Chúc Mừng Năm Mới

Kỷ niệm sinh nhật của Văn Nghệ Quảng Trị: 06/9/2008

Saturday, September 24, 2016

NGHỈ HƯU - Thơ Trần Mai Ngân

           


       NGHỈ HƯU
       (Tặng thầy giáo Đoàn Minh Phú)
       Mây trôi... tháng Chín... mùa Thu
       Bâng khuâng... ừ lại nghỉ hưu đến rồi
       Xa rời bảng phấn, tường vôi
       Trống giờ chơi thuở của tôi, của người
       Giã từ đồng nghiệp một thời
       Tôi xin giữ lại nụ cười đã cho
       Bốn mươi năm một con đò
       Bây giờ xa nhé... học trò tôi ơi !

       Gửi em hy vọng của đời
       Bước công danh đạt... tiếp lời Thầy Cô
       Con đò... tôi đậu bến mô
       Ân cần vẫn thế... hư vô dẫu là !
                              Trần Mai Ngân
READ MORE - NGHỈ HƯU - Thơ Trần Mai Ngân

Friday, September 23, 2016

TÌNH KHÚC BIỆT LY - Thơ Nhật Quang



           Nhật Quang



TÌNH KHÚC BIỆT LY

Nắng úa vương buồn mái tóc em
Hoàng hôn tím lặng gót chân mềm
Chiều loang ngấn lệ hoen màu mắt
Hiu hắt trăng gầy ngả bóng đêm
Thao thức canh khuya chạm rã rời
Bên thềm lá úa, giọt thu rơi
Hồn nghe khắc khoải, lòng hoang vắng
Duyên kiếp bọt bèo mãi nổi trôi
Lâu rồi, em sống cảnh đơn côi
Buồn đọng tâm tư vắng tiếng cười
Hoa thắm, hương nồng xưa héo úa
Ân tình ấp ủ... nhạt phai phôi
Cạn chén ly bôi - đừng luyến tiếc
Thôi đành chôn kín mộng tình xưa
Cung đàn lỡ nhịp rung sầu lắng
Điệp khúc tơ chùng vọng tiếng mưa.

                             Nhật Quang
                              (Sài Gòn)

READ MORE - TÌNH KHÚC BIỆT LY - Thơ Nhật Quang

TA CÒN NHAU ĐẾN BÂY GIỜ - Thơ Tịnh Đàm



                   Tác giả Tịnh Đàm


TA CÒN NHAU ĐẾN BÂY GIỜ
             (Tặng vợ hiền)

Ta còn nhau ở kiếp này
Chắt chiu hạnh phúc theo ngày tháng qua
Ân tình em vẫn thiết tha
Phủ, chở nước phù sa đắp bồi
Ta còn nhau giữa nổi trôi
Sóng đời trăm nỗi chưa thôi dạt dào
Hồn thơ mở lối chiêm bao...
Em cùng anh nhé bước vào cõi mơ...
Ta còn nhau đến bây giờ
Dẫu màu xuân cũ đã mờ hương phai
Thương em dấu tiếng thở dài
Khi nhìn bóng nắng rớt ngoài hiên thưa.
                                         Tịnh Đàm
                                         (Sài Gòn)

READ MORE - TA CÒN NHAU ĐẾN BÂY GIỜ - Thơ Tịnh Đàm

CHÙM THƠ THỦY ĐIỀN



    Tác giả Thủy Điền



BÌNH MINH MIỀN SƠN CƯỚC

Sương đêm trùm thảo mộc
Trắng xoá lững chừng đồi
Xa xa dăm nón cối
Vai cuốc xẻng lên nương

Bình minh trên bản thượng
Chim chóc hót chào ngày
Giọt rơi, rơi từng giọt
Thắm ướt đôi chân gầy

Tiếng lạch cạch vang tai
Tiếng Vượn hú rung cây
Tiếng gió rừng xào xạt
Tiếng bạn gọi tao, mầy

Thay lửa hồng nung rẩy
Ấm áp những bàn tay
Xóa tan màn sương lạnh
Lún sâu những luống cày

Miền cao buổi sương mai
Núi trùng trùng, điệp điệp
Sương phất phới bay bay
Quê hương miền sơn cước.

Thủy Điền
18-09-2016


EM NGHĨ GÌ? 

Em nghĩ gì sau điệu vũ Thiên nga
Em nghĩ gì về số phận đàn bà
Khi kết thúc ngồi sau màng nhung đỏ
Em nghĩ gì lẻ loi ngồi bên xó
Khi ông Bầu bán vé chỉ phần ba
Em nghĩ gì số kiếp kẻ cầm ca
Đời lên Voi có khi rồi xuống chó
Em nghĩ gì ba chữ  "Sống co ro"
Em nghĩ gì khi người ngưng tay vỗ
Em nghĩ gì khi hết tiếng hoan hô
Những quả trứng bay bay, tung bể
Và bảo rằng nhạt nhẽo điệu Ba lê.

Thủy Điền
18-09-2016


CÁNH BUỒM RA KHƠI

Ta lang thang trên phố
Ngây ngô như kẻ khờ
Giả đò là hành khất
Để thấy đời dở hơi

Ta lừa rằng chân mỏi
Thân tựa gốc cây già
Xem kẻ lạ, người xa
Ngắm hằng bao tội lỗi

Ta nằm yên không nói
Như kẻ chết chưa chôn
Chờ người mang vào hồm
Lắng nghe lời dan dối

Ta ngồi bên vách núi
Nhìn cánh buồm ra khơi
Lần xa người yêu nhỏ
Lòng thấy buồn, chơi vơi.

Thủy Điền
19-09-2016


MÂU THUẨN ĐỜI

Mở mồm ra khuyên toàn "Nguy hiểm"
Hút thuốc thơm sẽ hại bản thân
Hư lá phổi, hỏng răng, gan, thận
Vừa nghe qua muốn vội khắc ghi

Lòng thật tốt y trang Bác sĩ
Lo cho người từ li, từ tí
Sợ ốm đau, bệnh tật, hao tiền
Sợ chết vội, trẻ mau thành lão

Vừa khuyên xong, xoay lưng quảng cáo
Đây thuốc thơm chất lương rất cao
Mua một cây, biếu tặng một bao
Chỉ một giá không thêm , không kém

Thật là đúng lũ buôn mồm bén
Cầm con dao hai lưỡi lừa người
Tay hâm dọa, tay thì nịnh bợ
Dụ dân đen giấy mực rõ ràng

Sao không giỏi đóng ngay xưởng hãng
Khỏi khuyên răn, khuyến dụ người dùng
Bày làm chi những chuyện bất lương
Cho thiên hạ một đời nguyền rũa.

Thủy Điền
19-09-2016       

TA BIẾT PHẬN TA

Ghiền thì hút, khuyên răn chuyện vặt
Ai trẻ con ? Đem chuyện ra hù
Ai ngây ngô ? Mà tin các chú
In bao bì cho tốn tiền công

Bán thì bán, ai thích, ưng lòng
Là móc túi, bỏ tiền thưởng thức
Có gì đâu vòng vo, ray rứt
Thâu đồng tiền mà ngại lương tâm

Xưa và nay đã mấy ngàn năm
Ai hút thuốc mà cho là bổ
Ai nghiện thuốc mà chẳng phải ho
Nhưng vẫn hút tới đâu thì tới

Giờ tất cả cái gì cũng mới
Lắm trò đời bày chuyện lung tung
Cho nhân gian là kẻ điên khùng
Hể muốn nói là mồm cứ nói

Xem trời đất nhỏ như cụi sõi
Cho con người vô giác, vô tri
Tưởng làm ra sản phẩm hút, xì
Là chúa tể trên đời đấy thế.

Nhà nước đâu? Cản ngăn hay... kệ !
Thuế thâu vào, nhắm mắt làm ngơ.

