Chúc Mừng Năm Mới

CHUC MUNG NAM MOI

Friday, August 28, 2015

CHO MÃI NGÀN SAU - thơ Trầm Mặc - nhạc Phan Hòa




Cho mãi ngàn sau
           Thơ Trầm Mặc

Kiếp nào ta bên nhau 
Đồi thông vàng rơi mau 
Nhặt phiên khúc “tình mộng” 
Ôm mãi ngàn năm sau 

Em nghe tình vẫy gọi
Tóc pha màu sương rồi
Anh chừ nghe tiếc nhớ
Mộng ngày xanh tan thôi

Em về bên bến cũ​
 Dòng sông xưa mịt mù
“Bến chiều” anh thầm ước
Tình ta vào thiên thu

Ta cùng em ru mãi
Chuyện trăm năm còn dài
Anh chôn tình huyệt lạnh
À ơi! …ru miệt mài.
READ MORE - CHO MÃI NGÀN SAU - thơ Trầm Mặc - nhạc Phan Hòa

MÂY TRẮNG TRONG GIẤC MƠ TÔI - Thơ Nguyễn An Bình


Hiển thị maytrangtronggiacmotoi.jpg


MÂY TRẮNG TRONG GIẤC MƠ TÔI
            *Mùa Vu Lan nhớ mẹ 2015

Trong mơ chợt thấy mẹ về
Trời treo chớp bể tứ bề mưa giăng
Mẹ qua sương núi mây ngàn
Dõi theo tôi mãi đường gần nẻo xa.

Hạc bay cuối nẻo trăng tà
Trăng non hao hớt trăng già mồ côi
Chiều ngồi bên mộ mẹ ơi
Lắng nghe cỏ hát mấy lời tình tang

Trong mơ chợt thấy mẹ nằm
Ru tôi cánh võng trần gian một đời
Đò chiều một chiếc lá rơi
Mùa Vu Lan đến đâu người cài hoa.

Sông dài đổ mãi khơi xa
Tình yêu mẹ chảy lời ca dao buồn
Tóc người  gột cả khói sương
Mẹ thành mây trắng suối nguồn trong tôi.

                                 Nguyễn An Bình
                                   Tháng 8/2015

READ MORE - MÂY TRẮNG TRONG GIẤC MƠ TÔI - Thơ Nguyễn An Bình

VƯƠNG VÍU - Thơ Đặng Xuân Xuyến




VƯƠNG VÍU

Chiều nay nghe người ta bảo
Sang năm được tuổi lấy chồng
Nghe lời mẹ cha xây mộng
Với người bữa trước ghé chơi...

Líu lo ra chừng khấp khởi
Người ta khen ngợi đủ đường
Nào là tính tình cao thượng
Nào là mắt phượng môi son...

Thế rồi người ta hơn hởn
Vẽ vời tới chuyện sinh con
- “Chao ôi con em đẹp lắm
Tươi xinh nào khác trăng rằm
Hương thơm trải xa trăm dặm...”
Mỉm cười, người ấy xa xăm...

Vẫn biết chẳng thể có nhau
Sao cứ âm ỉ nỗi nhớ?
Vẫn biết duyên tình lỡ dở
Sao còn vương víu câu thề?

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Hà Nội, chiều 27 tháng 11 năm 2014

READ MORE - VƯƠNG VÍU - Thơ Đặng Xuân Xuyến

Thursday, August 27, 2015

VU LAN NHỚ MẸ - Thơ: Trương Thị Thanh Tâm

Ảnh:  Mai Lĩnh


VU LAN NHỚ MẸ           
Thơ: Trương Thị Thanh Tâm 

Mỗi ngày nhìn dáng mẹ 
Bước trên bờ đất quê 
Nghe niềm đau giấu kín 
Trăm năm cõi đi về 

Mỗi ngày mẹ gội tóc 
Lược thưa vắt trên đầu 
Sợi tóc rơi mỏng mảnh 
Sương nhuộm hằn vết đau 

Bước qua thời thơ ấu 
Cũng hiểu được nông sâu 
Ôi chín chử cù lao 
Như biển trời lay láng 

Con mỗi ngày một lớn 
Mẹ càng lúc càng gầy 
Vắt máu tim thành sữa 
Con ngậm đầu vú chai 

Một lần được sinh ra 
Một lần mình có mẹ 
Thời gian trôi lặng lẽ 
Ôi mẹ giờ còn đâu !!
           
