Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, August 23, 2019

MƠ THU | NẮNG LẠC CHIỀU THU | ĐỢI MÃI CHIỀU THU | Chùm thơ mùa thu | Phong Nguyễn



Nhà thơ Phong Nguyễn


Chùm thơ mùa thu
Phong Nguyễn

MƠ THU

Nắng thu vàng lung linh trước ngõ
Ướt chân mềm, thảm cỏ sương đan
Dấu tình lỡ nốt chấm than !
Hỏi thu biếc, có miên man nỗi lòng

Mưa ngâu nhẹ ngoài song cửa sổ
Thương lá vàng rụng đổ đêm qua
Ai về xếp lại tình ta
Cái thương ấy, chỉ như là mộng thôi

Biết rằng thế, Vẫn phôi phai nhớ
Tiển hạ chiều. Đón gió đầu thu
Ngậm ngùi khúc hát lãng du
Vòng quanh cỏi mộng mà ru kiếp tình

23/8/15
Phong Nguyễn

NẮNG LẠC CHIỀU THU

Nắng đã loang màu bên lối cũ
Thu chiều man mác nhẹ vàng rơi
Tóc ai nhuộm kín màu sương trắng
Năm tháng xa rồi mãi khôn nguôi

Chiều nghe gió lạ đùa bên nớ
Vô tình nghiêng nhẹ lá vàng bay
Cớ sao em mãi còn đâu đó
Mặc nắng hanh vàng lạc chiều nay

Thế thôi một chút heo may nhẹ
Cho lòng say đắm buổi thu về

Phong Nguyễn
21-7-2016


ĐỢI MÃI CHIỀU THU

Vẫn miên man cất tiếng gọi tình
Con chim khách đã về hôm trước
Mãi tìm ai, dấu chiều chân bước
Trên đầu thu, lá đã thay màu

Bước lữ hành anh mãi nơi đâu
Có nhận ra nắng vàng mùa gọi
Tóc điểm trắng mái đầu ai đợi
Qua mùa thu, thu lại đi qua

Màu tím nhớ nụ cà đã ra
Mắt vẫn đăm nhìn về một hướng
Cuối con đường mờ trong gió chướng
Mà xa xăm chẳng thấy đi về

Bến chiều xưa, đò gác sông quê
Ông lái chép miệng hoài ức cũ
Đã bao mùa gió và cơn lũ
Cuốn tình em trắng với thời gian

Con chim khách vẫn mãi miên man
Hoài công gọi bạn tình trong nắng
Nơi đó anh. Ngày dài trống vắng
Thu đã về buồn lắm trông theo

Phong Nguyễn
14-4-2016

READ MORE - MƠ THU | NẮNG LẠC CHIỀU THU | ĐỢI MÃI CHIỀU THU | Chùm thơ mùa thu | Phong Nguyễn

KÝ SỰ: VỀ NHỮNG MIỀN ĐẤT HỨA - Phần 5 và 6 - Khê Giang

Tác giả Khê Giang


KÝ SỰ: VỀ NHỮNG MIỀN ĐẤT HỨA
Khê Giang

Phần 5: Món quà quý giữa Trường Sơn Đông và buổi hội ngộ những người bạn Sơn Tây.

Bữa cơm chia tay tại nhà sàn được vợ và con gái A Ji Đeng vào bếp. Các món ăn được bày biện một cách đơn giản nhưng ấm cúng. Già Đeng và ông cậu cùng ngồi ăn cơm chung với chúng tôi. Qua chén rượu miền xuôi (do chúng tôi mang theo) ông hồ hởi kể tiếp chuyện buôn làng, nương rẫy. Già Đeng thay mặt làng cám ơn đoàn “cán bộ” đã đến thăm và tỏ lời tiếc nuối khi không mời được đoàn cùng uống rượu cần như lẽ thường (do thời tiết, rượu đã không lên men như ý muốn). Lần lượt bắt tay hai Già làng với lời chào tạm biệt, cầm đôi tay chai sạm chúng tôi cảm giác thèm và quý cái chân tình mộc mạc của ông. Ngoài sân từng vạt nắng đang mon men trườn qua hơn phân nửa mái nhà Rông.


Rời Kon Brap Ju chúng tôi tiếp tục vượt quốc lộ 24 xuôi về huyện Tây Sơn, Quảng Ngãi. Đến cung đường Trường Sơn Đông, đèo chỉ xuôi về hướng đổ, thời tiết như cô gái đỏng đảnh, chẳng nói chẳng rằng, xoay mặt 180 độ, từ sương giá lạnh lùng chuyển ngay qua hừng hực nóng nảy. Những buôn làng người K Dong lọt thỏm trong thung lũng với những nương cau gầy guộc, khẳng khiu, những ngôi nhà chênh vênh, hiu hắt. Chúng tôi tranh thủ dừng xe, bấm máy. Rừng ở đây do hiểm trở nên ít bị tàn sát hơn ở những cung đường trước, Hai bên đường hoa dại vàng rực lối đi, khung cảnh đẹp rợn người, những thung lũng, thác nước sâu hoắm, hùng vỹ, hoang sơ, Khác với Quốc lộ 27 và 28 đường ở đây không thảm nhựa, chúng được đổ hoàn toàn bằng bê tông.