Thủy Điền
19-09-2016                                                                


READ MORE - CHÙM THƠ THỦY ĐIỀN

GỬI YÊN BÁI - Thơ Nguyễn Khôi


       
                         Nhà thơ Nguyễn Khôi


Lời dẫn : Bố tối bảo "Yên Bái là đất dữ, không có hậu: dòng sông Thao chảy đến đây 60 năm bồi/ 60 năm lở... ai thất cơ lỡ vận, dạt lên đây lập nghiệp, lúc đầu làm ăn rất phát đạt... rồi cuối đời lại sa sút mạt vận". Xưa, ông bà ngoại tôi từ Đình Bảng - Bắc Ninh theo đường xe lửa Việt - Điền lên Thị xã Yên Bái mở cửa hiệu buôn bán thuốc lào, vải vóc tơ lụa vào vùng Nghĩa Lộ - Sơn la, lên tới Vân Nam.
Năm 1930,  VNQDĐ  khởi nghĩa thất bại , lãnh tụ Nguyễn Thái Học và mấy Đ/c phải lên máy chém. Năm 1944-46 nơi đây là điểm huyết chiến của VM / QDĐ, thời 1965-1975 bị bom Mỹ hủy diệt, thời nay:18/8/2016 là "Đồng chí bắn Đồng chí"...
Nguyễn Khôi tôi sinh 26/12/1938 tại nhà thương Thị xã Yên Bái (phố Yên Thái), đây cũng chính là nơi sinh nhà văn Thế Phong (Đỗ Mạnh Tường) 1932, nhà thơ Lê Đạt (Đào Công Đạt -1929..). Nguyễn Khôi có bài thơ tặng anh Thế Phong (13/1/2012) như một "dự báo"... thấy còn nguyên tính thời sự, xin đăng để cùng các bạn thơ chia sẻ:


GỬI YÊN BÁI 
(Tặng nhà văn Thế Phong,
 Tưởng nhớ Nhà thơ Lê Đạt)
           ---
"Nơi mẹ sinh tôi đầu nguồn nước lũ
  Đi biệt tăm chẳng có ngày về"
                      
Ơi Yên Bái, người đi không ngoái lại
bỏ lại vầng trăng, câu hát lưng đèo
Về Hà Nội giữa dòng đời ngang trái
đi tìm hoài một dáng thương yêu.
                      
Đâu hương Quế, hương Hồi chiều xanh ngát
Giữa phố phường chật chội sặc hơi Tiền
Giữa chen chúc lòng ngắc ngư câu hát
Thèm một khoảng rừng ở góc Công viên.
                      
Ta là người điên - kẻ quên quá khứ
Trong cơn mê lảnh một tiếng còi tàu
Cứ ngỡ đêm rừng qua ga Phú Thọ
Lửa lập lòe ai đợi bến Âu Lâu ?
                      
Nơi con sông Thao đổ vào đầu phố
Cây Đa mé chợ, nơi "đoạn đầu đài" (1)
Phố là Phố của người đi chẳng nhớ
Tiếng súng đùng đoàng chạng vạng hôm mai.(2)
                      
Ai đi xa có ngày về Yên Bái
Tôi đi xa là trốn biệt nơi này
Là kẻ phụ tình, đứa quên xứ sở
Để cõi lòng rỉ máu, buốt đôi tay.

                   Hà Nội 13-1-2012
                   NGUYỄN KHÔI
----
(1) Nơi xử tử Nguyễn Thái Học và các Đ/c VNQDĐ
(2) Nơi quyết chiến khốc liệt giữa Việt Minh & Quốc Dân Đảng (1946)
READ MORE - GỬI YÊN BÁI - Thơ Nguyễn Khôi

ĐỨA CON HOANG - Truyện ngắn của Hồng Tâm


  
                Tác giả Hồng Tâm



              ĐỨA CON HOANG
                                                Truyện ngắn của Hồng Tâm

Nó sinh ra không thấy mặt cha! Nó không thể hình dung cha nó là người như thế nào? Cao hay thấp? Đẹp hay xấu?
Mà nó chỉ nghe người ta truyền tai nhau nói nó là "đứa con hoang". Nó mới tám tuổi, nó không hiểu "đứa con hoang" là gì ?
Nó về hỏi mẹ , mẹ nó không trả lời chỉ nhìn vào khoảng mênh mông, xa xăm ấy
Nó rất có hiếu với mẹ , thức dậy nó phụ mẹ quét sân , cho gà vịt ăn . Nhìn đồng hồ điểm đúng 6 giờ kém 5 phút vội xách cặp đi học.
Chẳng biết thế nào? Bạn bè nhìn chằm chằm vào mặt và nói:
- Mầy là đứa con hoang ! Ha ha
Nó hỏi:
- Đứa con hoang là gì vậy bạn ?
Bạn nó trả lời:
- Mẹ mầy ở với ba mầy, người ta không chịu cưới mẹ mầy, không thừa nhận mầy, cha mầy theo người khác !
Nó chưa kịp nghĩ ngợi :
- Mầy dám nói tao là đứa con hoang ! Chừa này !
Nó nhào vô đánh bạn nó chảy máu mũi. Cô hiệu trưởng gọi điện cho mẹ thông báo nó đánh bạn ở trường.
Mẹ hỏi nó :
- Sao con đánh bạn? Mẹ có dạy con đánh bạn chưa? Sao con làm như vậy?
Nó khóc !
Rồi một ngày kia nó vô tình thấy cuốn nhật ký của mẹ nó để dưới nệm, nó đọc :

Anh à !
Thế là chúng mình xa nhau tròn 9 năm rồi anh nhỉ? Em vẫn luôn nhớ anh nhớ ánh mắt  nhìn em lần sau cuối rồi đi theo tiếng gọi tình yêu mới. Mà lẽ ra anh thuộc về em nhưng tình cảm không thể thay đổi nơi anh và không thể nào em níu kéo mãi.
Thứ... ngày... tháng... năm !
 9 năm dài đăng đẳng, con mình 8 tuổi . Đáng lý ra phải có mặt cha của nó trong phòng sanh, đáng lý ra nó hưởng một mái ấm trọn vẹn như bao mái ấm gia đình khác. Một mình em vượt cạn, một mình em nuôi con 8 năm ròng rã, mang nặng đẻ đau... Đôi lúc em  đuối sức muốn buông xuôi tất cả để về bên kia thế giới nhưng anh ơi ! Con mình phải có một người lo cho nó suốt quãng đời còn lại.
Nó sinh thiếu tháng anh có biết con mình nó sống như thế nào không? Con nằm trong lồng kính gần một tháng, con thở thoi thóp.  Thế là mẹ con em ôm nhau khóc . Sao anh vô tâm quá !
  Em nhớ ngày nào hai đứa mình hạnh phúc đi bên nhau, khi em đến với anh, em chưa hề nghĩ cuộc sống tình yêu oan trái chỉ nghĩ rằng toàn màu hồng bao phủ rất đẹp. Mơ tưởng cái đẹp thành ra vỡ mộng.
Thứ... ngày... tháng... năm!
Những nàng áo hồng, áo tím, áo xanh liệu mấy nàng ấy có đem lại hạnh phúc suốt đời cho anh không? Em chỉ mong người sau này yêu anh thật lòng thì em chúc mừng anh hạnh phúc.
9 năm rồi, em đau khổ cắn răng chịu đựng, 8 năm con mình chịu đựng nỗi đau khi không có cha bên cạnh lo cho con.
Không biết em có sống nổi kiếp này không, mỗi lần con hỏi cha con là ai ? em chỉ nhìn vào khoảng xa xăm...

Nó điếng người !
Nghe tiếng tằng hắng của mẹ, nó vội nhét cuốn nhật ký dưới nệm.Nó ngẫm sao ông trời đối xử bất công với hai mẹ con, cuộc sống nghèo khó đeo bám hoài, nợ nần chồng chất, không biết làm sao để trả hết. Mẹ bệnh ngày thêm nặng ,bà con hàng xóm khuyên mẹ của nó đi khám thử xem bệnh gì ? Nhưng mẹ của nó lắc đầu nói:
- Em ổn đừng có lo cho em ạ, vài hôm em khỏi, cám ơn mọi người quan tâm em !
Nó nhìn khuôn mặt mẹ hốc hác, xanh như tàu lá, nó thương mẹ vô cùng, nó hứa học thật giỏi cho mẹ vui.
Một đêm mưa bão, mẹ của nó trút hơi thở cuối cùng, kế bên là cuốn nhật ký. Đám tang mẹ nhờ có sự trợ giúp của một người phụ nữ tốt bụng kêu gọi bà con quyên góp tiền mua cho mẹ của nó chiếc áo quan. Vì đất không có nên thi thể hỏa táng , tro cốt rải trên sông. Di ảnh đem vào chùa thờ cúng.
Nó giờ thành trẻ mồ côi không nơi nương tựa , người ta đem nó vào cô nhi viện sống. Được sống trong tình yêu thương của bảo mẫu , có bạn tâm sự nó vơi bớt nỗi buồn.
Rồi một ngày đẹp trời, có hai vợ chồng người Mỹ sang Việt Nam xin con nuôi, thấy nó có khuôn mặt đẹp dễ thương bèn ngỏ ý với nó rằng:
- Cô chú sang Việt Nam du lịch, sẵn dịp cô chú muốn xin một đứa con về nuôi, cô chú không có khả năng sinh con, nếu cháu đồng ý thì cô chú nhận cháu làm con nuôi cháu chịu không?
 Đôi mắt nó nhìn đăm chiêu, do dự, nhưng thật sự trong lòng nó rất muốn có cha mẹ lo cho nó, muốn ai thương nó thật lòng, nó sẵn sàng chấp nhận theo.
Tờ biên bản kí nhận con nuôi đã hoàn tất, chỉ còn hai tháng nó sẽ xa quê hương qua Mỹ sinh sống với ba mẹ nuôi.
Nó mượn xe đạp của viện để lên chùa thăm mẹ, nó ghé chợ mua trái cây ngon  làm quà dâng mẹ. Nó khấn :
- Mẹ à, ở dưới đó mẹ có vui không? Có lạnh không? chẳng còn bao lâu con theo ba mẹ nuôi qua Mỹ mong mẹ phù hộ con bình an, con hứa con ngoan,học giỏi cho mẹ an lòng. Đây quả táo mẹ thích ăn, con dâng! Nó rơm rớm nước mắt!
Ngày đi, nó nhìn quê hương một  lần nữa, nghe loa gọi sắp tới giờ, vội vàng nắm tay ba mẹ nuôi lên máy bay sang Mỹ.

