Chúc Mừng Năm Mới

Phóng lớn màn hình: phím Ctrl + phím +, Thu nhỏ màn hình: phím Ctrl + phím -

Thursday, August 25, 2016

VĂN TẾ MUÔN LOẠI CÔ HỒN SỐNG - Lang Trương


         
                                Lang Trương

 


VĂN TẾ MUÔN LOẠI CÔ HỒN SỐNG                                                                                 Lang Trương

Sách có chữ :
Quốc gia hưng vong,
Thất phu hữu trách.
Vận nước bĩ thời,
Ngay gian khó vạch.
Tháng Cô Hồn,, nắng hạ đổ chói chang,
Mùa Vu Lan, mưa thu rơi tí tách.
Tai họa thay !
Quỷ Môn Quan cửa rào lỏng lẻo, ngập Nhân Gian quỷ dữ lộng hành,
Ma Thiên Lãnh phiên dậu lơ là, tràn Dương Thế cô hồn oai oách.
Chúng sinh nay !
Quỷ Chúa ngự ngôi cao ngất ngưởng, mặt nung núc mỡ, công khố quốc gia thỏa sức rút bòn,
Ma Vương ngồi ghế rộng nghênh ngang, đầu phất phơ sương, xương máu dân đen tha hồ hút xách.
Hủy diệt văn hóa, nhân nghĩa tiêu tan,
Tàn hại sinh linh, lê dân quẫn bách.
Núi rừng sạch bóng chim muông,
Sông suối cạn nguồn lươn chạch.
Loài Quỷ Dữ giết người hàng loạt, máu lương dân loang khắp thị thành,
Bọn Ác Ma cướp của hiếp càn, xác nhi nữ nổi cùng kênh rạch.
Kẻ vô luân vào ngành giáo dục, hiếp con trẻ, đổi điểm lấy tình,
Kẻ sát nhân khoát áo lương y, quăng xác chết, không quan chẳng quách.
Chốn quan trường tranh quyền đoạt lợi, giở lắm chiêu hạ tiện đê hèn,
Nơi hoạn lộ bán tước mua quan, loại hết tính thanh cao trong sạch.
Phép, chỉ để trị chúng, trăm nỗi oan khiên,
Lợi, chỉ để dành quan, muôn đường luồn lách.
Bọn Đầu Trâu lừa nhà cướp đất, xót xa người biệt quán ly hương,
Lũ Mặt Ngựa bán phấn buôn hương, thảm thiết cảnh quê người đất khách.
Phường vô học chưa qua bổ túc, lòi bằng giả, vẫn trơ mặt nhục kiêu căng,
Hạng bất tài chẳng hết phổ thông, lộ quan tham, còn chìa mặt mông hống hách.
Vòi tiền cạy bạc, giỏi mượn tiếng công sai,
Mãi lộ cướp đường, khéo mang danh chức trách.
Có hơi đồng, hành chính trơn tru,
Thiếu chất tanh, giấy tờ ì ạch.
Ăn, chẳng từ kẻ áo ôm,
Nhậu, chớ tha quân khố rách.
Ma đói đớp cả cứu trợ, hộ nghèo,
Quỷ no táp vào có công, chính sách.
Buổi can qua đầu co cổ rụt, giả thương binh tuần bảy bữa xênh xang,
Thời bom đạn thịt nát xương tan, cúng liệt sĩ năm ba đồng cọc cạch.
Đám Cô Hồn mười thằng như một, da dẻ xăm trổ đen thui,
Bè Các Đảng chín đứa giống nhau, tóc tai sơn phếch đỏ quạch.
Ngày đòi nợ thuê, chém mướn, đêm trộm chó bắt mèo,
Sáng giật giỏ xách, cướp xe, tối đào tường khoét nghách.
Tiểu Yêu Quái quanh năm lêu lổng, bóng banh đề đóm, có kể chi cha yếu mẹ nghèo,
Lão Đại Bợm suốt tháng bê tha, nhậu nhẹt lu bù, cũng thây kệ cột xiêu tường rách.
Tiểu Yêu Nữ vào nhà quyền thế, chị cử nhân em thạc sĩ, chốn tôn nghiêm phơi rốn hở đùi,
Hồ Ly Tinh lọt cửa quan nha, mẹ mệnh phụ con phu nhơn, nơi linh hiển khoe mông lòi nách.
Hai Bà Trưng cưỡi xe tăng rượt Ô Mã, sử nước nhà cạc cạc ù ù,
Vua Càn Long đem kiệu ngọc đón Hàm Hương, phim Tàu Khựa làu làu vanh vách.
Phụ ơn mẹ chín tháng cưu mang,
Uổng công cha bao năm đèn sách.
Gia Cát tái sinh cũng vô kế khả thi,
Đại Thánh hiện hình cũng vô phương hết cách.
Lương dân nay :
Ra ngõ gặp ngay đạo tặc, chính tà thiện ác khó biết đôi đường,
Về nhà đụng phải oan gia, phải trái đúng sai cứ đi một mạch.
Thấy nhân sinh nát điều luân lý, nhắm tịt mắt kẻo vướng tai ương
Trông thế sự loạn đạo cương thường, bịt chặt miệng kẻo mang tai ách.
Thôi thì :
Gặp lúc kể công người sống, đặt phố hàng mã, vài thanh song sắt, kim tiêm ba mũi, rặn thêm một bãi, biếu Ma Vương làm lộ phí đi đường,
Đang mùa xá tội vong nhân, học mót người xưa, ba chữ lôm côm, văn tế một bài, xì chút hơi thơm, tặng Chúa Quỷ lấy để dành tiếp khách.
Đồ tống tiễn soạn bày chu đáo, đi cho nhanh chớ nhẩn nha nhẩn nhơ,
Của đưa chân sửa biện đủ đầy, cút cho lẹ cấm lạch bà lạch bạch.
. Ô hô !
Sống, miệng đời phỉ nhổ
Chết , nhuốc nhơ hồn phách !
. Có linh, không linh cứ hưởng !