T4 (Mỹ Tho )
READ MORE - VU LAN NHỚ MẸ - Thơ: Trương Thị Thanh Tâm

CHIỀU Ở HÒN PHỤ TỬ - Thơ Trúc Thanh Tâm

Ảnh từ trang  www.garminvietnam.vn

CHIỀU Ở HÒN PHỤ TỬ 

Thời gian chờ ta đó phải không em
Hòn Phụ Tử, chiều nghiêng vai nắng nhạt
Sóng nô đùa tặng đời bao khao khát
Bãi cát dài còn in dấu chân quen !

Biển dạt dào, duyên dáng chính là em
Là ánh mắt hẹn bờ môi chờ đợi
Là ngọt lịm từng nụ cười nóng hổi
Đường trần gian cho hoa lá ngát hương !

Nhịp tim ta đang trổi khúc nghê thường
Em ập đến để tan vào ngây ngất
Gió yểu điệu kéo vầng mây lã lướt
Bài thơ yêu tình tứ chẳng tận cùng !

Người yêu người nên biển cũng bao dung
Nghe thắm thiết khi mùa yêu trở giấc
Em từ độ vẽ bùa yêu vào tâm thức
Anh nghe lòng mắc nợ một làn hương !

TRÚC THANH TÂM
READ MORE - CHIỀU Ở HÒN PHỤ TỬ - Thơ Trúc Thanh Tâm

VỤN VẶT ĐỜI THƯỜNG - thơ Lý Hiểu




VỤN VẶT ĐỜI THƯỜNG

Sáng đọc tin quê nhà đổi mới
Vẫn Đông Tây đụng chạm liên hồi
Lo non sông vướng vòng nô dịch
Mắt mẹ buồn hồ lệ chẳng vơi

Ngày bó gối nhìn bầy cá lội
Mấy bông hoa đã sớm tàn rồi
Buồn lên mạng thấy tin bằng hữu
Sạch nợ đời an giấc nghỉ ngơi

Đêm ngủ mơ nghe bom pháo dội
Đường Trường sơn rải rắc xương phơi
Mẹ cô đơn thẫn thờ bên suối
Kiếm xác con băng mấy núi đồi

Đất Bắc Mỹ ngày qua rất vội
Đông chưa tàn tuyết phủ nơi nơi
Quê hương giờ chúa xuân đang lại
Có bướm bay, mai nở đẹp trời

Được ở nhà - chùa bà cả đọi
Tết tha hương vắng bạn thăm chơi
Hòm thư tín chán không thèm mở
Đáo hạn rồi lo nợ gấp đôi

Lại giở chứng xe tàng lắm tội
Máy khi không tắt ở lằn vôi
Cạn tiền rồi hết đường tu bổ
Bãi rác hoang đem bỏ xế tồi

Chuyện thế gian hoài công nghĩ ngợi
Dầu buồn hiu cũng nhếch môi cười
Nghe thân xác báo hồi suy yếu
Trượt dốc đời e bỏ cuộc thôi

Ước lúc chết hồn nương gió lộng
Tro xương hòa cùng sóng rong chơi
Cõi thiên đàng khó lòng bay tới
Hóa dã tràng đùa cát biển khơi

Lý Hiểu
VA.02/2015
READ MORE - VỤN VẶT ĐỜI THƯỜNG - thơ Lý Hiểu

Chu Vương Miện & Nguyễn Vô Cùng - THỜI LAI ĐỒ ĐIẾU - Phiếm luận


Ảnh từ trang http://tepbac.com/

THỜI LAI ĐỒ ĐIẾU
Trở lại với bài "Thuật Hoài" của Đặng Dung.