                                                                                     Hồng Tâm
                                                                                     22/09/2016
READ MORE - ĐỨA CON HOANG - Truyện ngắn của Hồng Tâm

BẠN GÁI CỦA CHA TÔI - Hồi ký của Lâm Bích Thủy

 
             
                                 Nhà thơ Yến Lan

      
          BẠN GÁI CỦA CHA TÔI

Nhắc đến những người bạn thân thiết của ba, mà không nhắc tới cô Châu thị Hạnh là thiếu sót lớn. Bởi lẽ người bạn gái này đã để lại trong lòng ba tôi những dấu ấn khó quên. Hơn nữa, cô là người tài trợ cho chuyến đi ra Huế, để rồi từ Huế ba tôi có tác phẩm – vở kịch thơ đầu tiên của nền văn học Việt Nam- "Bóng giai nhân”. 
Cô là vợ ông Hoàng Phê – giáo sư nghiên cứu ngôn ngữ và giảng dạy tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Bà mẹ của ông Phê chính là người đã chăm sóc ba tôi, khi ông bị thương trong kháng chiến (đã nói ở chương trên)
  Trước khi lấy ông Hoàng Phê, cô là người mà vợ chồng nhà thơ Mộng Tuyết – Đông Hồ muốn tác hợp cho ba tôi, hồi cô còn làm hộ lý một bệnh viện ở Hà Tiên ..
Người bạn gái này đã khiến ba tôi vô cùng ngạc nhiên về tấm thịnh tình đối với bạn bè. Thư gửi chú Khổng Đức-nhà nghiên cứu Văn Học hiện đại, ba viết :
"Kỷ niệm về Hà Tiên thì nhiều lắm và là cả một trời tình cảm. Người bạn gái – người tôi viết ở mấy dòng đầu nơi bài hồi ký "Chiều chiều mây kéo về kinh” gửi Chế Lan Viên sáng nay. Đó là câu chuyện thuộc về tâm lý kỳ lạ và độc đáo, cho đến bây giờ tôi cũng chưa hiểu ra sao, một con người tốt tuyệt vời và cũng lãng mạn tuyệt vời. Thong thả tôi sẽ kể lại vài nét cho anh rõ. Đó là nguồn thơ tôi viết ra mấy bài . Sầm Sơn và Ca Thương của Trống Mái ……
Thôi xin dừng bút . Thư đã quá dài và hơi bận rộn.

  Kể lại sự gặp gỡ ban đầu với cô:
  Lần vào Sài Gòn thăm nhà thơ Lê Tràng Kiều rồi theo ông lên Hà Tiên thăm vợ chồng nhà thơ Đông Hồ-Mộng Tuyết. Bác Mộng Tuyết có một cô bạn gái làm hộ lý, tính tình hiền lành, siêng năng và rất tốt bụng. Đã từ lâu, bác có ý tác hợp cho ba tôi. Ngày ba tôi lên thăm, vợ chồng bác Mộng Tuyết và nhà văn Lê Trang Kiều vờ bận việc, đi chỗ khác để lại chỉ hai người làm quen nhau. Và chỉ trong mấy ngày ngắn ngủi vậy mà hai người rất thấy có nhiều nét hợp nhau. Sau đó thì ba tôi về quê.
Lãng mạn làm sao, lần đầu tiên gửi thư cho ba, không biết địa chỉ, chỉ nghe ba nói, sống ở chùa Ông – Bình Định; cô mạnh dạn gửi thư, đề bì:

 "Kính gửi: Thi sĩ Xuân Khai
                    Ở chùa Ông Bình định.
   Và lá thư ấy đã trao đúng, tận tay người cần nhận …
   Trong sinh hoạt thường ngày, đôi lần tên cô được nhắc đến. Ngày ấy, tôi không hể để ý, và cũng không cần biết đó là ai. Kể với bạn về cô, ba tôi đã thốt lên "Đó là người con gái có tâm hồn kỳ lạ”.  Khi ba tôi mất, lục tủ sách, thấy có một xấp thư dày cộp, cùng nét chữ. Người gởi là Châu thị Hạnh. Tôi tò mò mở ra xem. Thư cô viết chan chứa tình cảm, trẻ trung và chân thật làm sao ấy!..
Năm 2001, để giúp má viết hồi ký "Yến Lan, nhớ mãi về anh”, tôi bỗng nhớ đến cô, hy vọng qua cô, sẽ có thêm tư liệu về người cha thi sĩ thời trẻ. Tôi gửi thư cho cô theo địa chỉ trên bì thư của cô gửi. Tôi tha thiết khẩn cầu: "Cô ơi ! nếu cô còn giữ thơ ba cháu viết tặng, cô chép cho cháu vài bài thời hai người mới quen. Cháu đang giúp má viết hồi ký về ba. Cô sẽ là một nàng thơ trong hồi ký của cháu nhé. Song cô hồi âm bằng lá thư, chữ viết khó xem và không thẳng hàng :

Hà Nội 18/2/2001.
Cháu Bích Thủy thân mến, cô xin cảm ơn cái thư của cháu! Viết hồi ký về ba mà có những tên người bạn của ba cháu là hay lắm, hồi ký thêm phần sinh động thế mà cô không đáp ứng yêu cầu của cháu được. Cô xin cháu! Cô tha thiết đề nghị cháu đừng để tên cô vào một bài nào của cháu viết về ba cháu. Mấy lý do cụ thể:
1. Cô chỉ là người đọc và thích thơ của ba cháu. Đọc mà còn nhiều bài chưa hiểu. Cô không biết gì về thi tứ thì làm sao là bạn của nhà thơ như nhà thơ Yến Lan nổi tiếng trên các báo…
2. Ba cháu có tặng cô bài nào đâu! Có bao giờ nhắc tên cô đâu! Hãy làm theo ý ba cháu.
 Cách đây năm sáu chục năm, cái tuổi sắp bước vào đời. Cuộc sống chưa biết gì về đời mà ba cháu đã gửi cho cô 3 tập giấy vỡ học trò với rất nhiều bài thơ với một lời dặn: "Chia nhau cất giữ vì sắp chiến tranh! Con người sẽ mất còn thơ sẽ sống mãi với đời” Thế mà cô không giữ được vì cô không biết cách giữ, vì chạy bom trong kháng chiến 9 năm đã mất hết rồi. Năm hòa bình cô mới ở Việt Bắc về (1956->1957) cô nhớ không chính xác. Có anh bạn của ba cháu nhà văn Nguyễn Đình (đồng hương với cô) gặp cô và kể chuyện có biết ba cháu. Cô có nhờ anh Đình nói giúp với ba cháu:
   "Cô tạ lỗi là không giữ được mấy tập thơ đó” 
3.Trước 1945 làm được bài thơ nào ba cháu gửi ngay cho cô, lúc ấy cô chuẩn bị đi kháng chiến, cô có báo cho ba cháu. Ba cháu chỉ viết lại có mấy câu: "Chắc là không còn gặp nhau, khi nào ốm đau thì nếu có thể hãy tìm gặp nhau” Năm 1996 cô mới biết ba cháu ốm. Cô đã viết thư vì chắc chắn là không đi thăm được! Ba cháu trả lời bằng 4 câu:
            Cái hẹn năm xưa đã lỡ rồi
            Để trong chờ đợi nóng lòng ai
            Taybưng thuốc đắng nhìn xuyên chén
            Năm tháng còn trên mấy đốt tay 
                                       Hẹn (3/1972)
Chữ "Cái hẹn” của ba cháu tuyệt vời không phải lời hẹn ước của nam nữ, cũng không phải câu hò hẹn mà là cái hẹn không có ngày, cái hẹn khi ốm đau. Đúng là giọng và lời của một nhà thơ lão luyện! Mà là nhắc lại cái ngày xa xưa ấy cách đây 1/2 thế kỷ. Trong bài "Độc ẩm
            Uống ngụm đầu tiên những ước mong
            Đưa mình trở lại chốn Thành Tô
            Hồ Đông tưởng cạn từ năm ấy
            Với chén trà chuyên kết ban đầu
Chữ tưởng cạn ba cháu dùng câu dùng chữ thì không ai giống được. Tính cách bộc lộ là rất muốn ngao du với thiên hạ, gặp lại cảnh cũ, bạn xưa chưa quên vì nước Hồ (tức tình bạn của nhà thơ Đông Hồ-Mộng Tuyết NV) chưa cạn. Ba cháu có một nội tâm rất cao thâm, quên mình mà chỉ sống với thơ ca, kín đáo, thầm lặng không thích ồn ào, không thích dùng chữ "to lớn”.
Thân ái gửi thăm gia đình cháu.