Vừa đổ đèo, xe thắng gấp, các tay ảnh nhào xuống, chạy như bị ma rượt. Lại một màn săn bắt …ảnh. Cụ bà người dân tộc đang trên đường hái củi về, với trang phục truyền thống, lưng mang gùi chất đầy củi, tay chống gậy men theo triền dốc. Một rừng máy bao vây, mắt máy nhấp nháy liên tục, một thoáng bối rối, chợt hiểu… cụ bà nhoẻn miệng cười, nụ cười hồn hậu mang đậm chất Tây Nguyên. Với món quà quá bất ngờ, hình ảnh, dáng vẻ tự nhiên, hoang dã gom vào máy trông đẹp như mơ. Bởi quá hời với món quà này, trưởng đoàn tuyên bố xếp máy, xả trại nguyên chiều và tối nay.
Sơn tây là một thị trấn nhỏ nằm phía cực tây của Quảng Ngãi, cách trung tâm thành phố 80km. Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Kon PLông ( Kon Tum); phía Đông và Đông Nam giáp huyện Sơn Hà; phía Bắc giáp huyện Nam Trà My (Quảng Nam). Dân số chỉ khoảng 17.000 người tương đương 1/10 dân số huyện Châu Đức (Bà Rịa – Vũng Tàu), dân tộc ít người chiếm 93% trong đó dân tộc KDong chiếm 86%, dân tộc kinh chỉ non 7%.
Đến đây cảm giác của du khách thấy gì cũng nhỏ hẹp. Những căn phố bé tẹo đứng chen chúc men theo sườn núi, khó lòng để nhét đủ một chiếc xe hơi. Khu chợ trung tâm nằm co ro dưới thung lũng, kích thước chỉ tương đương một sân bóng chuyền, vì thế nên cũng chỉ đủ nuôi nấng, bảo bọc dăm ba đứa con: Một quầy giải khát; một quầy giày dép, áo quần; một tiệm tạp hóa; một gian bán cá lẫn thịt; thêm một gian rau, củ, quả và ….chấm hết. Bệnh viện đa khoa huyện quanh quẩn chưa được nửa sào đất, nằm day mặt vô rừng trông như chiếc xe 52 chổ bị trượt bánh xoay ngang đường. Nhiều cơ quan, công sở thậm chí phải cúi mặt, dựa cả lưng và hông vào núi mới tìm được một chổ đứng ( Theo thông tin từ TNH, Huyện đang thiếu quỹ đất trầm trọng). Các quán ăn nhậu tại huyện không hoạt động từ chiều thứ sáu cho đến sáng đầu tuần, do hầu hết cán bộ công chức đều là dân miền xuôi, họ phải về nhà trong những này cuối tuần. (xin bật mí: Thu thuế của Sơn Tây chỉ đạt 1 tỷ / năm, bằng 1/800 tổng thu ngân sách huyện Châu Đức. BR-VT).
Trái với sự chật hẹp của nhà cửa, đường sá, hai vợ chồng TNH đã tiếp đoàn rất niềm nở với bữa tiệc thịnh soạn. Do công việc kinh doanh tất bật nên để có đủ mồi màng đãi khách ngoài hai vợ chồng, chủ nhà đã huy động thêm con cái, bạn bè, kể cả cọc chèo, cọc chống vào bếp.
Bữa tiệc ấm cúng, buổi giao lưu văn nghệ của đoàn với chủ nhà và những người bạn chí cốt của họ diễn ra sôi nỗi, hào hứng, những giọt rượu sâm Cao cay nồng đã gột rửa hết cái nhọc nhằn qua mấy ngày băng đèo lội suối của chúng tôi.


***

Phần 6:
Tâm sự của người “thầy” Nhiếp ảnh miền xuôi và đằng sau buổi phát thưởng Khuyến học.

Trên đường đến Quảng Ngãi mới hay tin vị phó chủ tịch của hội VHNT vừa mới qua đời, đoàn quyết định chỉ gặp một thành viên của hội để tặng quà thay vì tổ chức giao lưu gặp gỡ cùng Ban chấp hành như dự định. Trước khi rời thành phố, Bùi Thái Dũng người con quê hương Quảng Ngãi đã đến chia buồn cùng gia quyến. Tiếp tục hành trình đoàn kết nạp thêm thành viên mới: Trịnh Nhân Hiếu – người thầy giáo đã tiếp chúng tôi tại Sơn Tây.
Xe xuôi dần về ngoại ô, phố xá quay đầu lùi lại. Thôn xóm hiền hòa hiện ra sau những lũy tre yên ả, bảng lảng trong khói lam chiều những con ngõ thiêm thiếp phủ mình trong rơm rạ. Chiều uể oải trút bỏ đôi vạt nắng còn lại trên cánh đồng đang xác xơ do khô hạn.
Bữa tiệc đón “Anh Hai ” cùng những người bạn từ Bà Rịa- Vũng Tàu ghé thăm, được người nhà Bùi Thái Dũng bày biện lên bàn từ sớm. Nhìn những món ăn đặc sản quê hương được chế biến công phu đang co ro, nguội lạnh nằm chờ trên mâm; nghe những lời chào mời vồn vã thân thương của các thành viên trong gia đình, chúng tôi cảm thấy mình có lỗi khi để cả nhà phải chờ đợi, (mặc dù trên cung đường muộn bác tài cũng đã nhấn hết ga). Những câu chuyện chân chất về tuổi thơ của anh em BTD cứ quặn thắt tâm can mỗi người.
Có ai ngờ với khuôn mặt nghệ sỹ luôn thường trực nụ cười thân thiện như BTD lại có một tuổi thơ dữ dội đến thế. Gần bốn mươi năm về trước, việc song thân phụ mẫu đột ngột rủ nhau qua đời giữa cái đói đang tràn về quê hương đã đẩy anh em của vị nhiếp ảnh gia tầm quốc tế này (đang còn trong tuổi ăn chưa no, co chưa ấm) phải liêu xiêu, lắt lay trước giông gió cuộc đời. Đành rằng ai cũng biết quảng thơi gian này cả đất nước đều còm cỏi trong cái ăn, cái mặc. Cả thế hệ chúng tôi đa phần đều xơ xác, gầy guộc, tự lăn đi trong nỗi nhọc nhằn của cuộc sống. Nhưng việc năm anh em côi cút đùm bọc cùng nhau vượt qua khốn khó là điều chẳng dễ dàng gì. Phải chăng chính những năm tháng bươn chải trong cái nhọc nhằn ấy đã tạo nên một BTD nghiêm túc, chắt lọc trong sáng tác để hôm nay anh có những tác phẩm để đời.
Để BTD ở lại Quảng Ngãi thăm gia đình, chúng tôi thẳng tiến về Tiên Phước, Quảng Nam quê hương của Lê Nhật Ánh, xe căng mắt băng đi trong đêm tối, qua mắt sét những giọt mưa lách tách ngoằn ngoèo lăn trên cửa kính như khều vào nỗi nhớ của những người phố biển đang lang thang, phiêu bạt...xa nhà.
Qua một đêm ngủ muộn, những tưởng tất cả mọi người sẽ được nướng một giấc ngon lành, vậy mà giới săn ảnh đã vác máy đi tự lờ mờ sáng, bỏ lại giới nhạc sỹ, văn học nằm co quắp chờ ...nắng lên.
Buổi tham dự lễ phát thưởng tại trường PTCS Nguyễn Du do Lê Nhật Ánh và các bạn đồng môn quê hương Tiên phước đồng tài trợ diễn ra hết sức trang trọng. Sau buổi lễ những người “đưa đò” vui mừng đón đoàn như những người con đi xa mới về, những phân cảnh giao lưu tiếp nối diễn ra. Địa điểm kết thúc cho phân cảnh cuối diễn ra tại một khu vườn cổ thuộc làng Tiên Cẩm, chủ nhân ngôi nhà chính là mạnh thường quân Kiều Phương Trung, công tác trong ngành ngân hàng. Trong ngôi vườn tĩnh mịch, hàng trăm cây cau cao vút duyên dáng xỏa tóc trong nắng hanh vàng, những cây Bòn bon cổ thụ khoe dáng xanh rợp lối đi, những cây bưởi phơi ngực đong đưa trước gió, những phiến đá trầm tích nằm ôm nhau như ngủ, những cọng cỏ mượt mà run run...dưới mỗi bước chân.