Theo ý bạn thi sĩ Nguyễn Vô Cùng thì câu: Thời lai đồ điếu” của chí sĩ Đặng Dung phải dịch là “Được thời kbần tiện lên cũng dễ”, dịch như vậy thì dễ hiểu nhưng câu thơ thứ ba dài tới tám chữ (dư mất một chữ) và để cho bài thơ Đường Luật bát cú đúng luật thì câu nào cũng chỉ có bẩy chữ mà thôi. Chuyện như vậy là kể như xong, nhưng trong đầu tôi thì cứ lấn cấn không thông, nếu được thời mà kbần tiện đều lên được cả thì kbần tiệnkẻ nào? Sau khi tra cứu tạm vài pho sách, xin có lời nhận xét lạm bàn như sau:
-Kẻ là ngôi thứ ba, người được xác định cùng đinh, bần cùng trong xã hội, như kẻ cắp, kẻ trộm ….
-Bần là nghèo nàn, khố rách áo ôm, bần cùng .
-Tiện là hà tiện, đê tiện (không phải là thợ tiện).
Bên cạnh những ý nghĩa đen xác thực này, người ta thường thấy những từ này xuất hiện ở một không khí trang nghiêm, cẩn trọng hơn. mà người sử dụng để nói toàn là những nhân vật thượng thặng có hạng và tầm cỡ trong xã hội.
-Từ k thời Văn Lang nước Việt được hiểu như một địa danh Làng Xã như Kẻ Sặt, Kẻ Tràng, Kẻ Chợ … sau đến thời Nhà Thục (Thục An Dương Vương) thì Kẻ được đổi là Cổ như thành Cổ Loa, phố Cổ Ngư, làng Cổ Nhuế ……
Từ bần thì được các vị Đạo Sĩ, Đạo Trưởng chân tu trong Đạo giáo hoặc các vị Trưởng lão, Đại Sư trong cửa Thiền Môn Thiếu Lâm xưng với các tín đồ thiện nam tín nữ là bần tăng, bần đạo, bần ni, và trong đời thường các viên chức quan lại chính quyền thường xưng với thảo dân bá tánh là bần chức, bản chức, ty chức, tiện chức, và các vị khoa bảng danh nhân thì xưng với bá tánh thiên hạ: là bỉ nhân, là kẻ hèn này …….
Thành ra cũng tùy lúc tùy thời tùy nghi mà từ k, từ bần, từ tiện có nghĩa thực dụng hoàn toàn khác nhau. Mà khi thời cơ chín muồi đến không phải là ai cũng nhanh chân lẹ tay chụp kịp thơi cơ đâu.
Sau đây là một ví dụ điển hình “chụp hụt thời cơ”.
*
CHỤP HỤT THỜI CƠ
Trong thời buổi tình hình gặp khó khăn chung . thì một đoàn hát thuộc hạng hai (cấp xã quận ) đang ở trong tình trạng chết dở, thầy tuồng kiêm đạo diễn sống nhờ vào ly cà phê buổi sáng của anh bạn tài xế, đoàn có một chiếc xe chuyên chở duy nhất, và chỉ có chiếc xe đó là có chế độ nhiên liệu là xăng dầu, mà vị tài xế nhờ vào nguyên vật liệu này mà có tiêu chuẩn cà phê cà pháo hàng sáng, bạn tài xế nói với thầy đạo diễn :
-Đại ca có quyền và có thế, có dịp thì nâng đỡ em út?
-Chuyện nhỏ.
Thế rồi ngàn năm một thủa, giờ phút lịch sử đã điểm, là khoảng 6 giờ chiều thì người nhà của kép thủ vai vua chạy tới rạp hát báo cáo là “vợ của kép đã được chở đi bệnh viện để chờ sanh”, thế là thầy đạo diễn bèn cho gọi tức tốc chàng tài xế tới, nói dăm điều ba chuyện, dặn dò là cứ vdầy vdầy, và có qua đứng ngay sau lưng chỗ cách tấm màn phông, qua dặn gì nói gì (chỉ đạo gì) thì em cứ vậy mà làm, rồi hai người diễn thử, dợt thử, tất cả đều ô kê.
Đúng boong 8 giờ tối, màn nhung kéo lên, kép tài xế thủ vai vua ngồi oai vệ ở giữa, hai bên là hai hàng ghế bá quan văn võ, lần đầu tiên thủ vai vua, kép tài xế khóai quá, ngồi im như phỗng, thầy đạo diễn đứng đằng sau nói nhỏ:
-Vuốt râu một cái cho nó oai xem nào?
Kép tài xế bèn cầm nậm rượu đập xuống bàn và miệng hét:
-Vuốt râu một cái cho nó oai xem nào?
Hai hàng bá quan văn võ đều vuốt râu một lượt, chỉ có Hoàng hậu và Công chúa thì không vuốt râu vì không có râu.
Lão thầy tuồng thấy nói tầm bậy bèn la tiếp:
-Tao bảo mày vuốt râu, chứ tao có bảo mày nói chúng nó vuốt râu đâu.
Kép tài xế bèn đập bàn la lên: 
-Tao bảo mày vuốt râu chớ có bảo mày bảo chúng nó vuốt râu đâu.
Đào kép ngơ ngẩn không rõ là chuyện gì thì lão đạo diễn đằng sau la lên:
-Đồ ngu, nói thối như cứt.
Kép tài xế cũng nổi giận la làng lên:
-Trẫm không có địt mà thối cái gì?
Khi không tấm màn nhung từ từ hạ xuống, và kép thủ vai vua bị thầy đạo diễn nắm cổ kéo xuống, vừa bợp tai vừa đá đít, vừa bị đánh hội đồng, đúng là thời cơ tới tay mà nắm không được, bị vuột mất.
Chu Vương Miện & Nguyễn Vô Cùng


