Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, December 13, 2019

CÁI TỘI KHÔNG CÀI LẠI KHUY ÁO NGỰC - Phạm Đức Nhì - Bình thơ



CÁI TỘI KHÔNG CÀI LẠI KHUY ÁO NGỰC
Phạm Đức Nhì

TAN VỠ

Mở ngăn kéo rồi anh bỏ ngỏ
Bút viết xong không đậy nắp bao giờ
Ôi anh yêu, lơ đãng đến là
Con nai rừng của em...

Tất cả rồi dễ qua đi, qua đi
Chúng mình sẽ thành vợ thành chồng
Nếu không có một lần...
Một lần như đêm nay
Sau phút giây
Êm đềm trên ghế đá
Anh không cài lại khuy áo ngực cho em

(Dư Thị Hoàn, tập thơ Lối Nhỏ)

(Bình thơ kiểu lan man, không bài bản)


Tan Vỡ là bài thơ viết theo lối Kiếm Tông: Ra chiêu độc, nhắm vào chỗ hiểm nhưng ít nội lực. Lối viết này nhẹ về cảm xúc, nặng về kỹ thuật - chú trọng cái đẹp văn chương của câu chữ và thế trận. Thi sĩ tỉnh táo nên cảm xúc tầng 3 - ở ngoài câu chữ, phát sinh do trạng thái cao hứng, nổi điên của tác giả (mà đỉnh điểm của nó là hồn thơ) - thường không có hoặc có rất ít. Bài thơ thường ngắn và đoạn kết thường sử dụng thủ pháp “gợi, không kể” (Show, Don’t Tell) tạo cảm giác thích thú cho độc giả khi “bắt” được tứ thơ.

Bài thơ có hình thức thật dễ thương. Ba câu đầu còn có vóc dáng của Thơ Mới (biến thể). Đến câu thứ tư đã thấy khác lạ. Đọc hết bài thì thấy tay chân tác giả sạch trơn, không còn bóng dáng của xiềng xích, dây nhợ, luật tắc.

Chị còn giữ lại chút vần, nhưng là thứ vần thoang thoảng, phóng khoáng, không trói buộc. Chỗ có, chỗ không, len theo dòng chảy của tứ thơ. Bài thơ có 11 câu, 69 chữ nhưng chỉ có 3 cặp vần (giờ là, chồng lần, nay giây), toàn là thông vận, trong đó có 2 thông vận rất xa nên độ ngọt vừa phải, đủ cho ý này nối tiếp ý kia một cách tự nhiên, tuyệt đối không có hội chứng nhàm chán vần.

Tôi đọc to cả bài thơ vài lần để nghĩa của từng chữ, từng câu, từng đoạn thấm vào hồn, để nghe tiếng nhạc êm đềm thánh thót chơi vơi, và để nhận ra kỹ thuật thơ nhuần nhuyễn của tác giả.

Hai câu đầu:

Mở ngăn kéo rồi anh bỏ ngỏ
Bút viết xong không đậy nắp bao giờ

đặt nền cho câu kết:

Anh không cài lại khuy áo ngực cho em

rất khéo. Mở ngăn kéo không đóng, bút viết xong không đậy nắp, đều dễ cho qua. Nhưng “không cài lại khuy áo ngực cho em” thì theo chị, không thể chấp nhận được. Gợi ý đơn giản mà rất hợp.

Hai câu 3 và 4

Ôi anh yêu, lơ đãng đến 
Con nai rừng của em...

rất tình và dễ thương. Đây cũng là chỗ bước ra khỏi lề luật của Thơ Mới biến thể.

Bài thơ thành công ở chỗ tác giả đã chuyển tải được tâm tình của mình đến độc giả một cách điệu nghệ; chị đã thành thật bày tỏ điều mình muốn nói, và độc giả đã hiểu được, cảm được cái thông điệp ấy không khó khăn lắm.

Có một điều hơi trái khoáy nơi cảm xúc của tác giả. Tâm trạng của chị lúc làm thơ có thể nói là “nóng như lửa”. Lý do: Sau khi cho người yêu thám hiểm và mân mê  “đôi gò bồng đảo” hắn lại đành lòng không cài lại khuy áo ngực cho mình. Nó được biểu lộ ở chỗ ngay đêm hôm đó, sau khi chia tay từ “ghế đá”, chị đã tự ý quyết định cắt đứt mối tình.