Do say mê sáng tác, đến nỗi tiệc đã bày ra nhưng cũng chỉ có một mình chủ nhân loay hoay bên bàn rượu... ai cũng muốn lôi vào ống kính cái rong rêu, trầm mặc nhưng thanh thoát kiêu sa của khu vườn cổ. Trong bữa tiệc ấm cúng, như nhập tâm, chủ nhân say sưa kể về những danh nhân văn hóa, lịch sử của quê làng. Giữa không gian yên ắng cổ tịch, với giọng kể tròn vành rõ chử (điều hiếm thấy đối với người “quổng Nôm”) hình ảnh những nhà chí sỹ, danh nhân: Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Vĩnh Huy, Lê Lượng, Tổng lãnh binh Trần Huỳnh, Danh sỹ Lê Vĩnh Khanh, Nguyễn Đình Tựu..., những người con ưu tú của dân tộc, của quê hương Tiên Phước như đang nồn nột hiện về. Trong khoảnh khắc lắng đọng giữa đôi bờ kim cổ, một thoáng se lòng khi nghĩ đến lớp hậu sinh của các cụ đã lâu rồi vẫn trầy trật loay hoay trước con ngõ hẹp.
Trong chếnh choáng say, những chuyện kể, giọng ca, lời thơ như miết vào da thịt,. Chúng tôi chia tay KPT trong ánh vàng ươm của nắng đang nghiêng dần trên khu vườn cổ. Trong cảm xúc mênh mang về tình người tình bạn, trong cái uy linh huyền diệu của vùng đất thiêng, vùng đất đã sinh ra những chí sỹ kiên trung, yêu nước.

Kỳ tới: Làng cổ Lộc Yên và những người thổi hồn vào đá.

READ MORE - KÝ SỰ: VỀ NHỮNG MIỀN ĐẤT HỨA - Phần 5 và 6 - Khê Giang

2. THƠ TẠP LỤC - Chu Vương Miện



2.THƠ TẠP LỤC
Chu Vương Miện
-
hết ?
anh nghĩ gì ?
khi đám bụi bay qua
chợt nhớ ra rằng em vốn m.h
anh tới trễ
còn em đứng đó
em sống nhăn răng
mà ngỡ là con ma ?
-
tóc trắng rồi tóc xanh
sòng đời trôi bất tận
tròn thêm nơi định mệnh
y chim hót trên cành
mới ngày vừa nhú sáng
thoáng đó đã tàn canh
thời gian qua chớp nháng
mờ mờ rồi chạng vạng
quá giờ trống canh 3
chưa chợp mắt đã gà
gáy làm xàm ba tiếng
sống mãi đời bận rộn
ta vẫn chả là ta
ngồi lẩm cà lẩm cẩm
tình gần lại tình xa ?
-
con chó tho chủ tới mãn đời
anh theo em 1 lúc rồi thôi
con chó còn có tình chủ tớ
mình lỡ lơ nhau ? lỡ mất rời ?
-
em nơi đó còn ta nơi đây ?
2 nơi toàn rặt lá phong đầy
lớp vàng lớp đỏ phơi trên cỏ
mà chỉ 1 loài bông cỏ may 
ta ở đây còn em ở đó
sầu đâu ? bốc mãi tại Giang Tây
tràng giang 1 giải chia lắm ngả

mà nước Tiêu Tương cạn thế này ?

cvm


READ MORE - 2. THƠ TẠP LỤC - Chu Vương Miện

Thursday, August 22, 2019

CŨNG CHỈ LÀ HOA MƯA - Thơ Nguyễn An Bình


NGUYỄN AN BÌNH
CŨNG CHỈ LÀ HOA MƯA


Tháng tám lại mưa. Mưa mù trời
Mưa phùn hay mưa bụi chiều nay
Mưa hối hả tràn về ký ức
Mưa cầu vồng ngọt tựa men say.

Hoa mưa – em gọi tên như thế
Hoa của người của tuổi đôi mươi
Hoa của tình yêu thời rất trẻ
Hoa lòng dù giá lạnh vành môi.

Như cánh phù dung vừa mới hé
Những cánh hoa mưa rợp đất trời
Có ánh mắt ai nhìn lặng lẽ
Theo từng bọt nước vỡ chơi vơi.

Nhiều năm ngắm lại hoa mưa nở
Lại ngẩn ngơ nhìn ngỡ chiêm bao
Có phải hoa mưa chìm trong mắt
Nên tình chìm nổi giữa bể dâu.

Ừ nhỉ mấy mươi năm rồi nhỉ
Mưa đã bao mùa - mưa rất xưa
Chiếc lá đã rơi từ kiếp trước 
Đâu làm em nhớ chuyện hoa mưa.

12/8/2019
N.A.B.