          Lang Truong, Ất Mùi niên, sơ tuần thu tế, hạ bút.
                                                                     
PS :
Mặt chúng dày như tấm thớt, đọc chưa hết, có thằng ôm mặt khóc hu hu ?
Văn ta mỏng tựa hơi sương, viết xong rồi, cùng bạn ngửa cổ cười khành khạch.
Hay ! Cho một like,
Dở , quăng vào cục gạch !


                                                                      Lang Trương


READ MORE - VĂN TẾ MUÔN LOẠI CÔ HỒN SỐNG - Lang Trương

MÙA CHIM TRẮNG BAY - Thơ Lynh Thy





MÙA CHIM TRẮNG BAY

Vàng rơi từng chiếc lá
Trời sáng mờ hơi sương
Có phải mùa thu chớm
Heo may lạnh ngõ về

Tiếng trống trường xa điểm
Đón bước em theo cùng
Chào mừng năm học mới
Chim trắng về reo vui...

                   Linh Thy
Kn. Năm học 2016-2017

READ MORE - MÙA CHIM TRẮNG BAY - Thơ Lynh Thy

“QUÊ NGHÈO” VÀ NHỮNG CẢM NHẬN - Vũ Thị Hương Mai


               


       “QUÊ NGHÈO” VÀ NHỮNG CẢM NHẬN

       Tôi là bạn đọc thường xuyên của trang
dangxuanxuyen.blogspot.com và rất thích bài thơ Quê Nghèo của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến. Vì không phải là dân văn chương nên tôi không có khả năng lý luận để giới thiệu với bạn đọc cái hay, cái đẹp của Quê Nghèo theo cách cảm nhận của riêng mình, đành làm theo cách tổng hợp cảm nhận của một số tác giả và bạn đọc về bài thơ Quê Nghèo của Đặng Xuân Xuyến.
      “Bài thơ Quê nghèo gồm 4 khổ chính, khổ nào cũng cất lên câu mở đầu: Quê tôi nghèo lắm nghe như một tiếng thở dài buồn thảm và dai dẳng không hòng tìm thấy điểm ngừng. 4 khổ thơ chính và 2 câu thơ kết đã phô ra 5 cái nghèo lắm:
      Trước hết là cái nghèo lắm về cảnh vật đến cuộc sống của người dân quê tôi:
Vẫn lác đác nhà tranh    
Vẫn tiếng thở dài những chiều giáp hạt
Vẫn bát cơm chan mồ hôi mặn chát
Cha cả đời lam lũ
Mẹ một đời chắt chiu
Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ
      Ba tiếng vẫn ở ba đầu ba câu thơ liên tiếp biểu thị sự tiếp tục, tiếp diễn của trạng thái nghèo nàn mà không gì có thể thay đổi được qua năm tháng. Tuy nhiên, vẫn lác đác nhà tranh  thì phần nào còn hy vọng nhà tranh sẽ hết.Nhưng “Vẫn tiếng thở dài những chiều giáp hạt/ Vẫn bát cơm chan mồ hôi mặn chát”  thì không dễ gì thoát được khi mà người dân quê đã lam lũ dốc kiệt sức vào việc kiếm ăn và đã phải một đời chắt chiu từ củ khoai nắm thóc, vậy mà hạt gạo không đủ nấu cơm. Bởi thế, từ Vẫn thứ tư phải tiếp nối:
Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ
      Và biết bao tuổi thơ lâm vào cảnh:
Tuổi thơ tôi đói ngủ
Thương cánh cò bấu bíu lời ru.
      Rất dễ hiểu ra, không phải là cánh cò bay lả bay la/ bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng hay những cánh cò trắng phau phau/ ăn no tắm mát rủ nhau đi nằm; mà phải là những cánh cò đi ăn đêm, những cánh cò lặn lội bờ sông…”. - (Nguyễn Bàng - “Quê Nghèo”: Nghèo đến xót xa cõi lòng).
     “Quê Nghèo thật sự là bài thơ hay. Là tiếng lòng đớn đau của người con khi phải chính kiến cảnh đói nghèo, cơ cực trải dài qua bao năm tháng, qua bao thế hệ ở làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn của mình:
Cha cả đời lam lũ
Mẹ một đời chắt chiu
Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ
Tuổi thơ tôi đói ngủ
Thương cánh cò bấu bíu lời ru.
      Đọc những dòng thơ như thế, tim tôi như thắt lại.
      Tôi không biết khi viết bài thơ này, nhà thơ của Quê Nghèo quặn thắt gan ruột thế nào? Nhưng tôi tin anh phải xót xa, đau đớn lắm!”. - (Bạn đọc Nguyễn Việt Quang)
      “Hình ảnh trong bài thơ của Đặng Xuân Xuyến viết là những làng quê của vùng khoai lúa cây trồng nơi những vùng đồng bằng ít biến động bởi thiên tai bão tố. Nước ta với hơn ba nghìn cây số biển dài còn bao làng quê sống nghề chài lưới. Mỗi gia đình ở đây còn nơm nớp bao nhiêu khi đặt cược đời mình nơi những chiếc phao nổi nênh mặt nước. Dù không giàu có nhưng sống nhờ con tôm, con cá …qua ngày. Bỗng nhiên người ta bán đất đầu tư cho nước ngoài gần cả trăm năm. Công nghiệp đem được lợi ích gì cho những người dân chài lưới chưa thấy đâu, đã gây nên vụ ngộ độc suốt dải biển bắc miền Trung cá chết, đã hơn hai tháng nay chưa tìm được nguyên nhân. Tuy được cho cơm gạo cầm hơi để sống, để nhìn ra biển. Nỗi đau dân chài, tự dựng rơi lại vào cái bẫy khó nghèo, so với nỗi sợ, nỗi lo ở những làng quê đời sống dân chài còn nơm nớp bấp bênh hơn. Đúng là “Đời như chiếu bạc” mình không đánh bạc mà bị trắng tay… Nỗi buồn lo đến vậy cả một dải đất miền biển, nhưng trên báo chí truyền thông ta chỉ được đọc một hai bài thơ đồng cảm với biển, chứng tỏ còn một nỗi đáng sợ hơn là lòng người bây giờ, tuy vẫn cười vẫn nói cùng nhau nhưng thứ tình nghĩa quê kiểng xóm làng sống không còn ấm áp “Tắt lửa tối đèn” như xưa.
      Giữa không khí thơ như thế bài thơ của Đặng Xuân Xuyến như đốm lửa tình người vẫn còn lửa hồng than đỏ, hàng ngày sống giữa những cạnh tranh giành giật phố phường mà còn gửi được hồn mình ở nơi tình người và cảnh vật lẻ loi là thật đáng quý:
Phiên chợ quê còn ẽo ợt nghèo hơn
Răm ba nải chuối
Vài mớ rau tươi
Mẹt sắn mẹt ngô
Í ới mời chào…
Ế bán
Chán mua
… Chợ quê xác xơ già cỗi
      Bài thơ “Quê nghèo” của Đặng Xuân Xuyến cho ta cái tình, tình người muôn thuở. Làng thơ Việt Nam bây giờ có nhiều người giàu có, quyền tước ngất trời muốn mượn thêm thơ để làm phật đạo, rằng mình cũng hiền, cũng triết, cũng thanh cao, đã mượn cả danh của hội nhà văn Việt Nam để in sách, mời những nhà thơ có tiếng để hội thảo, in song ngữ, tam ngữ, quảng bá rùm beng như đám rước hội làng, nhưng thơ nhạt thếch, bởi lòng họ còn đâu thứ tình người lửa khói. Tình người đã cạn kiệt còn lấy gì để rung ngân… Trái tim không còn nhói đau khi chạm phải “cái nghèo” cái bất công hàng ngày vây bủa thì còn đâu thơ phú…” - (Chử Văn Long - Đọc bài thơ Quê Nghèo của Đặng Xuân Xuyến)
      “Sau hơn 60 năm đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội rồi lại thực hiện đường lối đổi mới, những tưởng quê tôi sẽ đổi thay và phát triển đầy ấm no, hạnh phúc. Ai ngờ Quê tôi của nhà thơ, một làng quê của một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội chỉ hơn sáu chục cây số, một vùng đất đã nổi danh từ 200 năm trước với Phố Hiến, một thương cảng đô hội quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài trong câu: “Thứ nhất Kinh Kỳ thứ nhì Phố Hiến” vẫn không thoát cảnh Quê nghèo, vẫn chỉ là nhà tranh, là tiếng thở dài, là bát cơm mặn chát mồ hôi, là khoai sắn len vào giấc ngủ của người lớn, là cánh cò bấu bíu lời ru trong giấc đói ngủ của con trẻ.