READ MORE - Chu Vương Miện & Nguyễn Vô Cùng - THỜI LAI ĐỒ ĐIẾU - Phiếm luận

Wednesday, August 26, 2015

NỖI NIỀM NGÀY TRỞ LẠI - thơ Huy Cận Đông Hà

Đầm Lập An, Lăng Cô, TT Huế.
Ảnh NK Phước


Nỗi Niềm Ngày Trở Lại

Chốn hẹn hò một mình ta trở lại
Mênh mông sầu chiều ray rứt hoàng hôn
Nỗi niềm xưa lạnh lẽo ký ức buồn
Ta hụt hẫng nuốt vào lòng tiếng nghẹn

Tình nhân hỡi, đâu rồi lời hò hẹn
Tháng ngày xưa giờ biền biệt xanh xao
Những tự tình rồi quên lãng hanh hao
Trái tim lạnh, môi khô ngày xa vắng

Ta biết tỏ cùng ai ngàn cay đắng
Chẳng còn gì ngoài dĩ vãng chông chênh
Con thuyền tình cứ trọn kiếp lênh đênh
Và hạnh phúc mãi ngoài vòng tay với

Ta chỉ còn những đêm dài chấp chới
Mơ dáng người trong những giấc mơ xa
Chẳng còn gì chỉ còn những phôi pha
Người để lại cùng cuộc tình hoang phế.


Huy Cận Đông Hà
READ MORE - NỖI NIỀM NGÀY TRỞ LẠI - thơ Huy Cận Đông Hà

“NGỢM NGƯỜI” TRONG THƠ THÁI QUỐC MƯU - Châu Thạch

Tác giả Châu Thạch


“NGỢM NGƯỜI” TRONG THƠ           
THÁI QUỐC MƯU 
                                               
Châu Thạch

Nếu ai hỏi tôi nhà thơ Thái Quốc Mưu yêu gì và ghét gì nhất, chắc có lẽ tôi không trả lời được điều yêu nhất, nhưng điều ghét nhất của Thái Quốc Mưu thì qua thơ ông quá rõ ràng.