Sự đè nén cảm xúc của nhà thơ Dư Thị Hoàn thật đáng nể phục. Chị đã biểu lộ sự thâm trầm của một phụ nữ có bản lãnh.  “Giận đến điên tiết” nhưng lời thơ vẫn nhẹ nhàng, giọng điệu vẫn dịu dàng.


Chúng mình sẽ thành vợ thành chồng
Nếu không có một lần...
Một lần như đêm nay
Sau phút giây
Êm đềm trên ghế đá
Anh không cài lại khuy áo ngực cho em

Nhẹ nhàng, dịu dàng nhưng dứt khoát. Hai chữ “đêm nay” chứng tỏ chị đã quyết định dứt khoát ngay sau đó. Và cái tựa Tan Vỡ là kết quả đương nhiên.

Đáng tiếc là sự đè nén đó đã làm bài thơ thiếu hơi nóng, chỉ khơi gợi được cảm xúc tầng 1 (từ câu chữ), cảm xúc tầng 2 (từ thế trận). Cảm xúc tầng 3 hầu như không có.


Bình luận về bài thơ luôn gây tranh cãi này, Tiến sĩ Trần Ngọc Hiếu dẫn chứng luận điểm của một tôn giáo: “Thân thể của tôi là luật của tôi”. Ông cho rằng “… Người phụ nữ có thể chấp nhận người đàn ông vô tâm, nhưng đến mức không cài lại khuy áo (đã vượt giới hạn cho phép - chữ của PĐN), là dấu hiệu cho thấy người phụ nữ này ý thức về thân thể mình, sự tổn thương của mình, cô ấy đòi hỏi sự tôn trọng, cần được nhìn như một cái gì bình đẳng”. (1)

Tôi không đồng ý với nhận xét của Tiến Sĩ Trần Ngọc Hiếu.

Nguyễn Thị Hoàng Bắc – qua bài Ngọn Cỏ - muốn đái đứng để đòi lại quyền bình đẳng với nam giới, nhưng lời kêu gọi của tác giả Ngọn Cỏ không được nhiều người hưởng ứng (2). Lý do: Hình ảnh người phụ nữ đứng đái – do đặc tính của bộ phận sinh dục (kiêm bài tiết) – không những không được đẹp mà còn rất phản cảm nữa.

Trong khi đó, Tan Vỡ của Dư Thị Hoàn chỉ là sự ương ngạnh đầy cá tính của một phụ nữ thích được hoàn toàn độc lập trong cách suy nghĩ và ứng xử của mình, chẳng liên quan đến bình đẳng hay nữ quyền gì hết.

Trong bài Sài Gòn Một Chiều Em Lỡ Hẹn tôi có viết về cô bạn gái thời vẫn còn rất trẻ:

“Còn nhớ không? Có lần anh lấn tới
Cũng một buổi chiều, em vẽ một làn ranh
Đây là biên giới.
Đừng bao giờ vượt quá nghe anh (3)

Dù tình từ cảm mến đã đến chỗ yêu thương nhưng nàng vẫn muốn giữ gìn, không muốn người yêu coi thường mình. Tôi hoàn toàn chấp nhận thái độ tự trọng ấy. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, làn ranh ấy đã được vẽ lui lại mấy lần khi tình thêm sâu đậm. Và sau cùng, trong cơn cao hứng, tôi xóa sạch làn ranh; nàng phụng phịu một tí rồi cũng vẫn mỉm cười vui vẻ.  

Trường hợp của Tan Vỡ thì khác. Tình của hai người đã chin mùi, sắp sửa thành vợ, thành chồng. Nàng đã mở cổng hai lớp rào đón chàng vào thăm khu đồi hai quả của mình. Chàng và nàng đã đê mê “sau phút giây êm đềm trên ghế đá”. Thế rồi chỉ vì “Anh không cài lại khuy áo ngực cho em” mà nàng, không một lời cảnh báo, cắt đứt mối tình, “mời chàng đi chỗ khác chơi”.

