Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, October 7, 2019

HOÁ GIẢI NỌC ĐỘC KIM KIỀU ÁN 1830 VÀ TỔNG TỪ TỰ ĐỨC 1871 - Lê Nghị



                   Tác giả Lê Nghị


HOÁ GIẢI NỌC ĐỘC KIM KIỀU ÁN 1830 VÀ TỔNG TỪ TỰ ĐỨC 1871

Thật ra bài này tôi đã chia làm 2 bài chi tiết đã đăng trang cá nhân, nhưng hôm nay tình cờ được chia sẻ 2 bài viết rất ngắn của một fb trẻ Nguyễn Tấn Sơn, tôi giật mình trước một hậu sinh khả uý, đặt ra những câu hỏi về Thanh Tâm Tài Nhân và Kim Thánh Thán mà trước đây cho là tác giả và nhà bình luận Kim Vân Kiều truyện. Vì vậy tôi đăng bài này sớm hơn dự định như là lời hoan nghênh một người thuộc thế hệ đàn em đã tâm huyết sưu tập sách và có một tư duy sắc bén.

Ở đây tôi muốn nói rằng khi Nguyễn Tấn Sơn khi nhìn vào đống sách Tàu Kim Vân Kiều truyện tác giả là Thanh Tâm Tài Nhân đã không hề nao núng. Có bản lĩnh như vậy thì khi nhìn một bảng thống kê, ví dụ của tiến sĩ Nguyễn Nam về những thẩm định mới Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, cũng có một thái độ tương tự.

Trước hết đừng nhầm truyện Vương Thuý Kiều với Kim Vân Kiều truyện. Tiếp đến đừng nhầm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài tử của Việt Nam, cuốn ký hiệu A953.

Truyện Vương Thuý Kiều là một truyện ngắn của Dư Hoài khoảng 800 từ. Nguyễn Du đã mượn tên 3 nhân vật: Vương Thuý Kiều- Từ Hải- Hồ Tôn Hiến để làm vài đốt sống cổ , kết nối với một cơ thể hoàn chỉnh tạo nên Đoạn Trường Tân Thanh. Nói cách khác Nguyễn Du đã hư cấu ra 15 năm luân lạc của Kiều trước khi Từ Hải chết và sự tái đoàn viên của Kiều sau khi Từ chết. Có như vậy mới gọi là ông sáng tạo. Còn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử A953 là cuốn bình giảng thơ Nguyễn Du. Nhưng bị hiểu ngược là cuốn tiểu thuyết từ đó Nguyễn Du dịch ra. Đó là theo lập thuyết của Tay Ngang này.

Cho nên khi đọc một danh mục thống kê một loạt các truyện người Trung Hoa khi nghiên cứu về nguồn gốc truyện Kiều. Đừng tưởng tất cả những cuốn đó là những cuốn truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nào đó bên Tàu. Chúng là những truyện dã sử ngắn, dài xoay xung quanh đề tài chính sử : Vương Thuý Kiều - Từ Hải- Hồ Tôn Hiến. Người Tàu muốn chứng minh Kim Vân Kiều truyện mà theo họ là Nguyễn Du đã dịch từ cuốn Kim Vân Kiều truyện của một tác giả vô hình TTTN người Hoa. Họ nêu lên những truyện đó trên 24 truyện ngắn dài, tình tiết khác nhau, xem như là nguồn hứng khởi để Thanh Tâm Tài Nhân viết nên Kim Vân Kiều truyện năm nào không biết.

Thực ra đầu tiên họ gán Thanh Tâm Tài Nhân cho Từ Vị, họ cất công ghi tiểu sử Thanh Tâm Tài Nhân trên Internet với đầy đủ chi tiết nhân thân của Từ Vị, một nhà văn nổi tiếng, đồng thời có lúc là tham mưu cho Hồ Tôn Hiến. Gõ vào Google là thấy liền. Nhưng sau khi bị Benoit và các học giả khác bác bỏ họ liền chuyển qua Kim Thánh Thán, Trương Quân...rồi Thiên Hoa Tàng chủ nhân. Nhưng sau đó tiếp tục bị bác bỏ, đến năm 1991 họ đành viết chính thức trong Đại Từ Điển chưa biết Thanh Tâm Tài Nhân là ai, chỉ biết là một bút danh.

Thế nhưng từ rất lâu, 1947, các học giả như Đào Duy Anh rồi Dương Quảng Hàm lại nói chắc như đinh đóng cột rằng tác giả Thanh Tâm Tài Nhân là tác giả cuốn Kim Vân Kiều truyện! Tại sao vậy? Vì hai cụ đã đọc Văn Học Sử Trung Quốc và thấy tác giả Cổ Thực năm 1926 và Đàm Chính Bích năm 1936 đã ghi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân vào thư mục. Không thể trách hai cụ. Thời đó làm sao thẩm tra? Từ đó các tay dọc thao túng văn học miền Bắc tin theo và tiếp tục rao giảng thông tin trên.

Trong thập niên 1960 ở miền Nam lại có thêm học giả Giản Chi nghe thông tin từ một người bạn người Hoa bảo rằng có cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, bút danh khác của Từ Vị. Ông nghe từ trước 1954 ngoài Bắc, ghi vào sổ tay và vào Nam ông viết lại. Nhưng sách giáo khoa miền Nam không hề đưa vào dạy học sinh. Chỉ những người tham khảo cỡ học giả mới biết bài của ông. Những người phản đối có Lý văn Hùng. Tất cả nguồn tranh luận là chuyện ngoài học đường.

Từ năm 1975 các thầy cô đến nay cứ dạy học sinh là mở đầu xem như thông tuệ là : Nguyễn Du đã phóng tác Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu, một cuốn tiểu thuyết tầm thường. Các thầy cô chưa ai đọc cuốn này cho đến năm 2012 may ra mới có người đọc nhờ tái bản cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài tử Việt Nam (tuỳ tiện đổi tên ra Thanh Tâm Tài Nhân cho phù hợp với cách gọi của một tác giả huyền ảo bên Tàu) với lời quảng cáo khéo léo của nhà thơ Bằng Việt: “Cho nên, nếu đọc lại truyện Kiều của Nguyễn Du,rồi lại đọc để so sánh với tiểu thuyết của TTTN, thì chúng ta đã kính trọng TTTN rồi, lại phải ngã mũ kính chào cụ Nguyễn Du đến hàng chục lần...”