Trong bài thơ khóc Nguyệt Lãng, một trong những người bạn thơ thân nhất của Thái Quốc Mưu, nhà thơ đã khuyên người quá cố đừng trở lại trần gian chẳng phải vì trần gian là chốn sinh, lão, bệnh, tử hay điều gì khác mà chỉ vì trần gian là chốn có nhiều “ngợm người”:

Đừng nên trở lại nơi trần thế
Một cõi quanh anh lắm ngợm người
(Khóc Nguyệt Lãng)

Trong một lần “Viếng Trời” nhà thơ cũng so sánh sự khác biệt đáng kể nhất giữa cõi trời và cõi người mà cõi người có lắm “ngợm người”:

Nước trời trên dưới cùng tôn quý
Khác với nhân gian lắm ngợm người
(Viếng Trời)

Vậy “ngợm người” là gì?

Thật ra chữ “ngợm người” không tìm ra một định nghĩa chính xác. Tự điển Việt Nam có sách định nghĩa: “ngợm người” là người ngu dại”; có sách định nghĩa: “ngợm người” là người, với ý nghĩa xấu nói chung”. Lại có người cho chữ “ngợm” phát xuất từ chữ “ngựa” nên chữ “ngợm người” là, “nửa ngựa nửa người, nghĩa là người không ra người mà ngựa chẳng ra ngựa”. Cũng có giải thích “ngợm người” như sau: “Ngợm là gì? - Ngợm cũng đi bằng hai chân, mặc quần áo, mang hia, đội mão, có trí tuệ, có tiếng nói, ăn từ thượng vàng hạ cám đến cao lương mỹ vị xuống bắp luộc khoai nướng nhưng khác con người ở chỗ, con người có thể ăn được đủ thứ nhưng không bao giờ ăn thịt đồng loại, còn ngợm thì đến thịt đồng loại cũng sẵn sàng ăn sống nuốt tươi” (Tất nhiên người mà ăn thịt người chỉ nói theo nghĩa ngụ ý mà thôi).

Như thế chữ “ngợm người” cũng như chữ “chó má”. “Con chó có thể ăn bẩn nhưng dứt khoát không ăn thịt đồng loại, còn con má về hình thức giống y như con chó nhưng đến thịt đồng loại cũng không từ! Có người nghĩ rằng, “ngợm người” là lũ người “điên” cần phải đi học. Học gì? - Học làm người, học để biết thiên chức của con người”.

Xem như thế “ngợm người” hay “người ngợm” quả nhiên không phải người tốt.

Tóm lại, “ngợm người” để chỉ những kẻ có hình thể, vóc dáng của con người, nhưng cách sống với đồng loại, chưa đạt được cái bản chất đích thực của CON NGƯỜI, mà tôi đã đọc trong mục danh ngôn đâu đó câu: “Hãy sống sao cho người ra NGƯỜI” của Thái tiên sinh.

Ngoài ra, trong bài thơ Niềm Mơ Ước Vĩ Đại Của Tôi, Thái Quốc Mưu đã viết:

Mặc ai mơ nước Thiên Đàng
Mặc ai mơ cõi Niết Bàn xa xôi
Tôi sinh ra giữa Đất, Trời.
Chỉ mong làm được CON NGƯỜI – viết hoa.

Theo Thái Quốc Mưu thì giống động vật mang tên người, khi được “Viết hoa” thành CON NGƯỜI thì vô cùng khó khăn, lớn lao, vĩ đại, và cao quý hơn tất cả. Nó nằm trên tất cả những ước mơ – kể cả Thiên Đàng hoặc Niết Bàn. Bởi, khi tất cả giống người biết tu thân để trở thành CON NGƯỜI được viết hoa, thì xã hội lúc đó đa số chỉ có những CON NGƯỜI đích thực là NGƯỜI. Họ toàn là bậc chính nhân quân tử, lương thiện, gắn bó yêu thương,... thì Thiên Đàng hoặc Niết Bàn đã hiện hữu giữa trần đời, chẳng phải tìm đâu xa. Khi ấy, lũ “ngợm người” không còn đất dung thân, chẳng thể tồn tại. Sẽ tự diệt.