     Quê tôi nghèo lắm còn được phơi bầy không giấu giếm trong cảnh chợ làng:
Dăm ba nải chuối
Vài mớ rau tươi  
Mẹt sắn, mẹt ngô
      Hàng hóa chỉ có thế, không thấy con tôm, con cá, con gà, miếng thịt lợn…
      Chợ quê không nhiều người và phong phú hàng hóa như chợ huyện, chợ tỉnh nhưng từ nghìn đời nay chợ quê không chỉ là nơi đổi chác mua bán mà đối với dân làng còn là một nơi gần gụi thân thương chung của mọi người đồng thời cũng là một sắc thái riêng của văn hóa làng trong văn hóa chung của dân tộc. Bởi thế từ nghìn đời nay, bao người ao ước:
Muốn cho gần chợ mà chơi
Gần sông tắm mát, gần nơi đi về
       Nhưng bây giờ cái chợ quê của nhà thơ chỉ còn là một cái chợ “èo ọt’ với vài dăm món hàng rẻ tiền như nải chuối, mớ rau, mẹt sắn mẹt ngô thì hiển nhiên cảnh họp chợ phải gần như vắng hoe:
Lèo tèo dăm người bán
Lẻ tẻ mấy người mua
       Kẻ bán người mua, tất cả đều chung một tâm trạng buồn chán trước một phiên chợ đang tàn tạ không còn sự sống:
Ế bán
Chán mua
Phiên chợ quê xác xơ già cỗi.
       Quê tôi nghèo lắm, nghèo đến xót xa cõi lòng khi thấy hình hài  lũ trẻ:
Lũ trẻ gầy như con cá mắm
Lũ trai mặt mũi mốc meo
       (…) Những thân hình đói khổ ấy làm sao chứa đựng được những tâm hồn lành mạnh mà trong họ chỉ có:
Nơm nớp âu lo đời như chiếu bạc
       Với sự sống quẩn quanh chật hẹp tù hãm như những:
con cò con vạc
Mỏi cổ chồn chân trên đồng đất của mình
      Quê tôi nghèo lắm. Vậy nguồn gốc của nông nỗi nghèo lắm ấy là từ đâu? Hãy nghe nhà thơ cắt nghĩa:
       Trước hết là nỗi khổ đau truyền đời chưa dứt:
Nước mắt rơi từ thời chị Dậu
Tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ
Âm ỉ bủa quanh
Bám đeo đặc quánh
      Và giờ đây cộng thêm:
Chiếc cổng làng dựng lên thật đẹp
       Ô hay, sao lại là tội của chiếc cổng làng dựng lên thật đẹp ấy?
Cổng làng có từ xa xưa ở làng quê Việt Nam. Ngoài ranh giới phân chia, cổng làng thể hiện rõ hồn cốt của làng. Nó được dựng lên để bảo vệ làng khi có giặc giã, trộm cướp và thường được dựng bằng tre, nối liền với những lũy tre bao bọc quanh làng. Bên cạnh cổng làng có điếm canh, ngày cổng mở để dân làng đi lại, đêm làng cử người canh ở điếm, kiểm tra người lạ vào làng. Những chiếc cổng làng xưa cũ ấy đã đi vào thơ ca với những nét đẹp giản đơn mà thơ mộng:
Ngày nay dù ở nơi xa
Nhưng khi về đến cây đa đầu làng
Thì bao nhiêu cảnh mơ màng
Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre 
(Bàng Bá Lân)
      Giờ cổng làng xưa không còn nữa. Quê thì nghèo rớt mồng tơi mà người ta lại xây cổng làng hoành tráng quá. Cổng làng không còn là nơi thông báo cho người khác biết về địa giới hành chính của làng nữa mà dường như chỉ để khoe mẽ:
Sừng sững bê tông cốt thép
Ngạo nghễ tượng đài
Ngạo nghễ trần ai
     Và chính vì thế, người ta đâu biết:
Chiếc cổng làng thành tai hại