READ MORE - CŨNG CHỈ LÀ HOA MƯA - Thơ Nguyễn An Bình

HAI MÀU CƯỚI - Tùy bút - Nguyễn Trung Giang

Tác giả Nguyễn Trung Giang

HAI MÀU CƯỚI
Nguyễn Trung Giang

Tuổi trẻ mong ngày cưới
Người già ngại thiệp mời
Giữa hai bên bờ đợi
Hẹn hò một cuộc vui

Ông ngã mình trên chiếc trường kỷ rồi thả vào giấc ngủ dài. Lúc tỉnh dậy trong người còn vướng vất mùi bia rượu. Sáng nay đi dự đám cưới về, người đã chếnh choáng hơi men. Ông đến để chia sẻ niềm vui như bao nhiêu người khác. Những con người từ mọi miền xa xôi về đây lập nghiệp
Đã qua rồi những tháng ngày khốn khó, cuộc sống đổi thay dần và sắc đời mang một diện mạo mới rồi từ trong đó tiệc tung, cưới hỏi, sinh nhật đều đặn diễn ra
Ngồi chung bàn với ông là những mái đầu chớm bạc. Những khuôn mặt đó đây quen biết, những câu chuyện tuần lưu thế sự qua sắc âm giọng nói nhiều miền bị đứt quãng bởi cái loa đặt ở gần đó phát ra.
Bàn ghế tươm tất, màu sắc trang nhã, tiếp đãi ân cần, chủ nhân đã làm hết sức mình để ngày vui được trọn vẹn.Không khí bữa tiệc rộn ràng bởi một chương trình văn nghệ với những giọng ca có cổ có kim có già có trẻ.Tiếng dô dô đồng loạt cất lên với những cánh tay nâng cao những ly bia tràn bọt thể hiện sự đồng cảm chân thành.
Tiếng M.C mượt mà trôi chảy bên cạnh khuôn mặt rạng ngời của cô dâu chú rể. Phong cách mới mẻ của văn minh lồng ghép vào lễ tơ hồng giữa xưa và nay trỏ thành màn hoạt cảnh nửa tây nửa ta làm ông cảm thấy cô đơn hụt hẩng
Chiếc áo sơ mi lấm tấm mồ hôi, ông cố gắng hòa vào cuộc vui thời hiện đại nhưng vì tuổi cao nên khi uống cạn ly bia thứ hai ông cáo từ ra về trước khi siết chặt bàn tay gia chủ và nói vài câu chúc phúc. Dưới vạt nắng tàn đông bóng ông nhiêng ngã, tâm trạng buồn vui lẫn lộn, lòng băn khoăn giữa tâm tình chia sẻ và cái phong bì chở nặng ưu tư có phải là tính cách giữa đời qua lại với nhau hay không.....

Ông già trở mình rồi vói tay châm lửa. Khói thuốc lan man đưa ông trở về khung trời ngày cũ.
Thủa ấy...
Tình yêu gái trai kết tinh từ hương đồng cỏ nội. Nhịp đập lứa đôi hòa vào tiếng lúa reo trên cánh đồng buổi sáng hay tiếng hò đẩy đưa bên cối chày giả gạo đêm trăng.Ông đã từng ngẩn ngơ khi lặng nhìn mái tóc ai buông dài lã ngọn, từng trở trăn trong nỗi nhớ vô bờ khi bắt gặp ánh mắt trao tình làm xao xuyến bước chân.Tình yêu thổi vào trái tim ông những nồng nàn cháy bỏng như được thắp lên từ ngọn lửa thanh khiết lạ lùng. Lòng xanh xanh như dòng sông đã chắt chiu ông từng ngụm nước đầu đời, đã là chứng nhân bao lời ước hẹn,đã từng cưu mang những giọt nước mắt hòa hợp phân ly .Tâm hồn ông mênh mang trôi vào dòng cảm xúc thời mới lớn.Dìu dịu trong ông sức sống mãnh liệt như ngọn lúa xuân thì con gái. Bóng cô thôn nữ quang gánh đi về trong sáng sớm mù sương hay chiều vàng nhạt nắng. Đôi bờ mi vút cong như chiếc đòn gánh gánh nước đêm trăng đã một thời làm ông biết đắm say mơ mộng
Ông chạm khẻ vào thế giới yên bình thủa nọ.Ở đó thiên nhiên con người hòa quyện vào nhau viết nên những trang đời thật đẹp.
Cuộc sống bây giờ được tô lên bởi gam màu thời đại, còn ở trong ông bức tranh ngày xưa vẫn còn nguyên vẹn. Làm sao ông quên được hình ảnh các cậu trai làng chặt tre làm rạp, các thiếu niên đi mượn bàn ghế. Bữa cơm thân mật ly rượu nồng nàn. Một dòng chảy êm đềm đầy đặn yêu thương lan tỏa từ cụ già tóc bạc đến em bé quê quần cộc chân trần. Mọi người thức trắng đêm để làm mọi việc chuẩn bị cho ngày mai đãi khách rước dâu.
Ngọn đèn măng xông treo giữa gian nhà tỏa vầng sáng huyền hoặc sưởi ấm không gian hòa quyện vào khói hương trên bàn thờ gia tiên miên man trầm mặc.Trên bộ bàn đặt giữa gian chính diện khay trầu mâm rượu cùng sính lễ tân hôn được sắp đặt gọn gàng.
Thực đơn ngày cưới từ sản phẩm cây nhà lá vườn.Con gà con heo mẹ chắt chiu đếm ngày đếm tháng. Mâm xôi mâm bánh từ hạt gạo của đồng sâu ruộng cạn mà ở đó có công cha cõng nắng cõng mưa, con cá con tôm ở bãi biền chua mặn...Tất cả tuy đơn sơ mà ấm áp tuy giản dị mà thấm đẩm ân tình.
Ngoài sân dưới bóng trăng huyền ảo âm thanh tiếng quết chả nện vào cối gỗ, tiếng hát của các em bé quê dặt dìu trong khúc nhạc đồng dao hòa vào tiếng cười trong trẻo của các cô gái vo nếp trên bến sông.Tất cả làm nên một bản hợp tấu với giai điệu thật nhẹ nhàng bay vào không gian thật thoáng đãng thật bình yên.
Thoảng trong mùi rơm rạ tình quê, tình người hòa quyện vào nhau cháy lên dưới ánh lửa tàn khuya.
Trời hững sáng, xóm quê mơ màng đắm chìm trong làn sương bạc.Tiếng gà gáy sáng đánh thức bình minh hòa điệu cùng tiếng chim trên cành líu lo khúc nhạc tình yêu mừng đôi tân nhân trong ngày vui trọng đại....

Đưa mắt nhìn đám mây trắng vẩn vơ bay về cuối trời ông già đưa tay vuốt mái tóc đã hai màu đen trắng. Mắt ông cay cay, lòng se nỗi nhớ. Mùa xuân sắp về.Từng chiếc lá tàn đông lật nhẹ theo cơn gió cuối mùa.Ông nhẩm từng chặng đời trên từng đốt tay chai sạn. Ừ nhỉ... bao năm rồi lưu lạc.Thuyền đời đẩy đưa ông qua nhiều bến lạ.Tay lái mỏi mòn, mạn thuyền dần rêu phong theo từng lớp sóng vỗ thời gian thế mà ngày xưa ở trong ông vẫn còn nguyên vẹn.
Tiếng nhạc sáng nay vẫn ầm ì đâu đó.Ông mơ hồ nghe tiếng pháo rước dâu, tiếng lòng ông lan man theo từng nốt nhạc bay lên trong khói lam chiều tản mạn...