Bao nhiêu bài viết bung xung trong sách, trên mạng với một loạt bút danh học thuật tay dọc, như một trò hề. Nhiều người trắng trợn viết Thượng Chi (Phạm Quỳnh) cũng nói như thế. Trong khi thuyết của Phạm Quỳnh là Nguyễn Du đã mượn bối cảnh truyện ngắn Vương Thuý Kiều của Dư Hoài trong phong tình lục, sát với lời thơ của Nguyễn Du: “phong tình có (cổ) lục còn truyền sử xanh”. Đồng thời sát với lời của Mộng Liên Đường: truyện Thuý kiều chép ở lục phong tình...

Theo tuyên bố của Đổng văn Thành năm 1981 lần đầu tiên ở Trung Quốc tìm ra một cuốn gọi là của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu. Vậy thì các vị múa bút trước đó căn cứ vào đâu để dạy học sinh? Huống chi cũng năm đó tình cờ Benoit hình thành luận văn Tiến sĩ Harvard về truyện Kiều. Trước đó ông đã đối chiếu hàng loạt tác phẩm chỉ ra cuốn mà Đổng Văn Thành gọi là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thật ra là cuốn Song Kỳ Mộng truyện, (Tàu còn cho tên là Song hợp hoan) khuyết danh. Cuốn mà Lý Chí Trung gọi là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân hiện đang lưu hành, gọi là phát hiện tại thư viện Đại Liên theo di lục của Hồ Khoáng tại thư viện Bắc Kinh, thực ra không có. Trần Ích Nguyễn (Đài Loan) sau khi lục tung danh mục thư viện không thấy chỗ nào Hồ Khoáng ghi, trực diện hỏi Lý Chí Trung. Lý trả lời ông đọc đâu đó từ một bài viết ở một học giả Hồng Kông! Lạ thay, vậy mà có nguyên một cuốn sách 208 trang cho là cổ thư đã ghi nhận. Trần Ích Nguyễn tế nhị nói là một bí ẩn nhờ ai đó biết tường tận giải giùm!

        
Bản giữa là truyện Kiều của Nguyễn Du đặt in ở Phật Sơn- Quảng Đông

Thế nhưng như Benoit viết: từ 1830 người Việt tin là Kim Vân Kiều truyện do Kim Thánh Thán. Nguồn gốc do đâu? Thêm vào đó đầu thập niên 1960 học giả Hoàng Xuân Hãn cung cấp thêm chứng cứ bằng 3 quyển 2,3,4 có ghi Ngũ Vân Lâu bình luận. Ông gửi về từ Pháp, giáo sư Nguyễn Văn Hoàn vui mừng vì 3 quyển sách quý trở về. (theo lời dẫn của Nguyễn Văn Hoàn, báo Nhân Dân 24/8/1963 Hoàng Xuân Hãn đã mang về Pháp năm 1946 nay trả lại).

Bên cạnh đó giáo sư Hoàng Xuân Hãn bảo vệ luận điểm của mình, ông phân tích Kim Vân Kiều Án của Nguyễn Văn Thắng và Bài thơ Tổng thuyết của Tự Đức. Từ đó xác lập niềm tin cho thế hệ đương thời và lưu lại dấu ấn trong giới học giả đàn em. Trong bài này nêu lên độ tin cậy khi đọc tư liệu của người xưa. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được xem là nhà bác học uyên bác trên nhiều lĩnh vực. Không thể chối cãi rằng ngày nay ta cũng thừa hưởng rất nhiều kiến thức từ nhiều công trình giá trị của giáo sư. Nhưng như thế không có nghĩa ta không được phép xem xét lại ý kiến của giáo sư về nguồn gốc truyện Kiều. Cũng như ta không thể không tôn trọng những mâu thuẫn mà fb Nguyễn Tuấn Sơn nêu ra.