Giam hãm đời người
Tù túng giấc mơ.
- (Nguyễn Bàng - “Quê Nghèo”: Nghèo đến xót xa cõi lòng).
     "Cái cổng làng đã không còn là cổng làng của làng Đá nữa mà là biểu tượng của thể chế đã giam hãm, trói buộc con người trong đói nghèo, tù túnǵ... Một tiếng kêu đau thương, một sự phản kháng yếu ớt: Cần phải phá bỏ sự trói buộc, giam hãm con người trong đói nghèo, tù túng của thể chế thì cuộc sống của người dân mới có cơ được cải thiện.". - (Bạn đọc Trần Anh Quân)
     “Bài thơ “Quê Nghèo” không có sự bạo miệng của kẻ ngất ngưởng say, ngược lại là những giọt lệ rơi vào, là tiếng khóc nghẹn ngào trong tâm tình thổ lộ.
     (…) Bài thơ cho ta thấy một nỗi đau truyền kiếp từ thế kỷ 19 đến nay. Nỗi đau đó do đâu, nhà thơ không nói rõ nhưng nó đã “giam hãm đời người” ngay “từ trong giấc mơ”. Như thế nỗi đau nầy không chỉ là nỗi đau vật chất mà còn là nỗi đau tinh thần. Ngày xưa chị Dậu nghèo lắm về vật chất nhưng không ai cấm ước mơ. Bây giờ “Giam hãm đời người / Tù túng giấc mơ”, nghĩa là có thêm cái “nghèo lắm” tinh thần.
       Bài thơ làm thức tỉnh cơn mê của những người nhìn vào mặt phải mà không thấy mặt trái bao giờ.” - (Châu Thạch - Đọc thơ Đặng Xuân Xuyến)
      “Bài thơ kết thúc với hai câu nhưng câu thứ nhất cũng đai lại ba tiếng: Quê tôi nghèo. Và trong mọi cái nghèo đã nói, xót xa hơn cả là cái nghèo trong câu kết thứ hai:
Nghèo cả giấc mơ
       Đến giấc mơ cũng nghèo thì nói gì đến hoài bão ước mơ lớn mà biết bao sự đổi thay tốt đẹp ở đời thì chỉ thuộc về những người có hoài bão, biết ước mơ!”
       (…) Trong muôn vạn bài thơ của các kiểu người người làm thơ, nhà nhà làm thơ ngày nay với tràn ngập những bài thơ sáo mòn, nhạt thếch và cũ rích, thậm chí có nhiều bài như cỏ dại và nấm độc, thì bài thơ QuêNghèo của Đặng Xuân Xuyến là một bài thơ xứng đáng được những người yêu thơ đích thực đón nhận. Trước sự nghèo khổ của Quê hương, nhà thơ đã không câm lặng mà đã cất lên những tiếng thơ chân thật và đầy xúc động thể hiện những nỗi xót lòng đối với làng quê, với người dân quê của mình. Những tiếng thơ chân thật đến xót lòng ấy cũng là tiếng nói chung cho nhiều người đang còn có những “Quê tôi” chưa thoát cảnh đói nghèo. - (Nguyễn Bàng - “Quê Nghèo”: Nghèo đến xót xa cõi lòng).
      Xin mượn lời nhà phê bình Châu Thạch trong bài viết “Đọc thơ Đặng Xuân Xuyến” để kết thúc bài tổng hợp này:
      “Với hai bài thơ “Bạn Quan” và “Quê nghèo” của mình, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến không làm nổi lên một cơn sốt trên mạng xã hội như bài thơ “Đất nước mình lạ quá phải không anh” của cô giáo Trần Thị Lam nhưng gây ấn tượng mạnh cho bạn đọc trên các trang web, nhất là giới văn nghệ sĩ và trí thức. Từ hai bài thơ đó tôi đi tìm đọc thơ của Đặng Xuân Xuyến và cảm nhận được phong cách riêng lạ của một nhà thơ đương đại. Hình như nhà thơ Đặng Xuân Xuyến làm thơ không nhiều lắm nhưng mỗi bài thơ của anh như ngón tay chỉ ta nhìn thẳng vào cuộc sống và buộc ta phải suy nghiệm bức tranh hiện thực đó, hoặc cho ta hưởng thụ những phút giây sâu nhiệm diễn biến trong tâm hồn nhạy cảm của người thơ.”