Năm tháng trôi qua, mỗi người đều có gia đình và con cháu đề huề. Trong gia đình riêng, họ đều là người chồng, người vợ chung thủy, rất mực yêu thương cái tổ ấm của mình. Và dẫu cho cuộc sống còn nhiều bề bộn với bao toan tính, nhưng tình bạn của ba tôi và cô vẫn nguyên vẹn như xưa.
Sau giải phóng, ba tôi trở về, sống tại căn nhà cũ trước đây, ở thị trấn bé nhỏ, đìu hiu thuộc Bình Định. Từ thủ đô Hà Nội, tháng nào cô cũng thư vào thăm. Cô quan tâm đến từng bữa ăn, viên thuốc cho ba tôi. Mỗi lá thư là sự quan tâm, động viên để ba tôi vượt qua bệnh tật. Cô không bao giờ quên dặn dò thấu đáo như dặn một đứa trẻ: đừng quên uống thuốc, ngày uống mấy lần, uống vào lúc nào .
Xin chép một lá cô gửi cho ba tôi. Lá thư này, chữ có vẻ dễ đọc hơn

Hà Nội  10/2/1996
Kính gửi anh chị Yến Lan yêu quí
Anh Yến Lan ơi! Đêm qua anh có ngủ được không. Có ho nhiều không hả anh? Sáng dậy có thấy trong người dễ chịu không?
Mỗi lần chị đọc thư tôi cho anh nghe, anh hãy coi như tôi đang ngồi bên anh. Tôi đến thăm anh đấy mà. Tôi đang xoa những ngón tay của anh trong hai bàn tay tôi. Phải giữ cho ấm bàn tay, bàn chân. À anh có chịu khó hàng giờ uống một thìa xúp không nhỉ, rồi một thìa nước, thìa sữa nữa chứ!
 Tôi kể về tôi nhá! Hôm qua có đêm thơ "Mừng Đảng, mừng xuân trên ti vi” anh có xem không? Có mỏi mắt không, anh nhìn có rõ không? Gần đây ti vi hay có mục này. Mấy nhà thơ cao tuổi hay ngồi lại đọc và ngâm những bài thơ hay. Thầy cô giáo cũng hay tổ chức cho các em sinh viên đọc thơ của mình. Tôi rất thích nghe nhưng không nhớ câu nào cả, chỉ thỉnh thoảng nhớ vài câu của anh Xuân Sách. "Nhà càng lộng gió, thơ càng nhạt”. Tôi bị mất xoong thịt cháy đen vì cứ ngồi nghĩ đến câu thơ này.
Bữa khác chỉ vì cười lúc đang ăn cơm bị sặc ho phải bỏ bữa cơm vì câu: "Phật Tây Phương gầy tôi thì béo”  Nào tôi đã gặp anh Xuân Sách đâu nhưng tôi rất quí anh ấy. Giã, thật làm sao mà anh ấy đọc và tìm ra được một cái gì đặc điểm của mỗi nhà thơ, mà hàng trăm nhà thơ thì giỏi quá.
Tôi mới vừa đọc bài "Uống rượu với bạn đồng hương” trong cuốn "Hoa Với Rượu”. Đọc lại thôi chứ trước đây tôi đã đọc ở báo nào rồi. Vui, vui và đầy nhựa sống. Nói về say thì không có câu nào ví được với:
Đất say đất cũng lăn quay
Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười.
Chị Yến Lan ơi! Hôm nay bệnh tình anh thế nào rồi hả chị? Chị đọc trước thư tôi, chỗ nào không nên đọc thì bỏ đi nhé. Tôi không biết thế nào nhưng tôi cứ cho là bệnh nặng rồi đấy. Chị cố dỗ cho anh ấy uống xúp một giờ một thìa chị ạ. Hiện nay có cháu nào cùng ở với chị, các cháu thay phiên nhau xoa hai bàn tay hai bàn chân. Phải giữ ấm cho bớt run. À mắt anh có còn nhìn thấy chữ to không Có nhìn được bức ảnh, hình không chị  Chị bận lắm không phải trả lời thư cho tôi đâu, chị bảo cháu nào viết cho tôi vài câu ví dụ như – hôm nay anh bớt ho. Anh vui hay buồn. Tôi rất thông cảm với chị”
Thân ái và ký tên.
 Châu thị Hạnh  
                                   
  Hè năm 2002, ra thăm Hà Nội, tôi và má đem Hồi ký "Yến Lan, nhớ mãi về anh” vừa xuất bản, tặng cô. Cô liền khoe "Mình cũng vừa xem bài giới thiệu trên Báo "Người Lao Động”. Nói rồi cô vào nhà lấy ra một bìa sơ-mi cứng, màu hồng, vân đen; bên trong là những mẫu giấy được cắt từ báo ra. Cô cẩn thận lấy từng mẫu đưa tôi xem. Đó là những bài viết về Yến Lan Tôi sững sờ trước sức nặng "ngàn cân” của sự thủy chung, trọn vẹn, giàu tính nhân văn mà cô dành cho ba tôi…
Trước khi quay vào Sài Gòn, tôi đến thăm cô lần nữa. Cô nhìn tôi cười, nói nhỏ "Cô xem xong Hồi ký rồi, cháu giúp cho má viết được hồi ký này là giỏi lắm! Còn điều này, cô là người Hội An chứ không phải người Nam Bộ đâu” Rồi cô nói nhỏ với theo "Ba cháu là một người đặc biệt, rất khác với những người đàn ông khác. Ba cháu ý nhị lắm!”. Có gì đó sâu thẳm trong trái tim người đàn bà này mà tôi chưa rõ khi nói với tôi: "kể từ khi biết ba cháu đến nay, hễ đọc báo thấy tên Yến Lan thì cô lập tức lấy kéo cắt và giữ cẩn thận, không sót bài nào.” Câu cô nhận xét về ba tôi "ba cháu ý nhị lắm” khơi gợi trong tôi sự tò mò sẵn có. Cuối cùng tôi cũng tìm ra được điều ý nhị của ba tôi mà chỉ có cô mới thấu đáo; đó là khi đọc thơ của ông trên báo, hay nghe trên đài, cô liền nhận ra ngay "chữ nào, câu nào là ba tôi viết dành cho cô”
 Ví dụ bài thơ "Xào xạc lá đa”, viết tại Hà Nội, song hoài niệm về cái thuở hai người mới quen đã quay trở lại .
            Xào xạc sân chùa rụng lá đa
            Tuổi thơ như thế đến tìm ta                   
            Tiếng trong, tiếng đục nhòa nhân ảnh
            Tô thếp bao nhiêu vẻ nhạt mờ                                   
Cô không muốn tôi viết tên cô trong hồi ký. Thực ra cô quá lo xa đấy thôi. Mỗi lá thư gửi cho ba; má tôi đều cảm nhận được tình nồng thắm, thiết tha giữa hai người, song thật khó giải thích cho đúng nghĩa vì nó không mang dáng dấp của tình yêu giữa nam nữ để ta hiểu nhầm. Chẳng thế mà có lần, má tôi đã hỏi, và cũng tự hỏi mình "Tại sao hai người thương nhau như vậy mà không lấy nhau nhỉ?” Tôi nheo mắt nhìn má cười ý nhị, chậm rãi thưa: "Nếu nói về tình bạn của hai người thì hơi quá, nhưng về tình yêu thì chưa thấy gì”. Câu nói của tôi làm bà tức cười, mắng yêu : "Cha cái con này”.