N.T.G.
READ MORE - HAI MÀU CƯỚI - Tùy bút - Nguyễn Trung Giang

TÌNH BẠN, TÌNH THƠ TRONG CƠN SAY - Đoàn Minh Lợi


                  
         Tác giả bài viết Đoàn Minh Lợi


TÌNH BẠN, TÌNH THƠ TRONG CƠN SAY 
                                                Đoàn Minh Lợi

(Viết tặng anh Lương Minh Vũ)

Tôi gặp Lương Minh Vũ trong đám giỗ đứa cháu ruột. Gặp anh tôi buột miệng phẩm bình bài thơ “Đêm say cùng La Thụy” của anh. Nào ngờ anh thích lời bình của tôi. Anh đề nghị tôi viết thành bài bình thơ. Anh còn dặn phải viết như đã nói trong bữa đám giỗ. Có nghĩa là giữ nguyên lời khen và lời chê.

ĐÊM SAY CÙNG LA THỤY

Rót mông lung xuống bôi đầy
Đường lô nhô bóng, phố gầy guộc đêm.
Trăng bơi đáy chén trăng mềm.
Thơ ai gẫy vận bên thềm khuya rơi.

Rót hỗn mang xuống mộng đời.
Lăn qua cho hết cuộc chơi khóc cười.
Rót quạnh hiu xuống cõi người
Sông xưa cuốn hết xanh tươi dấu nguồn.

Rót niềm vui xuống nỗi buồn
Dù mai cuối sóng đầu truông cũng về.
Rót ta ta chảy tràn trề.
Trăng say, còn bạn cận kề bên nhau.

                  Lagi tháng 6 năm 1996.
                       Lương Minh Vũ

        

Anh Lương Minh Vũ và anh La Thụy cùng mê thơ và thích rượu. Hai anh xấp xỉ cùng tuổi. Một thời họ tâm đầu ý hợp. Bài thơ là chứng tích cho tình bạn tình thơ và… tình rượu.
Bài lục bát 12 câu chia làm ba khổ. 12 câu, 5 lần rót rượu. Mở đề rót một chung, say ra về rót một chung. Câu lục là rót rượu, cũng là rót tâm tư, tâm tình. Mỗi tâm tình ứng với câu bát là hiện thực đời người.
i) Ly rượu khai tiệc “Rót mông lung xuống bôi đầy” mờ ảo sương khói và huyền hoặc. Đây là câu thơ hay, rất hay. Cái tình bạn, tình thơ như mơ hồ mà rất thực. Ly rượu “mông lung” cũng mở đầu đầu cho cái nhìn về phận đời, phận mình của một thế hệ, một lứa tuổi.
Bài thơ làm năm 1996, lúc đó các anh vừa qua tuổi 40. Tứ thập nhi bất hoặc (tuổi 40 thì không bị mê hoặc). Có nghĩa là cái mông lung rót xuống chén rượu là chiêm nghiệm, là nhận thức về cõi người. Không phải cái nhìn mơ hồ, không phải bốc đồng, và cũng không phải là say vì chỉ mới bắt đầu rót rượu.
Tôi không thích từ “bôi” trong câu thơ, từ Hán trong lục bát thuần Việt. Bôi là ly uống rượu. Nhưng có lẽ anh Vũ chịu ảnh hưởng của Đường thi. “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi” của Vương Hàn hay “Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu” của Vương Duy chẳng hạn. Một chút Đường thi rớt xuống lục bát người yêu thơ âu cũng lẽ thường tình.
“Đường lô nhô bóng, phố gầy guộc đêm” là cảnh thật, rất đời của thị trấn Lagi về đêm thời kỳ đầu đổi mới. Cái bóng “lô nhô”, cái bóng “gầy guộc” nói lên cái nghèo của thị trấn, thể hiện cái bi quan, cái buồn của người làm thơ, của người uống rượu.
Tôi đọc đi, đọc lại hai câu này nhiều lần mà thấy thích. Rót sương khói trần gian mơ hồ xuống hiện thực phố nghèo trong đêm trăng tâm tình cùng bạn thơ, bạn rượu quả thực là tài hoa.
“Trăng bơi đáy chén trăng mềm”. Câu thơ thật lãng mạn và nhuốm màu Đường thi. Xưa Lý Bạch ngâm thơ uống rượu, nhảy xuống ôm bóng trăng đáy sông mà đi vào thiên cổ. Điển tích huyền thoại Lý Bạch và câu thơ Lương Minh Vũ cứ mang mang vào nhau. Đọc lần một thấy thích, đọc lần hai, lần ba càng thấy thích. Đọc lần 4 bỗng phát hiện có vấn đề. Khi tôi nói lên điều này, anh Vũ sửng sốt hỏi “có vấn đề gì?”
Tôi cười kể anh câu chuyện Hoài Thanh- Hoài Chân bình thơ Vũ Hoàng Chương. “Em ơi lửa tắt bình khô rượu, Đời vắng em rồi say với ai?” là hai câu tuyệt tác trong bài khóc vợ của Hoàng thi sỹ. Hoài Thanh hài hước cho rằng khi làm xong hai câu thơ, đọc lại thấy hay không chừng thi sỹ Vũ Hoàng Chương vỗ đùi kêu lên “Ô, tuyệt vời quá” mà quên rằng mình đang khóc vợ.*
Tôi mượn câu chuyện bình thơ để nói với anh Vũ rằng câu thơ không thực. Tôi không tin có thực “trăng bơi đáy chén”, tôi càng không tin rằng “trăng mềm”. Bởi trừ câu bát kế tiếp, còn 8 câu còn lại của bài thơ tôi không thấy bóng dáng, dù thấp thoáng, của ánh trăng nơi đáy cốc. Người xưa ngắm trăng, uống rượu tìm thi hứng làm thơ. Cái thi hứng này chỉ hiện lên khi tâm tư lắng xuống. Ở đây tâm tư tác giả đang trồi lên mà đòi bóng trăng hiện xuống đáy cốc… e là khó.
Nhưng nếu xem câu lục của đoạn 2 này cũng như mọi câu lục khác của bài thơ đều có tính tượng trưng, có tính tiêu biểu để nói lên tâm tư ở câu bát liền kề thì vấn đề lại khác.
“Thơ ai gẫy vận bên thềm khuya rơi”. Tôi nói với anh Vũ rằng 2 chữ “gẫy vận” nó trúc trắc và không hay. Nếu thay bằng bất kỳ 2 chữ nào khác thì câu thơ mượt mà hơn. Ví như “thơ ai dìu dặt, thơ ai thánh thót, thơ ai ngân vọng… bên thềm khuya rơi”. Anh nhìn tôi gật gật, cười cười.
Anh Vũ từng viết truyện ngắn “Tri Kỷ” đăng trên tạp chí văn nghệ Hàm Tân. Truyện ngắn này dậy sóng “giang hồ” giới văn nghệ quê nhà một thời. Tôi kể chuyện này để thấy anh sử dụng tiếng Việt rất nhuần nhuyễn và điệu nghệ. Anh quyết tâm để 2 chữ “gẫy vận” để nói lên cái thực của đêm say. Khi tôi bình về 2 chữ này, anh La Thụy cười nói “thơ ai gẫy vận này” chắc là muốn nói thơ La Thụy gẫy vận. Dẫu thơ La Thụy hay thơ Lương Minh Vũ hay thơ của ai đi nữa, thì cái “gẫy vận” của câu thơ làm bóng trăng bên thềm thêm lung linh. Thơ rơi hay bóng trăng rơi?
Hôm đám giỗ tôi cố tình ghẹo anh Vũ khi bình 2 câu trên. Câu thơ hay thì không thực, câu thơ thực thì… không hay. Quả thực lúc ấy tôi chỉ thấy cái hay của câu bát chứ chứ chưa thấy cái hay của câu lục.
Giờ này ngồi lẩm nhẩm đọc 2 câu thơ, tôi phát hiện ra điều thú vị. Cái vầng trăng ảo ảnh, vầng trăng biểu tượng kia ngộ nhận mình say mềm bơi trong sóng rượu đáy chén. Nghe thi nhân ngâm thơ gãy vận, bỗng tỉnh thức quẫy mình ra khỏi chén, rơi xuống lung linh vàng thềm phố khuya.