Về nguồn gốc truyện Kiều ta xét trả lời phỏng vấn của cụ Hoàng Xuân Hãn với nhà văn Thụy Khê:
“-Thưa bác, xin bác nói về quyển Kiều chữ Hán.Hoàng Xuân Hãn: Truyện Kiều chữ Hán thì gốc tích bây giờ cũng biết rõ ràng. Trong Minh sử, đời Gia Tĩnh, có Từ Hải thực, một người giặc,kki và Hồ Tôn Hiến, ông quan dẹp giặc. Ta cũng biết rõ rằng Từ Hải là người bất kham, không chịu lệnh triều đình, muốn chiếm một vùng dọc biển hoặc các hải đảo để tự trị, tự do. Muốn làm thế thì phải gian díu với một tụi giặc thực, giặc bể, người Nhật Bổn, vào cướp đất Trung Quốc. Từ Hải có lúc cũng trốn, vì mang tiếng là giặc, vào đi tu thành thầy tu. Nhưng thầy tu vẫn đi chơi. Đi chơi cô đầu, gặp Kiều ở nhà cô đầu, tên là Mã Kiều vì tưởng là con gái họ Mã. Rồi Từ Hải lấy người ấy. Trong sử chép rõ ràng là Hồ Tôn Hiến được lệnh đi dẹp đám Từ Hải-Vương Trực. Vương Trực làm chủ, còn Từ Hải chỉ là một tay phụ mà thôi. Muốn dẹp bọn này, Hồ Tôn Hiến dùng kế đàn bà tức là dùng Kiều. Nhưng tên Kiều thì trong sử không nói tới. Trong sử chỉ nói là dùng người đàn bà. Đến lúc Từ Hải đã chịu thần phục nhà vua thì quân Hồ Tôn Hiến lại lừa, đánh úp, Từ Hải nhẩy xuống biển tự tử. Nói là tự tử với hai người vợ cùng nhảy xuống biển. Hai người vợ chứ không phải một đâu. Sự thực là thế, cuối cùng Kiều cũng tự tử với Từ Hải chứ không như chuyện trong tiểu thuyết. Rồi cái tiếng Kiều đời ấy chắc là to lắm, cho nên nhiều người đặt ra chuyện. Trước truyện Kiều, có một hai truyện ngắn, có thể nói là đoản thiên tiểu thuyết, về một người con gái Bắc Kinh, bị Tú Bà bắt cóc, nhận làm con gái gọi là Mã Kiều. Rồi Từ Hải lấy Mã Kiều. Cuối cùng thì tự tử với Từ Hải”.
Đến Thanh Tâm Tài Nhân, người viết truyện dài quãng cuối nhà Minh, đầu nhà Thanh, khoảng đầu thế kỷ XVII. Viết xong giao cho Thánh Thán. Thánh Thán là một văn sĩ giỏi mà lại biết phê bình, biết khắc ván để hoàn thành tiểu thuyết mà bán. Cho nên họ gọi là bản Thánh Thán là vì thế. Về Thanh Tâm Tài Nhân, hình như Thanh Tâm Tài Nhân có đề tựa và viết những chuyện khác nữa. Đó cũng là những chuyện thực hết cả.
Bản Kiều ấy, tung bán khắp nơi rồi cũng bị sửa chữa. Tầu cũng như ta, có nhiều người đọc rồi sửa chữa lại văn. Hiện giờ có đến ba, bốn bản khắc. Mắt tôi được thấy bản Thánh Thán là một bản. Một bản tôi thấy ở Bristish Museum, văn hơi khác. Cách đây độ mươi năm, có người thấy ở trong thư viện, một thành phố rất nhỏ, thuộc đất nhượng địa cũ cho Đức, tôi không nhớ tên, gần Shantung, trong đó có nhiều tiểu thuyết cuối đời Minh, đầu đời Thanh, họ lấy ra và in ra. Nhà in ở Bắc, tên gọi là Xuân Phong , bản ấy tôi cũng mua được ở Paris đây. Và bên Nga, bên gì họ dùng bản ấy hết cả.

Sau đây là ảnh của tranh minh họa truyện Kiều lưu tại thư viện Anh nói trên (trích từ sách của Charles Benoit- Nguyễn Nam và cộng sự dịch, 2016)

       

       

       


Nhận xét:
Ta thấy rằng đoạn đầu giáo sư lặp lại tích hệt Kỉ Từ Hải tiểu trừ bản mạt của Mao khôn và truyện Vương Thuý Kiều của Dư Hoài -Phong Tình lục. Không có gì bàn cãi.

Đoạn giữa quan trọng, ban đầu cùng ý với các nhà nghiên cứu Tàu. Vì sau khi xem năm sinh và chết: Kim Thánh Thán (1610- 1661) mà Thanh Tâm Tài Nhân (1636- 1708). Nghĩa là khi TTTN 25 tuổi thì Kim Thánh Thán đã chết trước Khang Hy đăng quang 1 năm (1662). Thế mà trước đây cứ cho tiểu thuyết thời Minh- tác giả Từ Vị (1521-1593) không ổn, kéo gần hơn: Kim Thánh Thán viết thời Khang Hy, in thời Càn Long. Xem lại thì ông Kim Thánh Thán chết trước Khang Hy đăng quang một năm. Chả lẻ lại kéo gần thêm? Không khéo lại sau Nguyễn Du chết mất! Thế thì gán cho 2 nhà thơ khác vậy, cũng không ổn. Hoàng Dật Cầu năm 1959 gán cho Từ Chấn= Thiên Hoa tàng Chủ Nhân= Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng không ổn. Trần Ích Nguyễn và Đại Từ Điển Văn học sử Trung Hoa( Đài Loan) 1991, nói không biết Thanh Tâm Tài Nhân là ai. Mặc nhiên định TTTN sinh 1636, chết 1707 !

Có mấy nghi vấn mâu thuẫn:

Theo năm sinh, nếu có TTTN, chậm lắm thì năm 23 tuổi TTTN đã viết xong một tiểu thuyết, thì ông quả văn tài hiếm có. Hơn nữa, ngoài văn tài, ông phải có kiến thức rộng như Nguyễn Du, thông kinh sử mới đủ sức hư cấu một tiểu thuyết luận đề. Tác phẩm nêu một thực trạng xã hội thối nát nhà Minh, mà xuất bản, tồn tại thời Minh mới là lạ! Nếu tác phẩm đó từng xuất hiện thì phải là một tiếng sấm, được cả hai bên cai trị và bị trị cùng nghe. Vậy mà tuyệt nhiên không lưu lại một bài thơ, một bút tích người khác khen chê. Cũng như tác giả không lưu lại một vết tích có liên quan đến bạn bè, vợ con....tóm lại không có nhân thân!.
Nhưng sao lại biết ông sinh 1636 và mất 1708? (theo Trần Ích Nguyễn) Có phải rằng phi lý không?

Tương tự trên, có lời bình của Kim Thánh Thán thì ắt nổi tiếng như giáo sư nói. Sách bán phổ biến. Lọt qua Việt Nam, Nhật, Mãn Châu... Vậy tại sao Trung Hoa không còn lại bản nào? Văn học sử Trung Hoa đến Lỗ Tấn 1920 cũng không hề nhắc tới.
Hoàng Dật Cầu đặt giả thuyết là do nhà Thanh ghét giặc biển nên truyện cấm lưu hành. Nhưng truyện viết vào cuối đời Minh, nói xấu nhà Minh thì được nhà Thanh ủng hộ chứ sao lại cấm!? Cần nhớ rằng mặt nào đó đối với Kim Thánh Thán, ông là thần tử nhà Minh. Năm 1662, Khang Hy mới chấm dứt nhà Nam Minh và đăng quang sau Kim Thánh Thán mất 1 năm. Đối với Kim Thánh Thán, quân Thanh là ngoại tộc, ông kêu oan cho học trò chống quan quân nhũng nhiễu. Ông bị khép tội phò Minh chống Thanh, thì liệu một người như ông lại thò bút vào bình, hoặc viết một cuốn sách nói xấu nhà Minh không? Thêm vào đó lời bình của ông lại đôi lúc ngô nghê như một học trò tập bình văn!
Và quan trọng hơn nữa, không có một bài bình luận, phê bình, sách nào của tác giả khác nhắc tới tên tiểu thuyết và tác giả này trong suốt 265 năm. (cho đến 1926 nghe lõm đâu đó, chắc là từ An Nam mới ghi vào danh mục, chứ không có bản văn).