VŨ THỊ HƯƠNG MAI
Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319 Long Biên - Hà Nội.
Email: huongmai8081@yahoo.com.vn

READ MORE - “QUÊ NGHÈO” VÀ NHỮNG CẢM NHẬN - Vũ Thị Hương Mai

Wednesday, August 24, 2016

LỤC BÁT MÙA THU - Nhã My cùng thi hữu






LỤC BÁT MÙA THU

1-
Thu vàng chạm ngõ rơi rơi
Em đi bỏ lại những lời sắt son
Heo may buốt cả lòng đơn
Nẻo xưa lá rụng buồn tênh phố chiều...

2-
Bóng cây lẵng lặng đìu hiu
Giọt ngâu rớt cả màu chiều hoang sơ
Người đi biết đến bao giờ
Con đò năm cũ hững hờ bến sông

3-
Cúc vàng trải nụ chờ mong
Xa xôi mưa có ướt lòng cố nhân ?

                                    Nhã My

HỌA:


TÌNH THU

Mây trời điểm nét thu rơi
Mưa ngâu rả rích tuôn lời vàng son
Chim bằng sãi cánh thân đơn
Bắc cầu Ô thước nhẹ tênh nẽo chiều
Heo may lất phất hắt hiu
Đường xưa tắm nắng cho chiều sởn sơ
Em từ dạo ấy đến giờ
Thuyền trăng tìm bến neo hờ bên sông
Ngày qua tháng lại đợi mong
Bao mùa lá đổ nao lòng thi nhân

                          Trần Văn Hạng


TÓC CHIỀU 

Tóc bồng nhuốm hạt sương rơi!
Phải chăng thu nhẹ buông lời điểm son!
Lá vàng héo hắt cô đơn..
Trắng mây vương nhẹ buồn tênh tuổi chiều.
Ngã mình đón gió hiu hiu,
Giữa miền thinh lặng đón chiều đơn sơ,
Từ bao năm tháng đến giờ,
Cứ phiêu du mãi hững hờ bến sông.
Em xưa đâu nữa mà mong,
Nhìn thu rụng lá chát lòng cố nhân.

                                 Hoành Trần

READ MORE - LỤC BÁT MÙA THU - Nhã My cùng thi hữu

Tuesday, August 23, 2016

VẲNG TIẾNG RU HỜI - Thơ Lynh Thy





VẲNG TIẾNG RU HỜI

Nằm nôi tiếng mẹ ru hời
Nay đi gần trọn đường đời vẫn nghe
À ơi ! Ngọt lịm trưa hè
Sầu riêng một nỗi sắc se chạnh lòng

Giấu sâu bên giếng mắt trong
Ngoảnh sang bến cũ còn mong con đò
Sông quê văng vẳng tiếng hò
Tóc ai chớm bạc…cọng ngò còn thương…!!!

                    Linh Thy. 22/7/Bính Thân

READ MORE - VẲNG TIẾNG RU HỜI - Thơ Lynh Thy

KHI NGƯỜI VỀ - Thơ Nguyễn Đức Kim Long



       Tác giả Nguyễn Đức Kim Long




KHI NGƯỜI VỀ
(Cho người con gái Tôn Nữ)

Cánh chim chiều ôm tình trôi mù biệt
Ta đứng trông theo sương khói đọng buồn
Khi người về có nghe hồn nuối tiếc
Một thoáng nhìn nhau vạn thủa còn thương.

Có phải bây giờ ngày xưa quên bỏ
Tuổi ấu thơ xanh trở giấc bập bùng
Nghe kỷ niệm vương trên từng ngọn cỏ
Qua gót chân người xa xót chờ mong.

Rồi mai sau dòng sông mờ vạn lối
Biết nẽo nào ta đứng đợi chờ ta
Đỉnh núi u trầm buông cười tiếng hát
Tiếng hát nào vọng chùng mải miết trôi xa.

Khi người về nghe mây sầu lãng đãng
Với vô cùng âm hưởng của thương yêu
Ta cất bước trong bóng chiều cuồng loạn
Réo gọi tên người lá cỏ trùng phiêu.

                  Nguyễn Đức Kim Long
                             Huế, 1974

READ MORE - KHI NGƯỜI VỀ - Thơ Nguyễn Đức Kim Long

ĐỌC "BỖNG NHỚ", THƠ NGUYỄN ĐỨC KIM LONG - Bình thơ của Châu Thạch


                
                        Nhà bình thơ Châu Thạch




ĐỌC “BỖNG NHỚ”, THƠ NGUYỄN ĐỨC KIM LONG
                                                                     Châu Thạch

Tôi biết tác giả Nguyễn Đức Kim Long lần đầu tiên qua bài thơ “Bỗng Nhớ” đăng trên trang web Văn Nghệ Quảng Trị do anh Phú Đoàn gắn thẻ trên trang Facebook của tôi. Đọc xong bài thơ tôi ngồi ngẩn ngơ vừa để cho những cảm nhận thấm thía vào lòng vừa cố tìm một dòng chữ diễn đạt đại ý cảm nhận của mình. Khó quá, không tìm ra câu nào vừa ý cả. Có bao giờ quý vị đi trên con đường mùa thu có mưa bay lất phất, có lá rụng đầy chân và có tiếng chuông báo tử vang lên từ một nhà thờ đâu đó? Có lẽ tâm trạng ai trong lúc nầy cũng buồn. Nhưng nếu quý vị thưởng thức cảnh kia trên một bức tranh? chắc là thú vị vì đẹp vô cùng. Vâng, cả hai tâm trạng ấy đang xảy ra trong tôi khi đọc bài thơ “Bỗng Nhớ” Vì sao thế? Xin hãy lần lượt đi vào từng vế một của bài thơ:

       Buổi sáng em đến záo đường
       Mưa bay qua bàn tay tôi
       Con đường lá vàng và zó
       Cõi nào như cõi xa xôi