Ở đây không phải vì lòng tự trọng mà vì trong cơn bốc đồng, tự ái dâng lên cao độ, chị đã đưa ra một quyết định không hợp lý mà cũng chẳng hợp tình – ngôn ngữ đời thường là “chảnh không phải lối”.

Hơn nữa, mình cài khuy áo ngực cho mình thì không khó lắm. Nhưng người khác cài cho mình thì không phải dễ - nhất là hai người ngồi bên nhau trên ghế đá. Nếu không đứng lên cũng phải xoay lưng lại. Rồi còn trời tối, không thấy rõ ràng nên cũng phải mò mẫm một lúc may ra mới cài được. Mà đây là ghế đá chứ có phải nhà riêng, phòng riêng đâu. Mò mẫm kiểu đó lỡ có ai thấy người ta cười chết.   

 Mới dạo thăm “hai quả đồi” mà luật lệ đã khắt khe như thế, còn khi đã thành vợ thành chồng thì sao? Đâu phải chỉ có khuy áo ngực mà cả áo quần lớp này lớp khác. Cứ cái tinh thần ấy, luật lệ ấy thì ân ái không còn là lạc thú mà sẽ trở thành những bực mình, khó chịu; không khéo thì chẳng bao lâu cả anh chồng lẫn chị vợ đều mắc phải chứng bệnh lãnh cảm.

Bởi vậy tôi hoàn toàn đồng ý với nhà nghiên cứu Hoàng Tố Mai khi bà cho rằng “Bài Tan vỡ tôi lại không để ý lắm. Tôi không quan tâm chuyện cài lại áo, vì đối với tôi quần áo ai người ấy mặc”. (1)

Tóm lại, Tan Vỡ là một bài thơ hay, đặc biệt là hình thức (thi pháp) của bài thơ. Nó đã thoát khỏi trói buộc của các thể thơ truyền thống, vượt qua Thơ Mới, kể cả Thơ Mới biến thể.

Số chữ trong câu tùy tiện, Số câu trong bài tự do, viết hết ý thì thôi.

Như đã nói ở trên, tác giả còn giữ lại chút vần, nhưng là thứ vần thoang thoảng, phóng khoáng, không trói buộc.

Tứ thơ thông thoáng, dàn trải tâm tình của tác giả một cách dễ dàng và hiệu quả.

Tiếc là thông điệp của tứ thơ quá “chảnh” nên khó tìm được người đồng thuận chứ đừng nói là đồng cảm.

Theo tôi, nhà thơ Dư Thị Hoàn nắm vững và đã đi trước nhiều nhà thơ đương đại về thi pháp. Nếu chị chuyển qua viết theo lối Khí Tông thì với kỹ thuật thơ mới mẻ và nhuần nhuyễn như thế, lại gặp được trạng thái tâm rung chuyển mạnh mẽ như khi đặt bút viết Tan Vỡ, tôi tin rằng thơ của chị sẽ có hồn, sẽ lưu lại ấn tượng khó quên trong lòng người đọc. Và dĩ nhiên, vị trí của chị trong làng thơ sẽ còn cao hơn nữa.

Phạm Đức Nhì

CHÚ THÍCH:







READ MORE - CÁI TỘI KHÔNG CÀI LẠI KHUY ÁO NGỰC - Phạm Đức Nhì - Bình thơ

ĐOẢN KHÚC - Thơ Đoàn Vũ

Nhà thơ Đoàn Vũ
ĐOÀN VŨ
Đoản khúc


mẹ cười

cả đời gồng gánh lệch vai
khép vòng xuân rộ sắc mai… mẹ cười.


đá ngồi

đá ngồi trên đỉnh chênh vênh
chìa tay níu đá… đá rên giật mình!


niệm hương

niệm hương nước mắt nghẽn dòng
oan hồn hay chị long đong ngày về?


ngày về

ngày về nắng quái chân mây!
vành khăn chít vội lên ngày chịu tang
mưa chiều lạnh không nghĩa trang?
quỳ bên mộ mẹ…nén nhang gục đầu.


chị ơi!

mau về…quét dọn bão giông
bao năm mưa gió - ngập lòng chị ơi!
mẹ, cha khuất núi lâu rồi
tết…mong nhớ chị bời bời ruột gan!