Chính vì vậy, xem xét văn bản các học giả Trung Hoa trước đã gạt Từ Vị là Thanh Tâm Tài Nhân, tiếp đến gạt Kim Thánh Thán ra khỏi sách, gắn cho 2 nhà thơ Trương Chiêu hoặc Trương Quân rồi Thiên Hoa Tàng Chủ Nhân. Như vậy thuyết Kim Thánh Thán ngoại thư, hoặc Quán Hoa Đường bình luận, “Thị biên Bắc nhân Thánh Thán trước” (Lời Tự Đức), viết hoặc bình Kim Vân Kiều truyện sụp đổ ngay từ khẳng định của các học giả Trung Hoa.

Ngoài 2 lý do trên từ học giả người Hoa, ta còn xét:

- Ngũ Vân Lâu là một nhà in ở Quảng Đông bắt đầu hoạt động đầu những năm 1800 kéo dài đến gần trăm năm. Vậy cuốn quyển 4 kVKT có in Ngũ Vân Lâu đó in năm nào? Làm sao mà biết được có trước Nguyễn Du? Có bìa mà sao không có niên đại nhà Thanh. Sách in lậu ư? Còn tích Vương Thuý Kiều như truyện ngắn, kịch không lẽ nhà in này không in. Các Thanh Tâm tài tử trong thời đó đều biết truyện Vương Thuý Kiều của Dư Hoài, Kỷ Từ Hải tiểu trừ bản mạt của Mao Khôn mới dựa theo đó mà bình giảng thơ Kim Vân Kiều truyện (do Minh Mạng đổi tên- bút tích VNB 60, thư viện quốc gia, dẫn theo Trần Văn Giáp)

 - Thêm vào những nghi vấn đó, có một điều học giả ít lưu ý cho đến cuối đời Tự Đức nhiều sách, kể cả truyện Kiều của ta phải đặt in bên Quảng Đông, vì nhanh, rẽ, đẹp( so sánh 2 bản in Kiều đính kèm). Vậy giả định sách Đại Nam: Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài tử đặt in thì đâu có gì lạ? Số lượng đặt in, nếu có, sẽ không lớn vì nó không phổ biến như Truyện Kiều, vì ít người hiểu được âm Hán. Như vậy giá thành rất cao. Liệu nhà kinh doanh nào dám đầu tư không? Cho nên phần lớn là chép tay.

Đoạn cuối: nhà xuất bản Xuân Phong, đất Bắc như giáo sư nói thì đó là nhà in hiện đại, cuốn KVKT tên tác giả in lần đầu tiên tại đây là năm 1957 với lời đề tựa của Thiên Hoa Tàng Chủ Nhân, nội dung thì không khác với Ngũ Vân Lâu. Bản này Hoàng Dật Cầu sau khi qua Việt Nam, vào viện Hán Nôm tham khảo, về dạy tại Đại học Hoa Nam đã tặng ngược lại bản in sáp quyển 2,3,4 cho viện Hán Nôm. Trước đó Hoàng Dật Cầu, Tôn Khải Đệ đều nói Kim Vân Kiều truyện không còn ở Trung quốc mà!

Tóm tắt lại thì thuyết Kim Thánh Thán viết hoặc bình Kim Vân Kiều truyện của giáo sư HXH không còn thuyết phục về mặt tác giả lẫn xuất xứ quốc tịch. Tuy nhiên nhiều bài viết hiện nay không cập nhật thông tin, cứ lải nhải thuyết của giáo sư đến nỗi Benoit cũng bất lực: người Việt tin thế!

Thế nhưng để cho công bằng, và toàn diện, chúng ta xét vì sao Giáo Sư đã nhầm lẫn. Bởi vì giáo sư đã tin vào lời lẽ không chân thực của tiến sĩ Nguyễn văn Thắng trong Kim Kiều Án và lời lẽ mơ hồ của vua Tự Đức trong Tổng thuyết năm 1871, 4 năm sau khi mất lục tỉnh Nam Kỳ. Vì tôi đã có 2 bài viết riêng về tổng thuyết Minh Mạng và Tự Đức, nên bài này chỉ lướt qua, vì không còn là vấn đề quan trọng nữa, tuy nhiên do nhiều người vẫn chưa rõ nguồn cơn.

A. Kim Vân Kiều Án:
Nội dung Kim Vân Kiều Án là đứng trên quan điểm hủ nho phê phán truyện Kiều. Nhưng lời dẫn nhập có chi tiết đáng đề cập khiến người dễ tin nghe theo:

“Tôi sinh không gặp thời, học hành thiếu sót, thường nghe truyện Kim Vân Kiều chép bằng tiếng Trung Quốc (Bạch thoại), nguyên xưa do nhà Ngũ Văn lâu ở Bắc triều đã đem nguyên bản khắc in truyền mãi đến nay. Cho đến khi quan Đông các nước ta (tức Nguyễn Du) đem diễn thành quốc âm thì truyện ấy được phổ biến khắp nơi, chỉ nghe lời kể mà như được thấy mặt. Không chỉ các văn nhân tài tử mắt đọc mà tâm tình biến động, thần thái nhẹ nhàng, đến kẻ ngu phu bỉ phụ miệng ngâm tay huơ chân múa! Tôi trong buổi ấy còn đang long đong, rày đây mai đó, phiêu bạt khắp chốn giang hồ, chân chưa dừng bước, cánh bèo trôi dạt chưa bén rễ nơi nào, sống qua ngày tháng chẳng phải ưu tư. Mùa đông năm Canh Dần (1830) vì bị giam ở ngục, trọn ngày ngồi suông, không có gì để tả nỗi lòng, cho nên thường đọc truyện Kim Vân Kiều bằng quốc âm. Thật may mắn được biết những ngôn từ ấy. Nhưng nghĩ kỹ thấy trong 1.575 câu ấy, đầu cuối tiếp nhau, tả cảnh tả tình công phu tinh diệu, tiếc cho dẫu là thơ phú của Bằng quận công, Long Lĩnh hầu cũng khó có được vẻ đẹp như thế. Còn như hạng bọn tôi đâu dám tầm chương trích cú mà bày chuyện ra đâu! Tuy nhiên xét các nhân vật trong truyện, có người thì tài đáng yêu, nghĩa đáng khen mà đức hạnh thì có điều đáng tiếc. Có người thi tình đáng thương mà tính đáng răn, ác đáng ghét. Nhưng pháp luật không vì tình riêng,tội ác lẽ nào có thể dung tha mà luận bàn chung chung đươc! Lời nghị án cũ 500 năm sau án tình vẫn chưa có văn án rõ ràng thoả đáng! Nay tôi theo bản “Quốc triều luật lệ” xét đoán cho thấu chân tình, để không lưu lại sự ngưng trệ cho nghìn năm sau. Vì lẽ đó, tôi không ngại quê mùa mà trình một tiếng cười vậy !”
(bản dịch Ngô Đức Thọ, bản dịch của Hoa Bằng không chú thích Trung quốc, bạch thoại)

Trước hết nói về Nguyễn Văn Thắng, là ông quan tham nhũng, bênh vực họ hàng buôn gỗ lậu bị Minh Mạng bỏ tù năm 1830. Một người dối vua thì liệu có nên tin như Nguyễn Du, Mộng Liên Đường, Phạm Quý Thích không? Trước khi ở tù ông không hề đọc Kiều, thế thì quan tâm gì đến nguồn gốc Kiều mà nói! Ông ngồi tù nghe phong phanh Minh Mạng tổng thuyết có ý bảo các quan Hàn lâm hợp sức bình giảng sao cho ổn. Ông viết bài chê Nguyễn Du lập công chuộc tội là thấy tâm địa xấu xa, ganh ghét người có tâm có tài rồi...

Không rõ sau đó ông được tha khi nào và mất luôn tung tích. Tuy nhiên từ 1871 sau tổng thuyết Tự Đức sách ông được in nhiều đợt tức phổ biến rộng rãi. Nói cách khác là hợp ý Vương triều. Ai đọc Đại Nam liệt truyện soạn từ Quốc sử quán triều Nguyễn, cũng thấy đề cập đến Nguyễn Du rất ngắn ngủi, lạnh nhạt.

B. Tổng thuyết Tự Đức 1871:
4 năm sau khi mất lục tỉnh Nam Kỳ, Tự Đức chắc cũng không vui vẻ gì mà tổ chức vịnh thơ Kiều hoặc bàn một cuốn tiểu thuyết dỡ hơi mà ông nghe nói từ bên Tàu. Vấn đề là xã hội càng mất lòng tin, loạn lạc nổi lên, ông tổ chức “ chỉnh huấn” tư tưởng các quan lần nữa bảo vệ vương triều như vua nội Minh Mạng, lấy cớ tổng thuyết Kiều. Do ông cố tình, hay vì cái tật sính thơ văn hào nhoáng, khoe thi tài, chữ nghĩa, ông làm bài tổng thuyết 140 câu thất ngôn, chỉ lấy một vần chủ đạo: iên.
Lẽ ra bài thơ ông nên phân đoạn, có lời mở đầu và chuyển mạch thì đã không hiểu lầm. Ví dụ mở đầu “ từng nghe” chuyển mạch: “ Song le”... Tôi trích phần mở đầu và chuyển mạch, nếu hiểu rằng có thật một cuốn Quán Hoa Đường bình luận, Kim Thánh Thán ngoại thư thì sẽ thấy mâu thuẫn, hoặc hơi ngô nghê

DỰC TÔNG ANH HOÀNG ĐẾ NGỰ CHẾ TỔNG TỪ.

Hương phô yên ba tam nguyệt thiên
Phần lô nhàn độc Thanh Tâm biên
Thị biên Bắc nhân Thánh Thán trước
Dịch âm ngã quốc Nguyễn Tiên Điền.

Cận lai danh sơn phong vũ thực
Hoa Đường bình bản vô lưu truyền
Thích Kim đài các thừa nhàn hạ
Bất nhẫn giai thoại không hàn yên

Ngẫu ư cổ lục đắc toàn giản
Truyền thân tả chiếu tương trùng thuyên
Trích ba ly tảo phân đề vịnh
Nhị thập hồi trung mặc thái nghiên.
.....
(toàn văn 140 câu thất ngôn độc vận)

Bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm:

Trên sông Hương tháng ba một buổi
Truyện Thanh Tâm ngồi ngẫm ngâm nga
Truyện này Thánh Thán soạn ra
Diễn thơ lục bát nước ta Tiên Điền

Trải lắm độ triền miên mưa gió
Tập Hoa Đường còn có nữa đâu
Gặp khi rỗi rãi trên lầu
Truyện hay nhẽ để về sau tro tàn

Xét tủ cũ may còn trọn tập
Họa đồ hình định rắp đem in
Gấm hoa đề vịnh từng thiên
Hai mươi hồi nét mực tiên sáng ngời. (1)

Nguyễn Văn Thắng nói “nghe” chứ không “đọc hoặc thấy”. Đó là ông chỉ nghe lời đồn. Sách kia mà còn tam sao thất bản huống chi lời đồn. Tự Đức nghe theo lặp lại ở khổ thơ đầu. Ở khổ thơ 2 ông nói : Do binh lửa mà nay một cuốn nổi danh như núi của Hoa Đường không còn lưu truyền. Nếu cuốn sách nhà Ngũ Vân Lâu ai cũng biết như lời Nguyễn Văn Thắng nói mà cả nước chuẩn bị tổng thuyết vua lại không chỉ thị tìm ra một cuốn?
Rồi khổ 3 ông lại nói may mà tìm ra trong tủ cũ một cuốn: “Gấm hoa đề vịnh từng thiên. Hai mươi hồi nét mực tiên sáng ngời”.