Con đường có mưa bay, có lá vàng thì rõ ràng đây là buổi sáng mùa thu. Nếu vẽ một bức tranh có bóng em đi, có giáo đường, có mưa bay, có lá vàng thì bức tranh ấy bình an và nên thơ biết bao. Nhưng câu thơ thứ tư vụt biến hóa bức tranh thành ra trong mộng. Câu thơ “Cõi nào như cõi xa xôi”làm hụt hẫng mọi niềm vui, biến ta như người nằm mộng trong đêm, đau thắt lòng trong mộng vì thấy em đó nhưng em như là sương khói. Vế thơ đầu tiên dìm ngay ta vào trong cõi mơ, cho ta cái khoái lạc của sự thanh thoát vì có mùa thu, có giáo đường nhưng cũng khiến lòng ta mang niềm đau ray rứt khi chỉ được nhìn thấy bóng em gần mà với tay không tới được. Câu thơ “Mưa bay qua bàn tay tôi” là một tứ thơ hay tuyệt vì hình ảnh mưa bay mà lọt qua bàn tay nói lên tất cả sự phù du, sự vô thường của cuộc đời. Một ngàn câu thơ nói về mưa bay ướt tóc, ướt đầu, ướt môi, ướt áo nhưng chỉ câu thơ nầy nói “mưa bay qua bàn tay tôi”. Câu thơ thật bình thường nhưng nó tự nhiên khuấy động tâm hồn vì nó khiến cho lòng ta cảm như buồn rười rượi mà không biết do đâu. 
Qua vế thơ thứ hai tác giả mới thổ lộ nỗi buồn thật sự:

       Buổi sáng em đến záo đường
       Tiếng chuông nge buồn não nuột
       Bước em từng bước ngại ngùng
       Vọng chùng xuống đời zá buốt


Không hiểu vì sao em đến giáo đường mà “từng bước ngại ngùng”. Có lẽ tình yêu bị ngăn trở nên nàng ngại gặp nhau tại đó, hoặc là nàng cảm thấy tội lỗi vì lỡ yêu con người ngoại đạo. Cái tâm trạng đau buồn đó của người con gái hay của người làm thơ hay của cả hai người không ai biết được. Tuy nhiên ta thấy nỗi sầu loang ra trong tiếng chuông rồi vọng xuống cuộc đời giá buốt và khiến bước chân em bước ngại ngùng thì phải gọi là một nỗi buồn tê tái. Vế thơ thứ nhất cho ta thấy nỗi buồn chỉ là ảo ảnh, vế thơ thứ hai cho ta thấy nỗi buồn đã trở thành hiện thực, trùm lên không gian, nhập vào lòng người, làm chùng bước chân, chùng cuộc đời trong giá buốt. Tất cả nghệ thuật sáng tác đó làm cho ta cảm nhận hết sự thiêng liêng ở nơi thờ phượng như làm buốt thêm nỗi đau chất chứa trong hồn. Tuy nhiên cũng làm ta thấy được nỗi đau đó có trong tâm hồn trắng trong và tinh khiết.
Vế thơ thứ ba là tiếng than rất nhẹ, rất nhẹ nhưng thật xót xa:

       Buổi sáng em đến záo đường
       Mắt buồn nhìn đời thánh thiện
       Em ơi có fải là
       Một đời tôi bỏ quên xa

Vì sao tôi nói xót xa? Xót xa vì hình ảnh em đến giáo đường cũng là hình ảnh “em hiền như Ma Soeur” với đôi mắt “nhìn đời thánh thiện”. Vậy mà em buồn. Tất nhiên đời thấy nỗi buồn của em thì xót xa hơn trăm nỗi buồn nhân thế. Tác giả không cần than khóc, chỉ cần nói “em đến giáo đường” và em “nhìn đời thánh thiện” thì ai mà không cảm nhận được hết nỗi buồn trong mắt của em. Thơ hay ở chỗ lời nhẹ nhàng mà nói lên hết tâm hồn sâu thẳm, ý sâu xa mà tứ thật đơn sơ. Câu thơ “Em ơi có phải là/ một đời tôi bỏ quên xa” hỏi mà như không hỏi, lững lờ hờ hững như bất cần nhưng lại đem đến nỗi buồn thê thiết. Đó là tất cả hình ảnh buông tay và nhịn nhục, chấp nhận sự chia ly để bỏ quên nhau một đời.
Và cuối cùng lại giáo đường, lại mưa bay qua tay để tác giả nhận mình tội lỗi nhưng không phải tội lỗi với Chúa mà tội lỗi vì suốt đời không quên được em:

       Buổi sáng em đến záo đường
       Mưa bay qua bàn tay tôi
       Nhìn theo thấy mình tội lỗi
       Vẫn còn thương nhớ một đời