Tái bút:
Có người hỏi tôi sao cô ấy “thiết tha đề nghị đừng viết tên cô vào đâu hết” mà tôi vẫn viết.
Tôi thành thật trả lời “Trước đây trong hồi ký “Yến Lan, nhớ mãi về anh” tôi thực hiện đúng lời đề nghị của cô, đã đổi tên cô là Hằng, nghĩ rằng cô sợ có sự ghen tuông, vì cả hai gia đình đều còn chồng, vợ. Nhưng nay tất cả đều đã đi rất xa rồi; tôi phải trả lại tên thật cho cô.
 Mà các bạn đọc bài có thấy cô nói vậy mà không phải vậy; đúng không nào     
                                                              Lâm Bích Thủy

READ MORE - BẠN GÁI CỦA CHA TÔI - Hồi ký của Lâm Bích Thủy

Wednesday, September 21, 2016

TÌNH PHỤ - Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy


        


                  
TÌNH PHỤ 
                    Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy 

Chuyện chú Ngọ gò o Mận cả xóm Bói đều biết, chỉ có mạ o là không hay. Mụ Bốn vui trong bụng khi thấy o Mận dạo ni làm siêng tối tối ra cắm ba cây nhang ở bàn thờ ông Thiên đầu cổng. Mụ nghĩ thầm “ Hắn còn nhỏ mà đã có lòng thờ phượng thì cũng mờng. Rồi trời phật phù hộ độ trì cho hắn “. 
Bữa nọ dậy sớm, mụ Bốn xách chủi rèng ra quét cổng ngõ. Mụ hầm hầm chưởi vang “Mệ nội đứa mô vặt hết đám chè tàu của tau trụi lủi”. O Mận tái mặt kéo tay mụ “Thôi mạ ơi! Tụi con nít hái chơi đồ hàng đó mà. Mạ chưởi chi cho mất lòng hàng xóm”. 
Khi hàng chè tàu đã lên những chồi non xanh biếc; khi bốn bàn tay của chú Ngọ và o Mận ý tứ không dùng để bứt lá thì mụ Bốn bắt đầu nhận ra những tín hiệu lạ từ con gái. O Mận xanh lét, cái cổ ngẳng ra, lông mày dựng đứng. O dấm dúi lặt những trái chanh non nhỏ xíu sau vườn chấm muối nhai rau ráu. Mụ Bốn thả cái mẹt gạo xuống nền nhà, nắm tóc o Mận kéo vào buồng, vạch áo ra. Trên bộ ngực thanh tân, hai cái núm vú đã chuyển màu nâu sẫm. 
Mụ Bốn ngồi bệt xuống đất, thở không ra hơi . “Mi…mi…cái đồ thúi tha, rượng đực.Thằng mô…Thằng mô…Trời ui là trời…” Tóc o Mận rối bù đổ xuống vạt áo đứt nút. O khóc “Con lạy mạ…con xin mạ…Để con nhủ eng đi đám nói” 
Nhưng cái đám nói mà o Mận hy vọng đã không diễn ra. Nhà Ôn Xạ chê mụ Bốn nghèo, con gái mà hư thân mất nết. Biết đó có phải là con thằng Ngọ không hay “Con ai đem bỏ chùa này?” Mụ Xạ ra chợ gia binh trên Cầu Lòn quệt hai ngón tay quanh cái miệng đầy cốt trầu “Tui không làm cao dưng mà nhà nớ khôn bì được.Tui không bưng trầu cau đi hỏi con gái hư. Thời tui lấy dôn, ôn Xạ phải nằm dưới đất một tuần. Có mô dư con cấy thời ni “Bạ mô là dà, ngã mô là chờng”. 
Dù bị mạ nhốt trong buồng nhưng o Mận cũng tìm cách gặp được chú Ngọ một lần. O chảy nước mắt hỏi “Eng còn thương tui khôn?”. Chú Ngọ chắt lưỡi “Em cứ hỏi chi như con nít năm tuổi, thương chớ răng không thương!”. Chú Ngọ không biết rằng khi lo âu, người ta cứ muốn nghe mãi những câu khẳng định, những câu làm cho người nhận cảm thấy an tâm. Câu trả lời của chú trớt quớt như tránh né. Chú chán rồi chăng? Không biết. Chỉ biết rằng tháng sau chú tình nguyện đi lính như bài hát đang oang oang trên đài phát thanh chi khu Mai Lĩnh “Đi quân dịch là thương nòi giống”. 
O Mận biết tin chú Ngọ bỏ nhà đi qua ba dòng chữ chú nhờ thằng Tí Em dấm dúi. Xưa nay trong xóm Bói, chú Ngọ nức tiếng “miệng dẽo như kẹo kéo”. Trên đầu giường của gã con trai trình độ lớp đệ lục Trường Tư Thục Thánh Tâm này là một đống tiểu thuyết của bà Tùng Long, Trọng Nguyên, Nghiêm Lệ Quân…Mấy dòng chữ chú viết cho o Mận y hệt thư của chàng công tử Triệu Vỹ viết cho cô gái Mỹ Lan trong tiểu thuyết Bên dòng sông Trẹm của nhà văn Dương Hà “Em đừng trách anh. Chúng mình có duyên mà không có nợ . Anh còn trách nhiệm đối với giang sơn tổ quốc. Mình hẹn nhau kiếp sau”. Ui trời, nếu ông tổng thống Thiệu nghe được, chắc tên chú Ngọ sẽ được lên nhật trình. 
O Mận trợn trắng con mắt, đấm ba cái bịch bịch vào bụng, cười khanh khách, xé lá thư của chú Ngọ làm hàng chục mảnh nhỏ tung lên trời. O bỏ ăn, nằm bệt trong xó buồng tối, khi khóc tru tru, khi cười ngô nghê. 
Bây chừ thì mụ Bốn lo lắng. Mạ nào mà chẳng thương con. Huống chi xưa nay o Mận nỏ phải là thứ gái lẳng lơ. Ôn Bốn chết sớm, mụ ở vậy nuôi đứa con gái độc nhất, nhà có nghèo nhưng đâu đến nỗi con cái hoang đàng. “Con ơi, con ăn một chút cho mạ nhờ. Thôi thì “con dại có cháu ngoại bồng”. Mạ không la con nữa mô”. 
Mụ Bốn cúi mặt lầm lũi đi chợ bán hàng, mặc kệ thiên hạ chỉ chỏ bàn tán. Được bao nhiêu tiền, mụ mua cá giếc nấu rau răm cho o Mận ăn hạ hỏa. Mụ lùng cá bống thệ kho khô để o ăn cháo gạo hẻo rằn. Mụ còn dấm dúi rút trong số tiền để dành hậu thân hậu thổ ra ngoài chợ Tỉnh vào tiệm Đức Thọ Đường bổ cho con mười thang thuốc Bắc. 
Không hiểu nhờ thầy thuốc mát tay hay vì lòng thương mạ mà dần dần bệnh tình o Mận thuyên giảm. O đã ra được đầu hè ngồi phơi nắng cho mụ Bốn rẽ tóc bắt chí, cái bụng thè lè như con ểnh ương. Mái tóc đẹp nhất xóm bây chừ xơ xác, lởm chởm như trải qua cơn bệnh thương hàn. Làn da xanh và mỏng, nắng soi qua được. Không ai còn thấy nụ cười o Mận. 


Bà mụ Thơm loan báo o Mận đẻ được một thằng cu cái mặt “ y chang thằng cha Ngọ”. Tràng hoa quấn cổ. Đập vào mông ba cái mới khóc oe oe. Thằng này chắc sau làm lớn lắm đây. Xóm Bói lại có một đề tài sốt dẽo cho mấy mụ đàn bà vô công rỗi nghề bàn tán.  Quán nước chè của mụ Tươi bỗng dưng đắt hàng, chiều mô cũng có người ghé chuyện trò râm ran. 
Mụ Xạ lảng vảng nghe ngóng, thăm dò. Đàn bà thường hay quên. Mụ Xạ cũng quên tuốt những lời chửi mắng o Mận của mình trước đây. Dù răng chú Ngọ cũng là con trai duy nhất trong bầy con sáu đứa, hủ mắm treo đầu giàn. Mụ về thì thầm với ôn Xạ “Hay mình qua nhìn cháu? Hắn đi trận mạc lỡ có chuyện chi thì còn có thằng đội mũ mấn”. Ôn Xạ gạt phắt “Kì ni thằng Ngọ về phép, cưới cho hắn con vợ thì có cháu ngay. Mắc chi mụ lo”. Mụ Xạ tần ngần nhưng sợ chồng nên cũng im re. Thi thoảng có việc ra cánh đồng Long Hưng, ngang nhà o Mận, mụ che nón nhưng mắt len lén dòm vào coi có gặp ai bồng thằng cháu không. 
Thằng con o Mận, nhờ trời thương nhà nghèo, ăn ngủ ngoan như con cun cút. Căn nhà tranh trong khu vườn chuối im ắng, không hề nghe tiếng à ơi. O Mận ru con bằng những lời thầm thì trong cổ họng. Lắng nghe kỹ loáng thoáng mấy câu: 
Eng nói với tui như rìu chém xuống đá 
Như rựa chém xuống đất 
Như mật rót vào tai 
Bây chừ eng đã nghe ai 
Bỏ tui giữa chốn non Đoài khổ chưa 
Mệ Thơm hàng xóm qua chơi thì ít, dòm ngó thì nhiều. Mệ chép miệng “Thôi, cho cháu về dòm ôn bà nội đi. Có ghét chi thì cũng là cháu đích tôn”. Mụ Bốn dài môi “ Đích tôn thừa trọng, đứt họng lòi da. Bước vô nhà ni, tui chém chết”. 
Ôn Trưởng ấp vô giục giã làm giấy khai sinh. O Mận chỉ hé răng nói một câu “Mạ Lê Thị Mận. Con là Lê Hận. Rứa thôi!” 


Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò… thằng cu Hận lớn nhanh như thổi. Mới đó đã chập chững biết đi. Rồi cũng phải nghĩ đến chuyện làm ăn. Nhà một mạ một con, mụ Bốn mỗi ngày một yếu. 
Sau ba đêm bàn bạc, mụ Bốn nhờ chú Hoạt làm một cái quán tranh gần Ngã ba Long Hưng, cất nhờ trên đất ôn Bá bà con xa, cạnh lò gạch Trương Kế. Quán bán mấy chai bia con cọp, vài chai xá xị, dăm ba thẩu kẹo bánh. Buổi sáng thì có thêm bó rau, trái cà trái mướp của mấy nhà trong xóm. 
Rứa mà quán đông khách mới lạ.Trước hết là mấy mụ đàn bà. Ghé quán làm chi? Để coi thằng Hận có giống chú Ngọ khôn? Để coi mặt mày o Mận bữa ni ra răng? Mà chả lẽ đi không. Thôi thì mua bó rau, củ hành cho có chuyện mà trạo. 
Thứ hai nữa là mấy chú lính Địa Thiên Lôi ở trạm gác Long Hưng. Ngồi lâu cũng mệt, ghé quán làm ly bia giải khát, ngó cô bán quán cũng hay.
Thứ ba nữa, đúng như lời ôn cha nói: “Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà mái ghẹ”. Sau gần cả năm ở biệt trong nhà, o Mận đẹp ra. Da trắng, tóc xanh, ánh mắt xa xăm và không hề cười dù người khác kể chuyện tiếu lâm. Tất cả làm o thêm phần bí ẩn. 
Chi khu Mai Lĩnh thành lập, hàng o Mận tự dưng có nhiều khách mà đông nhứt là lính. Không chỉ lính Địa phương quân mà còn là lính của Trung đoàn I, lính Tiểu đoàn 11 Pháo binh … Thời buổi chiến tranh, đời lính sống nay chết mai, sau những cuộc hành quân trở về hậu cứ , họ cần nhìn người nữ cho đời thêm tươi, để có chuyện mà kể khi ôm súng nơi tiền đồn. Không với được gái tiểu thư thì ra quán ngắm gái một con cũng đặng. Dù cô chủ không cười với một ai nhưng ánh mắt của cô cũng làm mát lòng chiến sỹ. Vậy là mụ Bốn nghỉ chợ búa, quanh quẩn trong nhà, mọi chuyện giao cho o Mận. Trước không giữ được, chừ còn cái chi mà giữ! Quán cứ đắt và o Mận cứ lạnh lùng… 


“Chú Ngọ về!”. Thằng Tí em vừa chạy vừa la. Mụ Xạ bỏ dở con dao xắt chuối, lạch bạch chạy ra. Ôn Xạ đang ngồi kéo thuốc lào cũng lật đật gác điếu. Xóm Bói đỗ vội ra dòm. 
Chú Ngọ mặc bộ áo quần nhà binh còn mới, cái loon binh nhất trên vai, ba lô sau lưng. Gặp ai chú cũng cười, hàm răng nổi bật trên khuôn mặt đen như ảnh ông Chà Và ngoài ống kem Hynos. Nhà ôn Xạ chật ních người. Chú Ngọ ra đi có thư từ chi mô. Đông nhất là lũ con nít đứng chắp tay ngơ ngáo dòm, rồi mấy mụ đàn bà. Lại đàn bà xóm Bói! Họ chờ coi nhà ôn mụ Xạ nói chuyện chi. 
Nhưng đúng là nhà ôn Xạ! Chú Ngọ thay áo quần xách gàu ra giếng; Ôn Xạ tiếp tục cử thuốc lào; Mụ Xạ đi nhốt con gà tơ chuẩn bị nấu cháo. Không ai nói gì. Đám con nít thấy không có chi hấp dẫn bỏ về trước. Mấy mụ đàn bà cũng tẻn tò rút lui. 
Đêm hôm đó, sau khi lai rai ba xị đế với cái giò gà, chú Ngọ nằm dài thoải mái trên bộ ván ngựa nghe Út Trà Ôn ca vọng cổ bài Tình anh bán chiếu. Dọn dẹp xong, mụ Xạ lại gần con trai hạ giọng: 
- Hắn đẻ rồi mi! 
Chú Ngọ hỏi: - Mạ nói ai? 
Mụ Xạ chắt lưỡi: - Thì con nớ, con Mận đó. 
Chú Ngọ bắt tréo chân: -Tưởng chuyện chi! Đẻ thì đẻ chớ. Lâu quá rồi mà… 
Mụ Xạ thì thầm: - Con trai mi nờ! 
Chú Ngọ tỉnh bơ: - Mạ muốn cháu à. Tui cho một đống. Tui có bồ rồi. Gái Sè goòng đàng hoàng. Gái nhà quê ni kiếm mô chẳng được. 
Phía bên tê giường, ôn Xạ tằng hắng :
 - Sáng mơi, hai mạ con qua bên nớ thảy cho nó mấy ngàn bạc đem thằng cu về. 
Chú Ngọ quay mặt vô vách ngáy. Mụ Xạ loay hoay trong buồng với cái rương bằng gỗ lim. 


Mụ Bốn đang cho thằng Hận ăn trên hè. Thằng bé bước lẩm chẩm trên nền đất nện, lâu lâu vấp ngã lại cố đứng dậy cười sằng sặc. Cái thằng được cả nết ăn lẫn nết ngủ, có vậy o Mận mới thay mụ gánh vác cả gia đình. Chiều ni o mua được mớ cá tươi, lúi húi kho dưới bếp, mùi thơm lan tỏa trong nhập nhoạng. 
Có bóng người đi vào sân. Con chó vện nằm dưới gốc bưởi gầm gừ. Mụ Bốn lấy tay che trán dòm ra. Ai tới chơi cử ni? 
Mụ Xạ đặt chiếc nón dưới mái hiên, chiếc nón như một phương cách cho mụ trốn lánh ánh mắt hàng xóm. Ấy thế mà chú Ngọ thản nhiên huýt sáo đi nghênh ngang đằng sau. Mụ Xạ cất tiếng: - Chào ả! 
Bây chừ thì mụ Bốn đã nhận ra. A, nhà cái thằng đã làm cho mạ con mụ khốn khổ. Mụ mát mẻ: - Mụ tới nhởi hay có chuyện chi? Nhà ni nghèo mô xứng. 
Mụ Xạ dòm thằng bé. Ui chao. Giỏ nhà ai quai nhà nấy. Cái mặt nớ đích thực là mặt thằng Ngọ thời nhỏ. Cũng con mắt to, cái mũi hơi gồ… Mụ mê man. Phải chi được hun nó một chặp. Mụ kéo tay chú Ngọ: 
- Tui đưa cháu tới xin lỗi ả và con Mận… 
Mụ Bốn xốc cháu lên: - Lỗi phải chi mà xin! 
Chú Ngọ tự tin bước vào nhà ngồi xuống cái chõng tre. Chú biết o Mận yêu chú lắm lắm. Ở hàng chè tàu ngoài tê o đã từng cắt cho chú một lọn tóc thề nguyền. Không biết chú vất chỗ nào rồi. Chẳng nhớ. Mục đích chú đến đây cũng chỉ vì thằng cu. Đem được nó về nhà là tốt cho ôn mệ già. Còn chú. Trai giang hồ, thiếu chi. Cỡ như o Mận, gái nhà quê, nước gì! 
Mụ Bốn tay run run thắp ngọn đèn dầu. Thiệt sự trong tâm mụ, nếu như nhà ôn mụ Xạ biết lỗi đưa hai mạ con về thì mụ cũng cam tâm. Lòng mụ khi nào cũng thương con. Mong hai mạ con nó yên lành thì mụ cũng yên tâm nhắm mắt. 
Mụ Xạ thân mật : 
- Thôi đèn đuốc mà chi. Ả ngồi tui nói chuyện… 
Chú Ngọ tay ngoắt ngoắt thằng bé, dứ dứ gói bánh trong túi. Mụ Bốn kéo cháu vào lòng:
 - Có chuyện chi mụ cứ nói. 
Mụ Xạ tằng hắng: 
- Hôm ni chúng tui qua đây nói chuyện với mụ. Con cháu ai mà không thương. Dù răng đây cũng là hột máu của nhà tui. Mọi chuyện dĩ lỡ rồi.Thôi, xin mụ cho cha hắn nhận con, cấy dôn tui nhận cháu… 
Mụ Bốn ngớ người ra. Nhận cháu thôi à! Mụ có lãng tai khôn? Té ra tui nuôi công cốc cho mấy người a? Té ra con tui đẻ cháu ra cho không mụ a? 
Như để tăng sức mạnh cho câu nói của mình, mụ Xạ rút trong bọc ra gói ni lông cột chặt: 
- Tui cũng bù chì cho mụ chút ít, cho con Mận chút vốn đi lấy dôn… 
Từ dưới nhà bếp, o Mận chạy vụt lên. Không ai nhận ra người con gái hiền lành của xóm Bói nữa. Mắt o long sòng sọc, mặt đỏ gay: 
- Mấy người định cướp con tui đi à? Đồ khốn nạn! 
O chỉ tay vào mặt chú Ngọ: 
- Thứ điếm đàng! Đồ sở khanh! 
Chú Ngọ chụp lấy tay o Mận. O giật ra: 
- Đừng đụng vào người tui. 
O Mận đùng đùng chạy xuống bếp. Người ta nghe tiếng dao liếc xoèn xoẹt vào đít chén. O định làm chi? Chém chú Ngọ hay răng? O lại chạy lên.Trời đất ! O kê ngón tay trỏ vào cạnh bàn, chém cái bụp. Lóng tay đứt rời ra, bay xuống đất. O Mận, giọng run rẩy, căm giận : 
- Cút xéo! Lời nguyền của tui đó. 
Mụ Xạ đứng bật dậy, chụp mớ tiền trên mặt bàn vội vã bước ra. Chú Ngọ cũng theo bén gót. Gói bánh rơi xuống đất. Con chó vện chạy lại táp vội. Tiếng thằng cu con khóc thét… 