         
   Bìa sau tập THƠ ĐỜI NGÂN VỌNG do Lương Minh Vũ vẽ


ii) Đương cuộc nhậu, ba lần rót rượu:

- Lần rót thứ nhất:

“Rót hỗn mang xuống mộng đời,
Lăn qua cho hết cuộc chơi khóc cười”

Miền Nam thời kỳ trước 1975 là thời loạn lạc. Nhiều thanh niên miền Nam xem thời kỳ sau 1975 cũng là thời tao loạn. Từ 1975 đến 1977 tôi vừa học phổ thông vừa vác cuốc lên nương với nhiều anh cùng trạc tuổi với anh Lương Minh Vũ và La Thụy. Nhờ vậy tôi hiểu họ, là những thanh niên mới lớn với nhiều mộng mơ tuổi hoa niên. Thế sự xoay vần, họ mất phương hướng trước cuộc đời. “Sinh bất phùng thời” là câu cửa miệng của họ. Tôi nghĩ “rót hỗn mang xuống mộng đời” là tâm tư thật của nhà thơ sau 20 năm nhìn lại thời trai trẻ của mình. 20 năm lăn lóc khóc cười là đời thực tác giả. Tôi thích hành xử “lăn qua cho hết” cái “cuộc chơi khóc cười” đời mình của thi nhân. Vừa nhẫn nại vừa nghị lực. Đằng sau cam chịu là ý chí cầu tiến. Trong cái bi hiện lên cái hùng.

- Lần rót thứ hai:

“Rót quạnh hiu xuống cõi người
Sông xưa cuốn hết xanh tươi dấu nguồn.”

Ly rượu này cũng buồn và bi quan hơn ly rượu thứ nhất. Ly rượu thứ nhất là nỗi buồn nhiễu nhương thời tao loạn, thì ly rượu thứ hai là nỗi buồn cô đơn, quạnh hiu. Hai bạn thơ ngồi uống rượu với nhau càng thầm thía nỗi quạnh hiu. Xuân Diệu nói: “Hai người nhưng chẳng hết cô đơn”. Bởi đằng sau nỗi cô đơn là nỗi trống trải của kiếp người. “Sông xưa” đã “cuốn hết xanh tươi dấu nguồn” thì có còn gì mà vui nữa. “Đời có còn gì tươi đẹp nữa? Buồn thì đến khóc, chết thì chôn” (Nguyễn Bính).

Hôm kia sư huynh La Thụy copy lại bài viết bình 4 câu thơ đầu của tôi đăng lên facebook của anh. Nhiều bằng hữu comments rất ngộ nghĩnh. Có bằng hữu cho rằng tôi không bình thơ, chỉ giải thích từng câu thơ. Còn tứ thơ của nguyên bài không thấy lời bình đâu hết. Có bằng hữu cho rằng tôi chê từ “bôi”, từ “gẫy vận” của nhà thơ là không hay, chê câu “trăng bơi đáy chén trăng mềm” là không thật.
Văn chương cốt hay bởi ý tại ngôn ngoại. Đọc thơ người, văn người phải đọc đằng sau câu chữ. Đọc thơ Lương Minh Vũ cũng vậy.
Bài viết của tôi theo lời đề nghị của anh Vũ là “bình thơ”, nhưng thực chất là bài ký, bài chuyện kể về bài thơ của anh Vũ. Ký có tính chất phóng khoáng riêng của ký. Vì vậy có bằng hữu còm về lời bình của tôi rất hay:  anh gọi tôi là “người dẫn chuyện”.
Bài thơ của anh Vũ là bài thơ hay. Tôi e sợ rằng nó đã bị lãng quên trong lòng người. Vì vậy gặp anh tôi cà khịa bình thơ. Hôm đám giỗ đó thực sự tôi đã gợi dậy nỗi xúc động tâm tư một thời của anh. Bài thơ thể hiện tài hoa của người lãng tử. Tám câu sau bài thơ anh viết rất cô đọng nỗi niềm tâm tư của mình. Đọc để giải mã tám câu này đã khó. Đồng điệu cùng tâm hồn anh còn khó hơn. Nhưng 4 câu đầu bài thơ mới thật sự khó bình. Anh Vũ viết ẩn giấu tâm tư “Thâm tàng bất lộ”. Tôi đã mượn lời “chê” để làm bật cái tài hoa của anh. Cám ơn anh Nguyễn Khôi ở Hà Nội đã chịu khó đọc, chịu khó comment. Anh hiểu được tâm tư nhà thơ và người bình thơ.