Phan Thiết chợ xuân đêm

dạo một vòng Phan Thiết chợ xuân đêm
tôi gặp mùa xuân trên đôi vai em gánh
dáng thon nhỏ, bước chân sóng sánh
sông Cà Ty nghiêng dáng xuân mềm.


hoa Trà Mi ở Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt

trầm tư bên đóa Trà Mi
ôi hoa vừa chớm nhu mì thế sao?
gió xuân khe khẽ rì rào
Trà Mi tĩnh lặng…nép vào cõi không!


Ðoàn Vũ – Hội viên hội Văn Nghệ Bình Thuận.
Email: vudoan0102@gmail.com.

READ MORE - ĐOẢN KHÚC - Thơ Đoàn Vũ

BÌNH LUẬN VĂN HỌC: LỤC BÁT MỒ CÔI - MacDung



BÌNH LUẬN VĂN HỌC
LỤC BÁT MỒ CÔI
MacDung

Thơ là loại cảm xúc bất chợt khó kiểm soát. Có bài thơ, thi nhân chọn chủ đề nhưng mãi không thể hoàn thành. Lại có bài chỉ thoáng chốc đã xong. Tinh túy thơ bắt nguồn từ cảm xúc tích tắc, rồi thi ngôn tuôn vội. Nếu như mỗi bài thơ được lập trình như toán học, thế gian thi ca thật đáng buồn. Nhớ ngày mới tập tành làm thơ tôi luôn ao ước được sánh vai người, bằng những bài thơ dài hoặc trường ca cho thanh oai với đời…
Sau này lớn lên, tâm đắc những điều chiêm nghiệm, tôi lại quý cảm xúc những bài thơ ngắn. Chính sự ngắn ngủi, bất chợt, lại thể hiện chân thực cảm xúc được thi nhân lột tả vội vàng mới chạm vào Tâm khách thưởng thức. Làm thơ hay chưa đủ! Đọc thơ giỏi mới hay! Bởi khi biết chi tiết đắt giá chạm vào tâm tư nhỏ lệ thì việc ra thơ luôn ít sai lầm. Tôi là kẻ làm thơ dở! Đọc cũng chẳng hay! Nay lạm bàn về 2 câu Lục Bát của nhà thơ bác sĩ Nguyễn Hùng Phong trong tiết giá đúng với ngữ cảnh toàn bài. (Theo qui định về cách gọi, một câu Lục Bát bao gồm câu 6 và câu 8) Chỉ 2 câu Lục Bát biến thể cách viết vô tên, nhưng nao lòng người và chất chứa bao buồn vui tuổi xế chiều…!
Nguyên tác:

     “Canh khuya
    thức giấc lạnh đầy...
     Mới hay Đông đã
    về đây bên mình!
     Tìm em
    hát khúc Tạ Tình...
     Rã đông kết đoá
    hoa xinh tặng người!”
     (Nhà thơ – Bác sĩ Nguyễn Hùng Phong)