Đó là cuốn nào? Cuốn Kim Vân Kiều truyện của TT tài tử hay cuốn Kiều của Nguyễn Du mà gấm hoa đề vịnh thành 20 hồi!? Ta không có bằng chứng đó là cuốn nào. Truyện Kiều cũng có thể phân thành 20 hồi theo quan điểm người soạn. Dựa theo 20 hồi đó mà đề vịnh bằng thơ, diễn nghĩa bằng văn xuôi cũng xong. Hoặc là đã có sẳn một cuốn tương tự A953 của Thanh Tâm tài tử chia 20 hồi, lưu tại Quốc Sử Quán hoặc Hàn Lâm Viện, rồi 13 năm sau Lê Phước Bình chép và Trương Minh Ký giao cho Abel. Một câu tối nghĩa, nhưng có điều chắc: không phải là cuốn sách của Kim Thánh Thán vì ông đã nói: vô lưu truyền.

Ngày nay học giả Tây, Tàu đã loại Kim Thánh Thán ra khỏi Kim Vân Kiều truyện thì ai tin những gì từ Nguyễn văn Thắng và Tự Đức nói, kết luận rằng truyện Kim Vân Kiều là do Kim Thánh Thán viết hoặc bình là lạc hậu. Họ thiếu cập nhật thông tin và nhất là thiếu suy luận như đã trình bày phần trên.

Nhưng nhân nhắc tới câu thơ dịch: Hoạ đồ hình định rắp đem in. Kẻ Tay Ngang này sực liên tưởng đến sự lan tỏa của truyện Kiều. Sát bên kinh đô Huế là thương cảng Hội An. Tàu, Nhật, Tây, Hồng Kông không lẽ không có học giả đi du lịch? Hoặc ai đó đi du lịch mua tặng người nhà là học giả một cuốn thơ mà dân Việt thời đó mở miệng ra là nói? Nhưng làm sao để hiểu được ngôn ngữ thơ? Mua thêm một cuốn bình giảng: Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài tử vậy!

Lại sẽ có Tín Đồ Thanh Tâm Tài Nhân phê phán: suy diễn vu vơ! Vâng, đó chỉ là suy diễn đừng tin. Nhưng chuyện này phải tin: ai đó đã đem truyện Kiều đến Hồng Kông thuộc địa Anh, năm nào không rõ. Một người Pháp sưu tầm mua năm 1894, xếp vào thư viện Anh tháng 6/ 1929. Theo nhiều nguồn mô tả: Đây là cuốn sách quý nhất về mặt chất liệu: giấy tốt dành cho nhà giàu hoặc vua ngự lãm, 147 bức tranh minh hoạ đẹp. Bìa vẻ rồng biểu tượng của Hoàng gia triều Nguyễn. Cho phép suy luận đây là cuốn Tự Đức nhắc tới trong bài tổng từ nói trên. Đồng thời Thư viện Anh cũng có một cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài tử ai sưu tầm không rõ mà sau này Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch năm 1971.

Chưa một “học thuật tay dọc” nào tự đặt một câu hỏi: Liệu song song với truyện Kiều có cả cuốn bình giảng Kim Vân Kiều của Thanh Tâm tài tử từ Đại Nam lan ra thế giới không? Như trường hợp đầu tiên được biết của Abel des Michel 1884. Riêng Tay Ngang này cho dù ai đi theo con đường đó, không giành được học vị tiến sĩ, sẽ để lại cái tâm tốt đẹp mà Tay Ngang này luôn kính trọng như fb trẻ Nguyễn Tấn Sơn nói trên.

                                                                           Lê Nghị

READ MORE - HOÁ GIẢI NỌC ĐỘC KIM KIỀU ÁN 1830 VÀ TỔNG TỪ TỰ ĐỨC 1871 - Lê Nghị

ĐỌC “NHÀ KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ” TẬP THƠ CỦA PHAN VÕ HOÀNG NAM - Châu Thạch


        


ĐỌC “NHÀ KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ” TẬP THƠ CỦA PHAN VÕ HOÀNG NAM
                                                                 Châu Thạch

Nhà thơ Phan Võ Hoàng Nam còn là một nhà giáo, một nhạc sĩ, một nghệ nhân tranh đá Bảy Núi,  một tay thư pháp, một quản trị trang  web Bông Tràm - An Giang.
Trước khi gởi sách tặng, Phan Võ Hoàng Nam nhắn tin cho tôi như sau: “Thơ em chân chất thường thường thôi anh ơi, không có gì sâu sắc, gửi anh chia sẻ niềm vui với em.”

Nhận tập thơ trên tay, với cái tựa đề “Nhà Không Có Đàn Bà” đã gợi cho lòng tôi một chút trống vắng, tưởng như thơ sẽ sầu da diết. Đâu ngờ đọc thơ, thấy thơ như một dòng sông êm ái chảy giữa đôi bờ xanh thắm. Đọc hết tập thơ, mới biết rằng thơ Phan Võ Hoàng Nam thật sự chân chất nhưng không thường thường, vì thi vị của nó không nhấn mạnh trong câu mà lan tỏa toàn bài.

Với bài thơ “Nhà Không Có Đàn Bà” đăng ở trang đầu, ta được thưởng thức ngay một tiếng thơ có âm hưởng sầu, nhưng sầu chỉ nhẹ như tiếng gió thu xuyên qua kẻ lá. Nỗi sầu ấy như ngọn roi quất nhẹ vào tâm hồn, làm bật lên niềm đau, nhưng cũng trong niềm đau ấy, thi nhân có được cái thú làm thơ, nên thơ ấy gọi là thơ của “thú đau thương”. Tôi xin trích một số câu để làm toát yếu, mục đích cho bài viết của tôi được ngắn bớt:
                  
Nhà không có đàn bà                   
Chái bếp bao năm chưa một lần dọn dẹp                  
…Người đàn ông già tóc phai bị neo vào ký ức                     
Từ độ người đi về phía hư vô                 
…Người tóc trắng đêm đêm đợi sáng                     
Dấu hài xưa… cánh nhạn cuối chân trời.