Bây giờ qua thơ Thái Quốc Mưu ta thử tìm xem những thành phần nào trong xã hội mà nhà thơ ghét nhất? Câu trả lời, chính xác nhất, đó là lũ “ngợm người”.

Trong bài thơ “Trên Chót Đỉnh” Thái Quốc Mưu đứng trên núi nhìn xuống “đời”, ông đã thấy “lắm lũ loài”. Ông dùng chữ ‘lũ loài” chứng tỏ ông rất ghét hạng người nầy, đó là hạng người tranh bả lợi danh, giựt dành lợi lộc làm mất cái nhân tính đích thực của CON NGƯỜI:

Ngó xuống. Ôi chao lắm lũ loài
Tranh chấp bả danh nhân tính mất
Giựt dành lợi lộc hận thù sôi
(Trên chót Đỉnh)

Cái bọn người mà bả danh vọng và lợi lộc đã làm cho họ sôi máu hận thù, mất đi nhân tính đó, đã được nhà thơ gọi đích danh trong bài thơ “Khác Biệt” của ông:

Quan tham đầu óc như “lì đỗn”
Chỉ biết thu gom với nhét vào
(Khác biệt)

Đọc ngược hai chữ đóng trong ngoặc kép ta thấy Thái Quốc Mưu khinh bọn quan tham đến cỡ nào.

Và với Thái Quốc Mưu bọn người ấy không những là phường phi đạo đức, bất tài, bất nhân, bất nghĩa, tham lam vô tận, lừa bịp, thất học, ngô nghê trước quần chúng; vậy mà hay lếu láo khoe khoang, vênh váo,... ăn trên, ngồi tróc để lèo lái mọi việc chẳng khác nào như bác tài vừa dỡ lại ba hoa:

Đạo đức trống không hay lếu láo
Chân tài rỗng toác cứ thày lay
(Có những bác tài)

Nhà thơ Thái Quốc Mưu không tiếc lời giận dữ điểm mặt bọn người xấu xa trên với lời lẽ vô cùng cay cú:

Hôm sớm đem đầu ra đội đít
Trưa chiều gục mặt để chờ khi
Cong lưng đổi miếng mồi danh lợi
Ngậm miệng ăn ba cái bã chì
(Vịnh ông Táo)

Và cuối cùng Thái Quốc Mưu không còn nể nang gì nữa và thẳng tay chỉ vào mặt bọn người mà ông ghét nhất trên trần gian nầy, công bố, vạch trần tội lỗi xấu xa nhơ nhuốt của họ, lũ “ngợm người” mà từ xưa đến nay thời nào cũng có:

Quan ôn xưa nay
Phẩm chất kém - cần sơn, phết, xi
Bằng cao. dốt rặt mới ly kỳ
Văn thư nguệch ngoạc run cầy sấy
Chữ ký loằng ngoằng méo miệng ghi
Quán nhậu nghênh ngang tuồng hổ, sói
Cửa quyền hống hách tựa tần, phi
Gặp thời chồn cáo vươn nanh vuốt
Sớm tối vênh vênh cái mặt chì.

Vậy qua thơ ta biết thứ mà nhà thơ ghét nhất trên đời là ai vậy?

Tất nhiên không phải là những người mang chữ “ngợm” với nghĩa xấu bình thường. Tất nhiên, đó không phải là người ngu dại; tất nhiên không phải người khuyết tật, người phạm tội hình sự, kẻ vô tình, vô tâm... Nói chung tất cả những người bị cho là “người xấu” đó, đều không phải thứ “ngợm người” mà Thái Quốc Mưu muốn đề cập. Thái Quốc Mưu nói thẳng lũ ngợm người ấy chính là những kẻ ngồi ở ghế quan lại trên cao mà kém tài, thất đức, bám danh hưởng lợi,...

Qua thơ Thái Quốc Mưu, bọn “ngợm người” là bọn “Quan ôn” vô lại. Bọn đó làm cho nhà thơ Thái Quốc Mưu chán chê thế gian nầy đến nỗi ông đã nhắn với người bạn thơ tri âm của mình:

“Nhớ bút hãy đùa cùng trăng gió
Thèm thơ xin nhắn cái thằng tôi”

nhưng,

Đừng nên trở lại nơi trần thế
Một cõi quanh anh lắm ngợm người”.