Thường nói đến cô đơn, người ta hay liên tưởng đến phận đàn bà. Như vậy thật bất công cho “phận” đàn ông, bởi có đàn bà cô đơn phải sinh ra đàn ông cô đơn. Sự cô đơn bắt đầu từ hai phía mới thật sự khách quan khi đánh giá vấn đề.
“Canh khuya thức giấc lạnh đầy…”
Tình vốn nồng ấm mới đúng là tình! Tình lạnh, chứng tỏ sự xa vắng lạnh lùng từ khí chất. Lạnh, có thể thiếu ủ. Lạnh, cũng là tình xa. Xa một góc như phân chia vị trí. Xa như cõi riêng mỗi người đi một nẻo… Dù sao nửa đêm thức giấc chẳng có gì để ủ ấm thật bi đát. Nếu có ai đó cận kệ chắc cũng phải lạnh! Thôi đành làm bừa trong cảnh chăn mỏng, gối thưa, bỏ bớt khoảng cách gió lùa trong cái lạnh se sắc…
Cái hay ở câu thơ chính là “thức giấc lạnh đầy”. Ngủ không sao! Nhưng thức lại cảm giác “lạnh đầy”! Chuyện gì xảy ra trong thoáng bất chợt, khi ngọn lửa vốn đã nguội nhưng thảng thốt muốn được sưởi ấm một đêm đông!? Thoáng chần chừ đâu đó, nhưng hành động thân quen đã trôi tuột về quá khứ trong chớm hoàng hôn… Ngọn lửa bất chợt từ một phía, có khi nào được cảm nhận song đôi với sự đồng thanh tương ứng!?... Thật buồn trong giá lạnh và gánh nỗi cô đơn với chỉ mỗi câu thơ nao lòng…!
“Mới hay Đông đã về đây bên mình…”
Một sự phát hiện tức khắc. “Mới hay” tức là trước đó không biết gì. Nay đã hiểu Tiết Lạnh đã về! Phải chẳng khoảnh khắc xa xưa vừng đông vốn nắng ấm, cuộc tình rong ruổi chốn thiên đàng, rồi bất chợt trong đêm lạnh ta “mới hay” thời gian đã trôi! Trôi trong một đêm lạnh đơn côi nghĩ ngợi! (Có người kề bên sao nghĩ được!!!) Phát hiện dương quang đã tàn, chỉ còn băng sơn treo đỉnh!
Chỉ 1 câu Lục Bát nhẹ nhàng, tuôn vội theo cảm xúc thi nhân, đã làm xuyến xao bao kẻ “đứng chung vĩ tuyến”. Đâu đó vang nhẹ nụ cười cho người đọc! Nhưng sâu thẳm bên trong vẫn chứa đựng khắc khoải đau buồn…
Nghĩa của tiếng Việt vốn phong phú nên khách phương Tây học chữ, có câu: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Từ “Tạ Tình” trong câu:
     “Tìm em
    hát khúc Tạ Tình...”
     “Tạ” theo Nôm, tức thuần Việt nghĩa là Đáp Trả. Nhưng nếu xét nghĩa Hán – Việt lại là Từ Chối… Thật tình bối rối trước cách sử dụng từ “rình rập”! Thôi thì hiểu theo nghĩa “sáng nhất” là “đáp trả” đi. Như vậy: “Tìm em khúc hát Tạ Tình” ở đây có thể là người nào đó xa trong góc giường được “đáp trả”, hoặc giả thi nhân không chịu được sự cô đơn nên hẹn sáng ngày đi “rước ai đó về”… Người bạn học ngày trẻ lỡ dại hôn trộm chẳng hạn!? Người yêu chưa kịp “đăng ký kết hôn”!? Người ưng ý nhưng chưa đủ quyết tâm… Trăm ngàn cách để nghĩ! Thật đau đầu…
      Chắc vì quá “đau đầu” nên tác giả kết câu thật nhẹ nhàng, sảng khoái:
“Rã đông kết đoá
    hoa xinh tặng người!”
Câu kết như “quyết tâm” cao cả! Thôi thì quên phứt cái lạnh để… “kết đóa hoa xinh tặng người!”…
Một kết thúc có hậu, để ban niềm tin cho đấng mày râu… qua tiết Đông… lạnh buồn!...

Lời bạt:
  Khi người bác sĩ buông y cụ thì các bạn cứ tin đi, độ chính xác là không phải bàn cãi…
 Tác giả Nguyễn Hùng Phong thuộc trong số ấy, khi quay về với thơ bằng chất liệu gợi nhớ mênh mông. Tuổi trẻ đã gắn mình cùng thơ, thì vào tuổi hưu trí tại sao con người phải hoài phí thời gian? Có lẽ vì điều này mà độc giả biết đến Nguyễn Hùng Phong và được thưởng thức phong cách hoài cổ với bến nước, dòng sông…
       Quá khứ là chất liệu kết thành chuỗi cho những vần thơ, từ đó tính quê hương gợi nhớ hình bóng người mẹ, nơi chất chứa thiêng liêng đối với những đứa con dù nay đã lớn… 
  Đến với tác nhà thơ Nguyễn Hùng Phong để hiểu rằng: Con người có thể chọn nghề nghiệp nhưng thơ là… ngược lại… Và trong tất bật cuộc đời, người bác sĩ vẫn yêu… Thơ…
      Mong rằng nhà thơ - bác sĩ sẽ cho ra nhiều thi phẩm ấn tượng trong thời gian không xa…

VL – 11.12.2019
MacDung





READ MORE - BÌNH LUẬN VĂN HỌC: LỤC BÁT MỒ CÔI - MacDung