Trong số người hay ghé quán o Mận có chú Phê, tài xế thiếu tá Thông,Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 11 Pháo Binh đóng ở trại Nguyễn Văn Thoại, đường lên La Vang. Chú Phê người cùng làng Diên Thạnh, huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hòa với thiếu tá. Lúc còn nhỏ, có lần thằng Phê đã cứu một thằng nhóc khác xém chết đuối dưới cầu Hà Dừa.Thằng nhóc đó chính là ông thiếu tá hiện tại. 
Cuộc đời đưa đẩy, chú Phê gặp lại ông Thông lúc ông còn làm sỹ quan Đề lô cho đại đội 4, tiểu đoàn 3 thuộc Sư đoàn 22. Cảm cái ơn cứu tử, đi đâu thiếu úy Thông cũng dắt dìu chú binh nhì này. Ông đổi từ Nam ra Trung, từ sỹ quan tác xạ qua Pháo đội trưởng, từ ban III lên Tiểu đoàn phó cho đến khi ra vùng địa đầu hỏa tuyến với chức Tiểu đoàn trưởng. Và chú Phê theo “ông thầy” như bóng với hình. Chỉ có chú Phê mới biết ông thiếu tá thích ăn cơm cháy với tóp mỡ, thích uống cà phê không đường pha thật đậm. Áo quần của ông thiếu tá, ngoại trừ bộ đồ treillis phải ra tiệm hồ cứng thì tất cả đều do tay chú Phê giặt giũ. Có thể nói chú vừa là tài xế, vừa là quản gia, vừa là đầu bếp cho ông thầy.
Lo cho ông thiếu tá, chú Phê quên luôn cả bản thân. Quay đi quay lại, chú đã hơn ba mươi đeo loon trung sỹ mà vẫn chưa có mảnh tình vắt vai. Ông thiếu tá có nhắc thì chú gãi tai cười hì hì nhe cái răng vàng bên khóe miệng. Ấy thế mà dạo này chú hay ghé quán o Mận mới kỳ. 
Mọi chuyện cũng có nguyên do. Cô người yêu của ông thiếu tá thích ăn ổi mà bữa đó đi ngang quán, chú Phê thấy có mớ ổi thật ngon. Muốn ông thầy “lấy điểm” với nàng, chú Phê thắng xe mua hết rổ. Trong khi chờ o Mận tìm cái bịch ni lông, chú Phê bồng thằng cu cho nó bấm còi chiếc Jeep “tin tin”. Thằng bé khoái chí cười tít mắt và khi chú Phê lái xe đi thì nó khóc òa. Đã từng nghe câu chuyện của cô chủ quán nên trái tim nhân ái của người đàn ông chơn chất này thấy tội. Và từ đó mỗi khi chở ông Thiếu tá về hậu cứ Tiểu đoàn thì chú Phê lại ghé quán cho thằng cu ngồi trên cái ghế bác tài bóp còi thoải mái. Chú không ba lơn ba cợt như mấy tay tới tán o Mận; chú cũng không ra dáng ta đây lái xe Jeep. Chú lấy thùng gỗ pháo binh đóng cho o Mận mấy cái ghế đẩu, làm cho thằng cu con ngựa phi nhong nhong, lại chịu khó xuống dưới pháo đội tác xạ xin tấm bạt che mưa tạt bên hông quán. O Mận pha cho ly nước chú cũng chỉ nhe răng cười thay lời cám ơn. 
Một bữa nọ, khi lái xe chở ông thầy vô Huế họp ở Bộ tư lệnh tiền phương Sư Đoàn I, chú Phê ghé chợ Đông Ba mua chiếc nón bài thơ có cái quai màu tím, lại mua thêm một chiếc xe nhựa .Tất cả được gói ghém cẩn thận bỏ phía sau xe. Thiếu tá Thông trợn mắt:
 - Mày mua cho ai đây Phê? 
Chú Phê gãi tai, đỏ mặt: 
- Người ta gởi…Thiếu tá. 
- A, thằng này ngon hơn cả tao. Bộ có bồ rồi hả? 
- Chưa thiếu tá, đang ở giai đoạn dò dẫm. 
- Tác xạ nhanh cho tao.Tiểu đoàn vừa nhận thêm mấy khẩu pháo 155 ly. Đừng làm mất mặt dân Pháo binh nghe mậy. 
Hai thầy trò cùng cười sảng khoái. 


Mưa dầm thấm lâu. Từ những chăm nom lo lắng chân tình của chú Phê với cái quán, với thằng Hận, o Mận không còn có thái độ lạnh lùng. O chưa cười với chú nhưng thái độ có khác so với người ta. O nhẹ nhàng cám ơn khi chú cho thằng Cu gói kẹo, chở cho mụ Bốn mấy bó củi chụm bếp. O dư biết chú Phê thương mình nhưng o như con chim sợ cành cây cong. Hơn nữa, chú Phê quê quán xa xôi quá, biết người ta thiệt hay giả. 
Rồi có ai đoán được chữ ngờ. Buổi sáng trước khi dọn quán, o Mận nghe mụ Bốn than đau đầu, mặt đỏ ửng. O định nghỉ bán nhưng mụ Bốn sợ ở nhà thì mấy nải chuối chín hư nên xua tay quầy quậy “Đi đi. Có chi mô. Chút mạ hái nắm lá diếp cá giã đắp đầu hết liền”. 
Buổi trưa o Mận nhờ người giữ quán rồi chạy về coi mạ ra răng và lấy chén cơm cho thằng cu thì thấy nhà im ắng. O vô buồng thấy mụ Bốn trùm chăn nằm trên chõng. O lay lay “mạ ơi, mạ ơi” thì thấy người mụ lạnh ngắt. Hỡi ôi, mụ chết tự lúc nào! Cái đó người nhà quê gọi là trúng gió. 
Đám tang mụ Bốn là cơ hội để chú Phê cho o Mận thấy tấm chân tình của mình. O Mận chân yếu tay mềm, thờ thẩn như người mất hồn, người ta kêu chi làm nấy. Chú Phê nhờ mấy tay trong đội mai táng tiểu đoàn tẩm liệm, thiếu tá Thông thương thằng đệ tử cho mượn thêm hai chiếc xe Dodge, lại xin cho miếng đất trên nghĩa trang quân đội La Vang gần cái chùa có thầy Tuyên úy kinh kệ. Dòm đi dòm lại trong xóm Bói, đám tang của mụ Bốn coi bộ đàng hoàng nhất. 
Một năm sau, cảm cái nghĩa của chú Phê, ngày giỗ của mụ Bốn là ngày o Mận nhận làm vợ chú. O dẹp quán, đóng cửa nhà, lên trại gia binh tiểu đoàn ở. Một năm nữa, thằng cu có em. Chú Phê nói với o Mận làm lại giấy khai sinh cho thằng cu. Anh là Hân, em là Hạnh, bỏ cái dấu nặng đi. Đừng để cái khai sinh cũ lớn lên nó tủi. O Mận cảm động gật đầu. 
Năm 1971, sau trận Hạ Lào, thiếu tá Thông lên trung tá và có sứ vụ lệnh đổi về Nha Trang làm Tiếu đoàn trưởng Tiểu đoàn 63 Pháo binh. Thôi thì cũng là một cơ hội để biết quê chồng và cũng giã từ cái xóm Bói làng Thạch Hãn với những đau buồn trong quá khứ, gia đình chú Phê sắp xếp đi theo ông thầy. 
Leo lên chiếc máy bay Chinook, từ trung tá Thông cho đến hai vợ chồng chú Phê đều ngậm ngùi. Chỉ có hai thằng cu toét miệng ra cười. 
Tháng 4 năm 1975, từ đèo Phượng Hoàng, Trung tá Thông di tản về và kẹt cứng ở Nha Trang. Ông trốn lánh và không ra trình diện chính quyền mới. Chính chú Phê đã tìm mọi cách để đưa ông thầy về Sài gòn. Chú móc nối với người bà con và một đêm tối trời, chú đã đưa trung tá và gia đình lên Chụt xuống ghe. Nửa chừng nghe qua radio chính quyền Sài gòn buông súng họ đi thẳng ra khơi và lên tàu Midway của Mỹ. 