Chỉ đọc chừng ấy câu thơ, cũng đã cho ta hình dung tất cả sự neo đơn của một quãng đời dài. Thơ khô nước mắt, thơ không có tiếng rên, nhưng thơ cho ta nhìn thấy từ chái bếp đến tâm trạng người trong cuộc, nghĩa là cho ta thấy toàn bộ không gian, thời gian và tâm hồn nhân vật trong một cuộc tình ly biệt. Tất nhiên khi đọc toàn bộ bài thơ, ta sẽ thấy được cả dòng chảy của thơ và sẽ thẩm thấu được vào lòng ta cái lạnh của cô đơn nhiều hơn nữa khi không có đàn bà.

Hình như thơ Phan Võ Hoàng Nam ít viết về tình yêu nam nữ. Nhà thơ viết nhiều về những nỗi trăn trở của cái tôi, về quê hương, về mẹ và về những dấu ấn của  đời  trong cuộc sống. Một bài thơ duy nhất nói về “Em” cũng đủ cho ta hiểu được sự chơn chất và chung thủy của nhà thơ trong vườn tình ái:                                          

Chợt xa chợt gần                      
Như mưa chợt nắng                      
Chợt khóc                      
Chợt cười                      
Chợt lạ                      
Chợt quen                      
Em là thơ ta nối dài giai điệu                      
Viết bản tình ca yêu mãi một đời.                                     

                                             (Em)

Tất nhiên đọc phần trên của bài thơ, sáu cụm từ cho ta nhớ đến “Áo Lụa Hầ Đông của Nguyên Sa có những câu thơ “Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn thế/ Trời chợt mưa, chợt nắng, chẳng vi đâu”, nhưng Nguyên Sa tiếp tục với câu “Nhưng sao đi mà không gọi gì nhau/ Để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại” là một sự trách móc bình thường của mọi cuộc tình. Phan võ Hoàng Nam không trách móc, nhà thơ đem toàn bộ những biến đổi thất thường của nàng vào giai điệu tình yêu và trung thành với giai điệu ấy mãi một đời. Bằng những câu thơ ngắn, gọn tác giả đã đem sự thất thường của nàng và sự cố định của nhà thơ đặt đối xứng nhau, so sánh, thổ lộ được hết tấm chân tình của mình cho một khối tình rất lớn.

Thơ Phan Võ Hoàng Nam chơn chất, nhưng chứa đựng trong tiếng thơ chơn chất đó là nỗi khắc khoải, suy tư, lạc loài trên con đường đi tìm cái tôi của mình, hay nói đúng hơn đi tìm bản chất của của cuộc đời, chân lý của sự sống. Hãy đọc những dòng trong bài thơ “Đi Tìm…Tôi”  mà người viết xin mạn phép rút ngắn lại để chỉ còn ý chính của bài thơ:                                                       

Tôi đi qua những cánh đồng                           
Về phía mặt trời bắt đầu ngày mới                        
…Tôi đi qua những dòng sông                            
Qua những chiếc cầu thơm mùi gỗ mới                         
…Tôi đi tìm tôi                            
Giữa phố đời vạn nẽo                         
…Tôi đi tìm tôi                             
Thuở mong manh hạt bụi                         
…Hun hút trời xa, ai quen ai lạ                           
Hỏi bao giờ tìm được ra tôi!

Dòng thơ không thiền, không triết lý, không chán đời nhưng hòa quyện sự quay về chân tướng của nhà Phật, hố thẳm của tư tưởng triết gia, bi quan của con người, tất cả lung linh trong dòng chảy nhẹ nhàng, trong veo của tiếng thơ chơn chất, như sự va đập của từng con sóng trên dòng sông êm ả. Thơ hay từ cái nhe nhàng nhưng âm vọng nhiều suy tư sâu nhiệm.

Thơ về quê hương, về mẹ của Phan Võ Hàng Nam tất nhiên cũng phải sâu đậm như bao nhà thơ khác. Thế nhưng Phan Võ Hoàng Nam không tôn vinh quê hương và mẹ với nhưng từ chương thường tình. Có lẽ vì nhà thơ còn là một nghệ nhân tranh đá, nên trong thơ, tác giả vẽ nên những bức tranh sống động, bức tranh đó gói trọn ý nghĩa về cha về mẹ, về khung cảnh quê hương yêu dấu:                                                      

Bến sông nầy mẹ ngồi đợi cha                          
Chiếc xuồng nhỏ                          
Trăng                          
Mênh mông dòng nước                          
Con cá quẫy đuôi, lời tự tình mộc mạc                          
Câu hò phu thê ấm mối tình quê

                                           (Bến Quê)

Chỉ 6 câu thơ thôi, tác giả không chỉ tả về bến quê đầy đủ, mà còn nhắc đến tâm trạng đợi chờ của mẹ, hoàn cảnh cuộc tình thơ mộng của song thân.  Thi vị vô cùng và độc đáo vô cùng khi nhà thơ dùng cái quẫy đuôi của con cá làm hình bóng cho “lời tự tình mộc mạc” của cha mẹ thuở xưa. Nhà thơ cho “Câu hò phu thê ấm mối tình quê” làm cho cả đất trời nơi ấy vang vọng âm thanh, hòa quyện tình nồng, khiến cho cả khung cảnh trở nên chan chứa một tình yêu mộc mạc.

