫn dùng những tên làng Kẻ Vịnh, Kẻ Lạng, Kẻ Phù… Họ thường nói: Hôm qua tui đi chợ Kẻ Lạng mua chột nưa. Năm ni bác có mần lúa rọng su làng Kẻ Vịnh hay khôông? Tuy nhiên, nay rất ít người nhắc đến. Tên làng Kẻ Diên rất may vẫn còn nhớ được nhờ bài ca dao nổi tiếng “Đi chợ kẻ Diên” và tên làng Kẻ Văn hiện nay vẫn còn được biết đến nhờ gắn với tên Giáo xứ Kẻ Văn.

Nhìn lại một số xã mà theo sách Ô Châu Cận Lục ghi lại như Văn Quỹ,Vĩnh Hưng, Diên Sanh, Phò Trạch thì đã có đầy đủ trong sách, riêng Xã Hải Sơn có Chợ Kẻ Lạng thì không có trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An, như vậy làng Lương Điền thuộc xã Hải Sơn, làng Mỹ Chánh và làng Hội Kỳ thuộc xã Hải Chánh được thành lập từ thế kỷ nào?



Qua phân tích trên, chúng tôi xin bạn đọc cần tìm hiểu về những làng có chử Kẻ nêu trên được đặt tên làng (Kẻ) từ thế kỉ của Triều đại nào và chử Kẻ có truyền thuyết như thế nào.

Nguyễn Văn Hiền 
(Làng Văn Quỹ, xã Hải Văn nay là xã Hải Tân, Quảng Trị)



TÓM TẮT TÀI LIỆU DO PHAN DUY KHA TỔNG HỢP
(Nguồn: Họ Phạm Việt Nam: hophamvietnam.org)

Nghiên cứu địa danh các làng xã cổ xưa của người Việt, ta thấy tên nhiều làng có từ "Kẻ". Thí dụ, ngay tại Hà Nội có Kẻ Noi (Cổ Nhuế), Kẻ Mọc (Nhân Mục), Kẻ Cót (Yên Quyết), Kẻ Mẩy (Mễ Trì) rồi Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ, Kẻ Giàn, Kẻ Cáo... Có một điều chung nhất trong tất cả các làng mang tên kẻ này, đó đều là những làng cổ. Theo ý nghĩa của ngôn từ Việt cổ, có thể hiểu từ kẻ ở đây chỉ một cụm dân cư sống trên một địa bàn cụ thể. Thí dụ, Kẻ Noi = Người (ở làng) Noi; Kẻ Mọc = Người (ở làng) Mọc; Kẻ Bưởi = Người (ở làng) Bưởi... Để đơn giản, người ta hiểu: Kẻ Noi = làng Noi; Kẻ Mọc = làng Mọc; Kẻ Bưởi = làng Bưởi... Như vậy, ở đây kẻ được đồng nhất với làng.

Những vùng làng có tên Kẻ được tập trung vào ba trung tâm chính:

1. / Trung tâm núi Hồng - sông Lam (phía nam Nghệ An, phía bắc Hà Tĩnh ) Ở đây có những huyện mà số làng tên Kẻ chiếm đến 2/3 (tức hơn 60%) tổng số các làng, như huyện Can Lộc (Hà Tĩnh). Các huyện Nghi Xuân, Đức Thọ, Thạch Hà, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Thanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu (Nghệ An) có nhiều làng Kẻ.

2. /  Trung tâm Đông Sơn (Thanh Hóa): Gồm các huyện nằm ven chân núi và vùng đồng bằng sông Mã, sông Chu như: Đông Sơn, Thiệu Yên, Triệu Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Hà Trung, Nông Cống. Các làng Kẻ làm thành một vệt liên tục từ Kẻ Don (Vĩnh Lộc) xuống Kẻ Đàng (Thiệu Yên).

3. / Trung tâm Việt Trì - Phong Châu: Đây là trung tâm của thời kỳ các vua Hùng. Những làng mang tên Kẻ ở đây phân bố ven theo chân núi Ba Vì, Tam Đảo và dọc theo châu thổ sông Hồng từ Phong Châu, Việt Trì xuống đến phạm vi thủ đô Hà Nội. Các huyện Phong Châu, Thanh Sơn, Sông Thao, thành phố Việt Trì (Phú Thọ), Lập Thạch, Tam Đảo, Vĩnh Lạc, Mê Linh (Vĩnh Phúc), Sóc Sơn, Đông Anh, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội) đều có nhiều làng Kẻ. . Đền Hùng ở cạnh một làng mang tên Kẻ: Kẻ Khống (Chu Hóa, Phong Châu); Cổ Loa là Kẻ Chủ; quê hương của người anh hùng Thánh Gióng là Kẻ Đổng (Phù Đổng, Gia Lâm). Toàn bộ vùng Kẻ ở khu vực này tạo thành một hình tam giác, lệch về góc đông nam.

Ngay kinh đô Văn Lang của các vua Hùng có thể cũng chỉ là một Làng Lớn (Làng Cả - Kẻ Cả) mà thôi.

Có thể nói: những kẻ, bản, mường đó là những tập hợp cư dân, những đơn vị cơ sở đầu tiên của thời kỳ Hùng Vương dựng nước.

READ MORE - NHỮNG TÊN LÀNG CÓ TỪ “KẺ” TRONG VÙNG HẢI LĂNG - Nguyễn Văn Hiền