Tháng Tư chú Ngọ cũng trở về làng. Nhờ thành phần hạ sĩ quan, chú chỉ phải học tập “đường lối chính sách Cách mạng” trong năm ngày. Nhưng làm gì để ăn đây? Xóm làng tiêu điều xơ xác. Người đi kinh tế mới, người di dân tự do vô Nam. Ôn mụ Xạ đã già, ruộng đất thành của Hợp tác xã. Chú Ngọ vác cuốc đi hai ngày rồi về nằm thở dốc. Xưa nay chú là loại ăn bơ làm biếng, đi lính cũng chỉ làm “ lính cậu”. Bây chừ làm răng? 
Mụ Xạ xưa nay vốn là người nhìn xa trông rộng . Một hôm, mụ nhấm nháy chú Ngọ : “Mạ thấy mi lấy con Lịch coi bộ được đó con”. 
- Con Lịch mô mạ? 
- Con mụ Thù có ôn chồng mới đi tập kết về đó mi. 
Chú Ngọ trợn mắt: - Ui! Cái con “Mắt chỉ thiên, mắt ngưỡng địa” đó hả? Cái con mười sáu tuổi còn đái mế thúi hoắc đó hả? 
- Mệ nội mi. Hắn thúi mà lí lịch hắn thơm. Mi làm chi được với cái danh “Ngụy”… 
Rồi mụ nói như dỗ dành:
 - Có điện đóm mô mà sợ. Tắt đèn nhà ngói như nhà tranh con à. Thời ni có cơm ăn là tốt rồi. 
Chú Ngọ càu nhàu : 
-Tui mô mà hạ giá rứa trời ! 
Nhưng quả thật. Lúc đói mới biết giá trị của miếng ăn. Nhà mụ Xạ từ ăn độn chuyển sang ăn sắn lát, rồi bo bo. Đến khi bo bo cũng không có để mà ăn thì chú Ngọ đành lấy cô Lịch thôi. Lấy cô Lịch chú sẽ có cái chức “Đội trưởng”, sẽ có gạo “Tiêu chuẩn” và sẽ chấm mút được chút công điểm của bà con . 
Đám cưới của chú tổ chức trong gian nhà kho của Hợp tác xã, có kẹo Hải Hà, có thuốc lá Điện Biên giấy bạc. Mọi người hoan hỉ vì thiếu chất ngọt từ lâu, mỗi người đến dự được phát ba cái kẹo mà ít ai dám ăn, toàn bọc túi để dành. Đi bên cạnh bà vợ xà nẹo cười toe toét, chú Ngọ bỗng dưng nhớ đến nụ cười chúm chím và mái tóc ngát mùi hương nhu của o Mận một thời trong quá khứ… 
Quả là o Lịch mắn đẻ hay là mạ già ruộng ngấu. Chỉ trong sáu năm , lần lượt bốn đứa con ra đời. Ngặt một nỗi toàn con cấy. Chú Ngọ là con trai một, mụ Xạ đêm ngủ không ngon giấc. Mụ trút nỗi dằn vặt lên o Lịch. Thoạt đầu là những câu bóng gió xa gần. Rồi sau là những câu chạm mặt “Thứ đồ không biết đẻ”. O Lịch cũng không vừa. Ta là gái dòng giống Cách mạng mà. Ngụy như bên nớ lấy được mừng húm. “Mạ cũng đẻ một bầy vịt trời, nói chi tui.” 
Ôn Xạ đã chết, mụ Xạ ngày một già, nói chi lại. Mụ thắp hương cầu khấn trên bàn thờ, ngoài cổng ngõ mặc kệ con dâu chê “dị đoan, không theo đời sống mới”. Thỉnh thoảng trong những giấc ngủ nửa đêm về sáng, khuôn mặt thằng cu con o Mận chập chờn hiện ra. Chao ui cái thằng. Giống cha như đúc… Biết chừ ở mô. 
Mấy đứa cháu nội gái hùa theo mạ ăn nói chỏng lỏn, đanh đá. Đôi khi mụ Xạ nhớ lại những câu nói mình rũa xả o Mận. Phải quả báo không trời. Nước mắt mụ ứa ra. 
Hợp tác xã làm ăn thua lỗ giải thể. Ông bố vợ Cách mạng đã về hưu không giúp chi được, chú Ngọ đành đi xe đạp thồ. Sáng sáng chú chở gánh hàng của mấy o buôn chuyến lên ga Quảng Trị kiếm đồng bạc. Thời buổi của khôn người khó, thêm mẹ già và mấy cái tàu há mồm, gia cảnh chú càng lúc càng bí bách. Đôi khi chú soi mặt mình vào gương. Chao ơi! Còn đâu thằng Ngọ một thời vang bóng. 
Thời gian qua…Mụ Xạ chết vào một buổi chiều mùa đông lạnh lẽo. Gió hun hút trên mái tranh. Mụ nhìn chú Ngọ như muốn nói điều chi mà không còn sức. Đôi môi mụ mấp máy. Chú Ngọ cúi sát người nhưng nghe không rõ. Đôi tay mụ bắt chuồn chuồn rồi duỗi ra. Người đàn bà uy quyền một thời của xóm Bói… 
Rồi sức khỏe chú Ngọ cũng không bì lại với tụi thanh niên trai tráng. O Lịch mở một cái quán nước cho mấy đứa nhỏ tập buôn bán. Chú Ngọ ngồi nhà lúi húi trồng rau sau vườn. Chú kiếm cây chè tàu về trồng hàng rào. Đất Quảng Trị trồng cái chi cũng khó, chỉ có cây chè tàu không ăn được thì mỗi ngày mỗi xanh um… 
Hai mươi năm sau ngày qua Mỹ, trung tá Thông mắc bệnh ung thư. Những ngày cuối đời, nguyện vọng của ông là được thiêu xác và đem về rải trên dòng sông Hà Dừa quê hương. Chú Phê lại là người được ủy thác nhiệm vụ này. 
Hai đứa nhỏ giờ đã trưởng thành. Thằng Hân có công ăn việc làm ổn định, thằng em đang đại học. Chú Phê bàn với o Mận kết hợp cho chúng nó về thăm Việt Nam, thắp nén nhang cho hai bên nội ngoại. Thôi thì “ Đất có tổ, người có tông”, o Mận bằng lòng. 
Xóm Bói bây giờ thay đổi quá nhiều. Hai vợ chồng ngơ ngẩn như Từ Thức về trần. Những người xưa đã khuất bóng và phiêu dạt nơi đâu. Ngã ba Long Hưng không còn. Con đường lên La Vang giờ nhìn nhỏ như sợi chỉ. Nhìn quanh toàn những người xa lạ. O chú cải táng cho mụ Bốn rồi đưa tro cốt vào gửi trong chùa. 
Trong khi chờ chồng đi tìm tài xế, o Mận dắt hai con vào một cái quán bên đường. Cái quán nghèo nhưng có hàng chè tàu cắt phẳng phiu thật trông thật đẹp.Thằng em chăm chú nhìn và hỏi thằng anh: -What’s name ? 
Thằng anh lắc đầu:
 - I don’t know. Let's ask Mom. 
O Mận nói với con: 
- Cây chè tàu. 
Hai đứa cười và nhái lại :
 - Che tau…che tau… 
Không ai biết nép sau cánh cửa tre xập xệ , một người đàn ông đứng lặng. Đó chính là chú Ngọ. Dù thời gian đã quá xa xôi nhưng chú vẫn nhận ra người đàn bà sang trọng kia chính là o Mận, người con gái ngày xưa chú phụ rẫy. Bàn tay trái có một ngón cụt lóng đặt hờ hững trên chiếc xách. Và thằng bé trai với những đường nét thân quen…Trong đầu chú hiện ra hình ảnh người con gái đứng bên hàng rào chè tàu, tay lúng túng bứt những chiếc lá, mắt cười lóng lánh …Rồi một buổi chiều…cây dao…lóng tay… 
Xe đã đến. Ba người lên xe. Nụ cười khanh khách của hai đứa con trai vang vọng. Làn bụi mỏng bay theo chiều gió…Tiếng ru con của người hàng xóm cất lên: … À ơi …Vàng mười chê đắt không mua…Đi mua vàng bảy …À ời… thiệt thua trăm đường…à ơi… 
Chú Ngọ ôm mặt. Hai dòng nước mắt chảy qua kẽ tay. 

                                                               Ngô Hương Thủy

READ MORE - TÌNH PHỤ - Truyện ngắn của Ngô Hương Thủy