Với bọn “ngợm người” nầy nhà thơ Thái Quốc Mưu cho rằng đã hết thuốc chửa rồi, cho nên ông chẳng cần nhắn nhủ khuyên lơn, dạy bảo gì họ cả, mà chỉ lắc đầu bỏ đi, buông ra cho chúng một câu để nhớ đời:

Chớ tưởng quyền uy thay trí óc
Đừng hòng sỏi đá hoá trân châu ./.
(Biển Đời)

Châu Thạch

READ MORE - “NGỢM NGƯỜI” TRONG THƠ THÁI QUỐC MƯU - Châu Thạch

CHÙM THƠ NHẬT QUANG


Hiển thị images (2).jpg


HOÀI THU

Thu về qua ngõ vắng
Rì rào ngọn heo may
Sương chiều rơi trầm lặng
Lác đác lá vàng bay

Liu riu trời tháng tám
Lớt phớt giọt thu mưa
Gió lùa nghiêng mái tóc
Mơ màng dáng người xưa

Hương thu nồng nỗi nhớ
Đóa Cúc vàng xôn xao
Dấu yêu thầm...chưa ngỏ
Cho tình chợt hanh hao

Người về nơi xứ lạ
Xây ước mộng trăm năm
Ta ươm sầu trên lá
Nghe thu vàng xa xăm.


RU TÌNH

Hương hoa trải lối tình hồng
Nghiêng say men đắm ươm nồng dấu yêu
Mưa thu lớt phớt giọt chiều
Vầng trăng ân ái... dập dìu cõi mơ

Thầm thì gió quyện hồn thơ
Chơi vơi thuyền mộng...bến bờ lãng du
Đong đưa tình trọn đêm thu
Địa đàng ngây ngất, êm ru sóng tình.

                                   Nhật Quang

READ MORE - CHÙM THƠ NHẬT QUANG

HỘP KIM CHỈ CỦA MẸ - Vũ Mạnh Quang

Tác giả Vũ Mạnh Quang











HỘP KIM CHỈ CỦA MẸ

Tình cờ gặp hộp kim chỉ
Của Mẹ để lại năm xưa
Chỉ vẫn còn nguyên một đoạn
Mẹ xâu từ đó đến giờ

Nhớ sao một chiều phượng đỏ
Chúng con chạy nhảy sân đình
Manh áo xoạc ra một chỗ
Tối về sợ quá lặng thinh

Đêm ấy Mẹ ngồi vá áo
Bóng che ấm áp bao tình
Lòng Mẹ như vầng Trăng dịu
Tỏa muôn ánh sáng thanh bình

Thế rồi Mẹ đi xa lắm
Hộp kim chỉ chẳng mang theo
Chỉ vẫn còn nguyên một đoạn
Nhắc con một thuở áo nghèo...


Vũ Mạnh Quang
READ MORE - HỘP KIM CHỈ CỦA MẸ - Vũ Mạnh Quang

Ca khúc và thơ của Trầm Thiên Thu





CỔ TÍCH TUỔI THƠ

Tôi trở về khu vườn tuổi thơ
Góp nhặt ký ức
Tìm dòng cổ tích
Vu vơ như ngày xưa

Thấp thoáng cô bé Lọ Lem
Thấp thoáng cô Tấm
Thoang thoảng mùi thị chín
Cá bống có lên ăn cơm vàng?