Hình ảnh em đến giáo đường và hình ảnh nước mưa trôi qua bàn tay một lần nữa làm đậm bức tranh buồn. Mối tình không còn chi nữa. Nhà thơ nhận sự thương nhớ của mình là tội lỗi. Đó là một ý niệm lạ làm cho ý thơ sâu sắc. Yêu và nhớ với người đời là lẽ thường tình, không ai kết tội. Trong Thiên Chúa, một nửa của mình là do Chúa định, nên yêu và nhớ không phải một nửa của mình tất nhiên là tội lỗi. Tuy thế cảm nhận trong tôi là tác giả thấy mình tội lỗi với em. Cái tội lỗi đó đời không bắt tội, em không bắt tội và có lẽ Chúa cũng không bắt tội, chỉ có sự bén nhạy trong tâm hồn tác giả khiến tự mình kết tội cho mình. Cái tội lỗi nầy chỉ cảm nhận qua thơ mà khó có lời giải thích , chỉ có thể định nghĩa là cái tội “yêu”, tội “nhớ” và tội “thương”
Bài thơ “Bỗng Nhớ” bềnh bồng, sâu thẳm, buồn nên thánh. Bài thơ có cái hay thật khó diễn thành lời. Tôi đã viết như thế trong phần bình luận dưới bài thơ đăng trên facebook vì thật sự bài thơ đã cho tôi những phút giây vừa mơ và vừa tỉnh. Mơ là vì hình ảnh mùa thu, bóng dáng người con gái trên con đường lá rụng đến giáo đường quá đẹp. Tất cả những hình ảnh đều vẽ ước lệ, thấy như là mình đang đi trong mộng. Tỉnh là vì niềm đau của tình yêu hằn sâu và bền bỉ trong lòng tác giả. Tiếng rên của người đau nhẹ như tiếng tơ đồng nhưng nó ngân lạnh buốt trong không gian và lắng sâu trong lòng  mãi mãi khôn nguôi.
                                                                        Châu Thạch



        Nhà thơ Nguyễn Đức Kim Long



BỖNG NHỚ

Buổi sáng em đến záo đường
Mưa bay qua bàn tay tôi
Con đường lá vàng và zó
Cõi nào như cõi xa xôi

Buổi sáng em đến záo đường
Tiếng chuông nge buồn não nuột
Bước em từng bước ngại ngùng
Vọng chùng xuống đời zá buốt

Buổi sáng em đến záo đường
Mắt buồn nhìn đời thánh thiện
Em ơi có fải là
Một đời tôi bỏ quên xa

Buổi sáng em đến záo đường
Mưa bay qua bàn tay tôi
Nhìn theo thấy mình tội lỗi
Vẫn còn thương nhớ một đời

    Nguyễn Đức Kim Long
             Huế, 1974


READ MORE - ĐỌC "BỖNG NHỚ", THƠ NGUYỄN ĐỨC KIM LONG - Bình thơ của Châu Thạch

CHÙM THƠ VỀ MÙA THU - Đặng Xuân Xuyến





THU SM

Em hỡi! Mùa thu đã đến chưa?                    
Có nghe se lạnh gió chuyển mùa?                                   
Có nghe thoang thoảng thơm cốm mới?                                        
Có thấy nhà bên rúc rích cười?                                           

Em nhỉ. Mùa thu đến thật rồi
Sương chiều bảng lảng rắc muôn nơi
Diều ai dìu dặt chòng chành nắng
Vắt vẻo em cười. Ơ... đã thu.

Làng Đá, Hưng Yên 18.09.2015
                  Đng Xuân Xuyế


HƯƠNG THU

Ô kìa chiều
Ai thả nắng vương cây
Tóc rối ai bay
Mòn ai đuôi mắt
Điệu lý buông lơi tính tang khoan nhặt
Da diết bổng trầm xao xác sông xưa

Ta hỏi chiều
Thu đã về chưa
Mà lá vàng rơi khẽ nghiêng thật nhẹ
Mà gió mơn man vuốt ve thật khẽ
Biêng biếc trời chiều
Man mát hương sen.

Ta hỏi chiều
Sao rất đỗi thân quen
Tí tách bếp ai dẻo thơm cốm mới
Câu lý giao duyên ngập ngừng bối rối
Bồng bềnh người ơi
Mây tím lưng trời.

Hà Nội, chiều 07 tháng 08 năm 2014
                   Đng Xuân Xuyế

.
CHIU THU

Bảng lảng chiều
Em thẩn thơ nhặt nắng
Tiếng chim kêu lảnh lót sau vườn
Chiếc lá mỏng cuộn mình rơi khẽ
Gió liu riu
Run rẩy khóm cúc vàng

Ngơ ngác nắng
Em thẩn thơ nhặt nắng
Hoa cúc vàng se sẽ trổ bông.

Hà Nội, đêm 12 tháng 09 năm 2013
               Đng Xuân Xuyế

READ MORE - CHÙM THƠ VỀ MÙA THU - Đặng Xuân Xuyến