Thơ Phan Võ Hoàng Nam đọc thì nhẹ nhàng, thanh thoát nhưng chứa nhiều ẩn dụ của sự suy tư. Nhà thơ cảm xúc thành thơ với nhiều khía cạnh cuộc đời. Nhà thơ gởi nhiều trăn trở vào thơ mỗi khi tâm hồn phải mang dấu ấn. Dấu ấn khiến tiếng thơ bật lên, như tiếng đàn không cần nắn nót dây cung mà vẫn trầm, vẫn bổng, vẫn du dương. Nhà thơ nói về sự chết:                                                    

Rũ đôi tay                          
Thênh thang ngàn cánh gió                          
Hồn chạm mây, ngất ngưỡng với trăng                          
Chuyến xe đời qua đây                          
Những vì sao cúi đầu                          
Lấp lánh vần thơ mặc niệm

                                              (Về đâu)

Nhà thơ nói về mưa:                                

Mưa thì thào những phù phiếm đời người                          
Bỗng chốc đến, đi, buồn, vui được, mất                          
Lá biếc xanh xao cây đời héo úa                          
Đêm nghe mưa thấp thoáng cõi đi về

                                        (Nghe Mưa)

Đời người khi rời trần gian, đã “thênh thang ngàn cánh gió/ Ngất ngưỡng với trăng” là đã đi về miền cực lạc rồi. Thế mà thi nhân vẫn còn niềm u uẩn nên mới thốt lên “Những vì sao cúi đầu/ Lấp lánh vần thơ mặc niệm”.
Người nghe mưa thì buồn hay vui tùy tâm trạng, nhưng không mấy nhà thơ lại diễn tả mưa là “Thì thào những phù phiếm đời người” hay mưa làm “thấp thoáng cõi đi về” như Phan Võ Hoàng Nam
Với những ý thơ trên, với những tứ thơ trên, ta hiểu được nhà thơ luôn trầm tư suy nghiệm, và sự suy nghiệm đó đã làm nên những vần thơ không bí hiểm, không cầu kỳ mà se lạnh như cơn gió heo may, nhẹ như cánh chim là đà trên biển và trôi như con thuyền cô quạnh ở một đại dương xa xôi nào đó.

Với 46 bài thơ trong tập sách gần 100 trang, “Nhà Không Có Đàn Bà” là một vườn thơ nhỏ với sắc, với hương, đẹp như tranh và âm vang như nhạc là những thứ nghệ thuật mà tác giả am tường. Châu Thạch chỉ có trình độ ngắt một vài bông hoa đẹp với mình để khoe với đời, bằng một vài cảm nhân đơn sơ và rất chủ quan . Mong “ Nhà Không Có Đàn Bà” đến với tay nhiều người và mong nhà thơ Phan Võ Hoàng Nam  sẽ còn in thêm nhiều tập thơ khác sau nầy, để thế gian còn được nghe tiếng thơ, tiếng nhạc và  thấy cả tiêng tranh trong vần điệu Phan Võ Hoàng Nam.

                                                                       Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “NHÀ KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ” TẬP THƠ CỦA PHAN VÕ HOÀNG NAM - Châu Thạch

HẠNH PHÚC, NHỮNG NGÀY KHÔNG EM - Thơ Tịnh Đàm


  
                  Nhà thơ Tịnh Đàm


HẠNH PHÚC

Mở lòng ra với yêu thương
Sẽ làm thêm đẹp sắc hương cuộc đời.
Tình yêu đâu chỉ bằng lời
Nụ cười hạnh phúc rạng ngời nét duyên 


NHỮNG NGÀY KHÔNG EM

Sớm hôm
Anh vẫn đi về
Không em
Ngày cũng ủ ê...
Một mình !

Áo vàng mơ
Buổi đăng trình
Nào em nhân ảnh
Vọng tình nhớ...
Xưa.

Bồi hồi
Nghe gió ru mưa
Ngỡ lời thầm thĩ...
Em vừa nhắn nhe.

TỊNH ĐÀM
(TP.HCM.VN)

READ MORE - HẠNH PHÚC, NHỮNG NGÀY KHÔNG EM - Thơ Tịnh Đàm

THƠ NGÔ TÀU | THƠ CHAINA - Chu Vương Miện

THƠ NGÔ TÀU
chu vương miện
-
thường quá ngắn
nhưng tóc thì quá dài
tết thành bím 
cột thành đuôi
giống chó má 
có đuôi đằng sau đít
đuổi ruồi?
o dùng nước mắm 
toàn xì dầu?
-
thời đầu đường
giữa đường
và cuối đuờng
đa số các nhà làm thơ đều hay
họ Lý làm vua
họ Lý làm quan
và làm thơ
Lý Bạch, Lý Thường Ẩn, 
Lý Hạ, Lý Ích
sau di cư sang Ố Nàm
có Lý Bá Sơ & Lý Toét
-
đọc Đỗ Phủ
buồn ngủ
đọc Tô Đông Pha
thức
đọc Trần Tử Ngang
khóc?
đọc Hoàng Hạc Lâu
Thôi Hiệu
chỉ thấy hạc bay mất?
-
Kinh Kha chết trước
Cao Tiệm Ly chết sau?
Kha Tiệm Ly vẫn còn làm thơ bá láp
Tần Thủy Hoàng chết bén gót
kèm theo 1 lũ "1 Lĩ "
Phan Ô Kỳ Điền Quang Thái Tử Đan Yên Cơ
sông Dịch ngàn đời mang mang
chẩy giữa Yên Tần
-
mấy bài thơ mèo wào
vớ va vớ vẩn
và đầu óc kẻ đọc
lẩm cà lẩm cẩm
cho là tuyệt là hay?
thịt chó giả cầy
mỹ tửu 
nhậu vào xỉu

300 năm cũng chỉ bấy nhiêu?
cvm



THƠ CHAINA
chu vương miện
-
có giang vĩ giang đầu
có hủ tiếu mì có phá lâu
lạc chíu chương xì dầu
-
thơ Tây có banh mì bơ phó mát
có cà phê
và rượu cô nhằc
-
thơ Ta
có canh rau muống mồng tơi
có cà pháo
có cây đa
-
nơi rừng toàn cây bách
cây tùng thêm dáng thác
đổ duyền 
vài con hạc [đủ loại]
và 1 lũ bẩy nghiệp
ngồi trên tảng đá
thơ túi rựơu bầu nhậu
chén chú chén anh
chén mình chén hạc
trên trời mây trằng
ở giữa núi xanh
1 bầy 7 nghiệp
sướng ghọa bác bác em em anh anh
làm xong đọc cho nhau nghe
rồi vo tròn lại thả duyềnh

cvm


READ MORE - THƠ NGÔ TÀU | THƠ CHAINA - Chu Vương Miện