Tôi đếm tuổi thơ bằng lá bàng
Buổi sáng có giọt sương chưa tan
Trong suốt và nho nhỏ
Còn đọng trên ngọn cỏ

Một thoáng trở về
Tôi lại phải ra đi
Lẩn quẩn vòng danh lợi
Chuyện áo cơm mòn cả thi ca

TRẦM THIÊN THU
READ MORE - Ca khúc và thơ của Trầm Thiên Thu

RU TÌNH - thơ Trần Ngọc Hưởng



Ru Tình

Ầu ơ cơn ngủ đi đâu
Để em chong sáng đêm sâu một mình
Bỏ rơi gối lẻ lặng thinh …

Anh gom thơ hát lời tình ru em
Đây cơn gió mát bên thềm
Cuốn trôi hết nhé, ưu phiền ngày qua
Cho đêm đen bỗng thật thà
Đong đưa nhịp vỗ hiền hòa giấc ngoan

Say bên cánh mũi nhịp nhàng
Sao Hôm nhìn bóng anh choàng bóng em
Nét mày như lá cỏ nghiêng
Mơ anh còn thoảng hương mềm tóc thơm

Ngủ đi em, giấc bình thường
Môi cong vẽ nét dỗi hờn,  hư sao!
Thương lắm nhé, ngủ say nào
Thơ anh trải lối em vào đêm nay

Ru em ngủ giấc căng đầy
Cho tan dông bão bao ngày gió mưa
Buồn em từ thuở xửa xưa
Anh gom nhận hết cho vừa tim yêu

Trần Ngọc Hưởng
READ MORE - RU TÌNH - thơ Trần Ngọc Hưởng

XE LĂN KHUẤT DẤU - thơ Trương Thị Thanh Tâm

Sông Thạch Hãn. Ảnh Mai Lĩnh



XE LĂN KHUẤT DẤU

Thời gian nằm lại trên bờ tóc
Dấu tích hằn sâu lên má môi
Bóng xế nghiêng dần năm tháng lụn
Đợi chờ ngày ấy cứ xa xôi

Tình cũng nguôi đi trong nỗi nhớ
Cạn rồi suối lệ chảy ra khơi
Tìm đâu bến đậu, thuyền theo sóng
Liệm chết hồn theo chiếc lá bay

Trăm năm duyên kiếp thôi đành lỡ
Mộng đã tan rồi như khói mây
Thôi nhé người ơi lần tạm biệt
Ai ngờ ngày đó đã mất nhau

Xe lăn khuất dấu đời hư ảo
Em khóc đời mưa lạc bến sầu
Gối tay đêm ấy em còn nhớ
Một lần kỷ niệm đã cho nhau

Tuổi xuân trôi mất đời hiu hắt
Nhớ mãi anh ơi chuyện thưở nào !

          Trương Thị Thanh Tâm 
                       (Mỹ Tho)
READ MORE - XE LĂN KHUẤT DẤU - thơ Trương Thị Thanh Tâm

BÔNG HỒNG MÙA BÁO HIẾU - thơ Vũ Trọng Tâm




BÔNG HỒNG MÙA BÁO HIẾU 
        
Con về thăm mẹ quê xưa
Nắng nghiêng soi nửa hàng dừa, bóng me
Xạc xào gió lộng bờ tre
Dáng lom khom đợi con về mẹ ơi!

Lưng còng quang gánh nặng vai
Tóc thêm sợi bạc rơi đầy gối đêm
Ngày xưa để tóc ngủ yên
Chén cơm manh áo muộn phiền nỗi lo

Thương cha sớm nắng chiều mưa
Bửa cơm đạm bạc chợ trưa đi về
Bế bồng năm tháng ủ ê
Bên con hôm sớm não nề giấc khuya

Kẻo cà kẻo kẹt võng đưa
Tiếng ru đêm muộn ầu ơ ví dầu
Mẹ già bóng xế đã lâu
Lời ca dao cũ thấm sâu nỗi buồn

"Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một như đường mía lau"
Vu Lan tháng bảy dạt dào
Yêu đồng lúa chín, yêu sao cánh cò

Chiều nay mưa tạt gió xô
Lom khom dáng mẹ, phơ phơ tóc gầy
Ơn trời mẹ vẫn còn đây
Cù lao chín chữ nhớ hoài trong con

Vu Lan cài đoá hoa hồng
Con còn có mẹ, nghe lòng vui hơn!

VŨ TRỌNG TÂM                   

(Gò Công)
READ MORE - BÔNG HỒNG MÙA BÁO HIẾU - thơ Vũ Trọng Tâm