Có đôi khi tiếng nói thầm kín ẩn sâu trong lòng không thể hiện được rõ tình người nói cho người nghe. Vì vậy tôi có thêm đôi lời giải thích lời bình của mình. Chủ đề bài thơ của anh Vũ là Tình bạn và … tình say. Trong nội dung bài thơ có xuất hiện tình thơ. Tựa đề bài viết của tôi đầy đủ ba thứ tình trên. Dẫn giải từng câu thơ bàng bạc các ý trên. Bạn đọc đành chịu khó đọc vậy. Như khi tôi “giải mã” hai ly rượu “hỗn mang” với “quạnh hiu” không thấy xuất hiện tình bạn đâu cả. nhưng bàng bạc trong câu thơ của tác giả, trong lời bình của tôi, tình bạn vẫn hiện hữu.

Anh Phạm Đức Nhì (Nhi Pham) cho rằng bài thơ này có tứ hay, ngôn ngữ đẹp, có cảm xúc nhưng chỉ ở tầng 1 và 2 – nghĩa là từ câu chữ và thế trận. Tôi hiểu anh Nhị muốn nói cái bộ ba tình (tình bạn, tình thơ, tình say) của bài thơ không vượt qua biểu đạt của lời (con chữ), không vượt qua được bố cục, kết cấu bài thơ (thế trận, tứ thơ).
Tôi cho rằng ở ba lần rót rượu trong đương cuộc nhậu này, cái ý thơ vượt ngưỡng tầng 2, leo lên tầng 3 (mà tầng 3 là tầng gì thực sự tôi chưa rõ ràng lắm, tôi chỉ “ăn theo” anh Nhị và hiểu mang máng tầng 3… cao hơn tầng 2). Thí dụ như nãy giờ tôi diễn giải 4 câu thơ của hai lần rót rượu của anh Vũ. Tôi nhìn ra cái mất phương hướng, cái trống rỗng trong tâm thức của tác giả. Người làm thơ và người bình thơ hình như không đề cập gì đến tình bạn. Chỉ thấy rót rượu và gặm nhấm nỗi buồn. Nhưng tình bạn của họ hiện rất rõ. Tôi mượn Tỳ bà Hành của Bạch Cư Dị để làm rõ điều này. “Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân, Tương phùng hà tất tằng tương thức”. Phan Huy Vịnh dịch rất hay: “Cùng một lứa bên trời lận đận, gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau”. Lương Minh Vũ và La Thụy chắc chắn là “Cùng một lứa bên trời lận đận”, họ vốn là bằng hữu “đồng thị thiên nhai luân lạc nhân”. Vậy thì lời của Vũ há chẳng phải là lời của Giang Châu Tư Mã hay sao?

- Rót lần thứ 3:

“Rót niềm vui xuống nổi buồn
Dầu mai cuối sóng đầu truông cũng về”

Lần này ly rượu đượm hồng. Thả vui xuống buồn hòa vào rượu. Nhưng vui là vui gượng? Hay tìm thấy trong buồn có vui. Hay nhà thơ tạo được niềm vui mới?
Đọc thơ anh đến đây tôi liên tưởng đến 2 tác phẩm của 2 người nổi tiếng: “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” của Trịnh Công Sơn và trường ca “Ta Về” của Tô Thùy Yên.
Trong “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” của Trịnh Công Sơn, tựa đề bài hát là chọn niềm vui. Cứ làm như niềm vui có sẵn để ngồi lựa. Nhưng trong ca từ thì niềm vui được tạo dựng. Tôi xin trích dẫn vài ví dụ niềm vui được chọn trong ca từ bài hát:

“Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười
Tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy
Để mắt em cười tựa lá bay
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Cùng với anh em tìm đến mọi người
Tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát
Để thấy tiếng cười rộn rã bay

Rõ ràng “mắt em cười tựa lá bay” không tự có để chọn lựa, mà hệ quả của việc “Nhặt gió trời mời em giữ lấy”. Tương tự “tiếng cười rộn rã bay” là hệ quả của hành động “cùng nhau ca hát”. Chọn niềm vui của Trịnh được hiểu là chọn hành động để có niềm vui.
Trong trường ca “Ta về” của Tô Thùy Yên, có một khổ thơ nói về niềm vui giữa hằng chục câu thơ nói về nỗi buồn:

“Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.
Cám ơn hoa vì ta đã nở.
Thế giới vui hơn từ những lẻ loi.”

Rất nhiều bài báo danh tiếng bình về khổ thơ này. Đa số cho rằng đoạn này ảnh hưởng tư tưởng Phật học. Tôi không nghĩ như vậy. Nhưng ở bài viết này không bàn chuyện đó. Tôi đang nói về niềm vui trong khổ thơ. Hoa muôn đời vẫn nở. Bao lâu nay hoa nở cho ta mà ta không hay. Bỗng trong một sát na bất chợt, Tô Thùy Yên phát hiện hoa nở cho riêng mình. Thế giới bắt đầu vui hơn. Niềm vui này là niềm vui của giác ngộ, của nhận thức.
Trở lại niềm vui trong câu thơ của Lương Minh Vũ. Niềm vui ở đâu ra để mà rót xuống rượu? Lương Minh Vũ không phải là phù thủy để vẫy cây đũa phép tạo niềm vui vô cớ xuất hiện giữa nỗi buồn. Tôi phải tìm đáp án trong câu bát tiếp theo.

“Dù mai cuối sóng, đầu truông cũng về”

Anh Vũ mượn hình ảnh mênh mông đầu ngọn sóng của bể cả, cái hoang vắng của truông trên bờ để khẳng định lời son sắt: “cũng về”. Thú thật tôi đọc câu này nhiều lần và thấy nó giống với lời hẹn thề.
Giang hồ nhậu thường có lời thề như sau. Tao thề với mày, à không, tôi thề vời ông: Có chết, tôi cũng sẽ cùng về… nhậu với ông.
Sau những ly rượu bi quan là ly rượu hào hùng. Cái hào hùng này có pha chút… cường điệu. Chính điều này tôi tin anh Vũ đã say. Say rượu và say tình bạn. Tôi nhớ ca dao Nam bộ có câu: “Vi vu gió thổi đầu non, mấy thằng uống rượu là con Ngọc hoàng”. Con Ngọc hoàng mà nhằm nhò gì. Khi say ta có thể làm ngọc hoàng, thậm chí là cha của Ngọc hoàng.
Nhưng Ngọc hoàng cũng không hóa phép để niềm vui bất chợt hiện ra đậu xuống nỗi buồn. Niềm vui này vốn đã hiện hữu trong tình bạn của họ, và họ khẳng định niềm vui này sẽ tiếp diễn tiếp khi cùng …. nhậu. Cũng có nghĩa là niềm vui được giác ngộ ra khi uống rượu, và họ quyết duy trì tạo niềm vui bằng cách… hẹn gầy cuộc nhậu.

Nhờ phát hiện tác giả ra say thật (rất nhiều người làm thơ say mà tỉnh queo), bỗng dưng tôi thấy câu thơ bất chợt… hay lạ thường.
Trong 6 câu này, câu nào cũng hay. Diễn đạt tứ thơ tình bạn, tình thơ rất hay. Nhưng tôi vẫn ngờ ngợ câu bát thứ hai của ly rượu thứ hai có vấn đề. Vấn đề ở đây không phải là tứ thơ, là ý tưởng. Vấn đề ở đây là “thế trận”.
Tôi ví von như thế này, các câu lục của bài thơ là nguyên liệu, là đầu vào, là input. Các câu bát là sản phẩm, là đầu ra, là output. Tác giả đã mượn những điều trừu tượng mang tính biểu tượng để hòa vào rượu rót xuống thực tiển cuộc sống chứa chan tình bạn. Có nghĩa là nguyên liệu thì trừu tượng, còn sản phẩm thì cụ thể. Bài thơ cuốn hút, hấp dẫn đọc giả cũng nhờ vậy. Mượn mông lung rót xuống thực tiễn phố phường. Mượn bóng trăng bơi đáy chén rót xuống câu thơ đang ngâm, mượn hỗn mang mộng đời rót xuống khóc cười cuộc chơi. Tới ly rượu thứ hai trong đương cuộc nhậu, tác giả mượn quạnh hiu để rót xuống cái cõi người. Nhưng “Sông xưa cuốn hết xanh tươi suối nguồn” của cái cõi người này mơ hồ và đầy biểu tượng. Với tôi, trong hai câu này nguyên liệu thuộc hàng cực phẩm, nhưng sản phẩm thì… bị lỗi.

iii) Tàn cuộc nhậu:

“Rót ta chảy xuống tràn trề,
Trăng say, còn bạn cận kề dìu nhau.”

Lần này cái nguyên liệu để hòa vào rượu rót là “ta”. Ta là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, ta cũng là tiếng tự xưng, tự nói với mình, ta cũng để chỉ cái tôi, cái bản ngã của mình.
Rót cái tôi xuống ly rượu. Nhưng rót cái gì của cái bản ngã. Tôi tin đó là cái tâm, cái tình của tác giả. Anh Vũ là người ôn nhu, nho nhã, ít khi nổi nóng với ai. Anh chỉ có cái nhược điểm là khi nhậu thì phải nhậu tới bến, không say không về. Với khí chất chơi tới bến của anh tôi tin câu thơ này là thực, là anh đang say thực. Anh đang say và anh sẵn mở lòng ra với bạn. Mở hết lòng mình.
Tôi yêu sự đa thanh, đa nghĩa của tiếng Việt. Với định nghĩa, “ta” là tiếng tự xưng, tôi tin câu thơ này anh Vũ tự nói với lòng mình, không phải nói với bạn nhậu. Và nếu đúng như vậy thì câu thơ hay hơn. Khen hay, bởi niềm tin làm tâm hồn con người đẹp lên. Ở đây là niềm tin “Trăng say, còn bạn cận kề dìu nhau”.

Lời nói thêm cho bài bình:

Cái tựa đề: “Tình bạn, tình thơ trong cơn say” không chỉ nói về tình bạn của anh Vũ với anh La Thụy, mà còn là tình bạn của nhà thơ với người bình thơ. Trên trang facebook của sư huynh La Thụy, có hai người với tuệ nhãn của mình họ đã phát hiện ra tình bạn của chúng tôi. Đó là anh Nguyễn Khôi và anh Nhi Phạm. Tôi thích lời bình anh Nhi Phạm. Bình thơ là thú vui tao nhã. Tình bạn phát sinh và duy trì qua văn thơ là tình bạn đẹp. Bởi đẹp nên anh mới “ké” vào để comments.
Tôi quen biết anh Vũ năm 1995, khi chúng tôi cùng đi bứng mai về trồng làm cảnh. Tình bạn của chúng tôi dễ được 24 năm.
Hôm đám giỗ đứa cháu. Tôi kể anh nghe chuyện thời sự sôi động ở “Văn Việt” liên quan đến các nhà văn, nhà thơ nổi danh như Nguyên Ngọc, Hoàng Hưng, Lê Phú Khải, Hà Sỹ Phu. Tôi dẫn lời Hà Sỹ Phu nói đại ý là bình thơ bạn bè là khó nhất, nói hết lòng thì sợ mất lòng bạn, nói theo bạn thì thẹn với lòng mình.

Anh Vũ thích thú với câu chuyện. Anh nói những ngày đầu mới quen tôi, anh sốc vì những lời nói thẳng khi bình thơ văn. Nhưng giờ này anh thích được bình như vậy.
Trong men bia hôm đám giỗ. Lâng lâng với tình thơ, tình người, tôi nhận lời bình bài thơ của anh Vũ. Nhưng trong sâu thẳm, tôi biết rằng tôi sợ bài thơ hay thấm đẫm tình người bị lãng quên trong lòng thi hữu.
                                                                       
-------------------

P/S: Trong phần bình trước bài thơ, tôi trích dẫn sai hai câu chót. Lần này tôi đã chỉnh sửa. Mong thứ lỗi.

                                                             Đoàn Minh Lợi

READ MORE - TÌNH BẠN, TÌNH THƠ TRONG CƠN SAY - Đoàn Minh Lợi