Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, April 5, 2019

Chùm ảnh HOA CAM - Chu Vương Miện






READ MORE - Chùm ảnh HOA CAM - Chu Vương Miện

NƠI CON SÔNG CHẢY CHẬM QUA LÀNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng


Nơi con sông chảy chậm qua làng
Con sông chảy qua làng, duềnh ngang
Loang loáng nước triều lên chầm chậm
Gió biển gọi, từ nơi xa lắm
Soi tháng giêng, bóng cá đối vàng
                      *
Theo đường lưới thả, nắng vờn qua
Tiếng vỗ nước, đắn đo giăng mắc
Dập dềnh đưa chậm chiều thưa nhặt
Tiếng cựa mình của hạt phù sa
                     *
Bóng người qua kẽ lá nhạt nhòa
Đang giũ lưới bên bờ bãi vắng
Một mình ngồi nhấm nha nhấm nhẳng
Quấn nỗi niềm, đâu đó chua ngoa ...
                     *
Lững thửng, xuồng trôi theo mớn triều
Tăm cá lặn, sóng xô rều rác
Nổi nênh chiều, trong mờ bợt bạc
Gió ở đâu về, buốt quạnh hiu
                     *
Sông chảy bình yên, đổ theo dòng
Ngồi chống cằm, vẩn vơ cơm áo
Hình như có điều gì gượng gạo
Lấn cấn chiều buông thả bên sông ...
Lê Thanh Hùng


Tình cờ qua trường cũ
Trường cũ? nhạt nhòa trôi ký ức
Giữa dòng đời, tất bật, bon chen
Bổng, òa vỡ tiếng ve rất thực
Dưới vòm cây, chấp chới ánh đèn
                     *
Dẫu không muốn trở về dĩ vãng
Tháng tư, năm, ngọt lịm , tình đầu
Đong câu hát, ngập tràn, lãng mạn
Theo chân người, năm tháng, về đâu?
                      *
Này cô bé, cầm hoa phượng đỏ
Sao hái hoa, ngày ấy, anh trồng
Bé không nói? Chỉ cười, qua ngõ
Rớt chùm hoa, thắm đỏ, mênh mông…
Lê Thanh Hùng


Lỡ hẹn
Trời trở gió
Quẩn bờ
Lạc sóng
Em đánh rơi
Thảng thốt
Lời yêu
Con sóng chạy
Trôi điều ảo vọng
Quặn thắt treo
Bến vắng, chợ chiều
Lê Thanh Hùng


    Bắc Bình, Bình Thuận

READ MORE - NƠI CON SÔNG CHẢY CHẬM QUA LÀNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

CỎ TRANH ƠI | Tùy bút | Nguyễn Đại Bường



NGUYỄN ĐẠI BƯỜNG
Tên thật là Nguyễn Quốc Huấn, sinh năm 1960 tại Quảng Nam, hiện sống và làm việc tại Bà Rịa-Vũng Tàu. Hội viên Hội VHNT Bà Rịa-Vũng Tàu.
Có nhiều tác phẩm cộng tác với các báo, tạp chí văn hóa - văn nghệ. Tác phẩm đã xuất bản:
-Người Trồng Cỏ Bên Đường (tập thơ, NXB Hội Nhà Văn, 2008.
-Về Bên Dòng Sông (tập thơ, NXB Hội Nhà Văn, 2012.

CỎ TRANH ƠI

Nguyễn Đại Bường

Quê tôi là một ngôi làng nhỏ ven sông Thu Bồn. Hàng năm, dòng sông hào phóng chở phù sa từ thượng nguồn về bồi đắp cho những na dâu, bãi bắp xanh tốt.

Tôi theo cha mẹ xa quê từ những ngày còn rất nhỏ. Hối ức tuổi thơ về quê hương đã nhạt nhòa theo năm tháng ở phố phường Đà Nẵng. Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, cùng với dòng người ly tán, gia đình tôi lại về quê hương sinh sống.

Ấn tượng đầu tiên khi về lại quê nhà là những biền cỏ tranh chập chùng, xanh ngút, rập rờn trong nắng gió tháng tư. Cỏ tranh mọc kín những thửa ruộng bỏ hoang. Tranh bò vào cái nền nhà rường chỉ còn trơ lại kèo cột, rui mè của ông bà tôi sau những tháng năm, sau hiệp định Paris, bên nào cũng mở chiến dịch giành dân lấn đất. Vườn tược trước kia cây ngọt trái lành đã tan hoang vì bàn tay tàn phá của những con người ấu trĩ. Bộ ván gõ được kê làm bếp nấu ăn, cái cột nhà gỗ mít bị băm vằm để mắc võng cho khỏi tuột…

Gia đình tôi vừa phải lo dựng lại nhà, vừa phải lo vỡ đất tăng gia sản xuất. Tôi vụng về học theo cha mẹ cách cầm cuốc, cầm liềm. Cỏ tranh được cắt sát gốc, phơi từng hàng, thẳng thớm dưới nắng. Nắng càng già màu tranh càng sáng đẹp, tỏa mùi thơm nồng dịu. Cắt tranh đến đâu, đất được cuốc lật lên đến đó. Hai bàn tay học trò của tôi phồng rôp. Lá tranh bén ngót cứa vào da thịt rát buốt.

Cứ mỗi chiều về, cha con tôi gom từng lọn tranh lại. Bó khoảng vừa ôm, gánh về bằng đòn xóc. Đó là một đoạn tre dài khoảng hơn hai mét, được vót nhọn hai đầu. Phải tập xóc như thế nào để bó tranh đều đặn, chặt cứng. Khi gánh đi, xoay trở gọn gàng, không bị tụt ra hoặc xổ tung trên đường. Trầy trật mãi rồi cũng quen.

Cỏ tranh đem về, được bện vào trong những cái nẹp tre, gọi là cái hom. Đó là công đoạn đánh tranh. Từng lọn tranh phải đều tăm tắp, không được để chỗ dày, chỗ mỏng. Sau nầy lợp lên mái không bị sũng nước, mưa dột.

Ngày lợp nhà vui lắm, hàng xóm láng giềng mỗi người một tay. Phải làm từ sáng sớm để tranh thủ mát trời. Kẻ dưới đất, người rên mái gọi nhau ơi ói. Tôi làm thằng nhỏ chạy vặt theo sự sai bảo của chú bác. Khi thì phóng lạt cho chú nầy, rót cho bác kia miếng nước. Chạy qua chạy lại như thoi, hồ hởi lắm.

Những tấm tranh được phóng lên mái bằng cây sào dài. Tấm tranh đè tấm dưới. Cứ thế, lợp lên đến cây đòn dông, thì công đoạn cuối cùng là xốc nóc. Tức là phủ một lớp tranh dày lên cây đòn dông, choàng qua hai mái. Chỉ những người có kinh nghiệm mới làm khâu nầy. Vì nếu phủ không khéo, giấu mối lạt không kỹ, sau nầy sẽ bị mưa dột, gió lùa.

Những mái nhà tranh cứ thế mọc lên ngày càng nhiều. Trao đổi vần công chứ chẳng thuê mướn. Từ sự đồng cam cộng khổ, tình nghĩa làng nước càng thêm bền chặt. Bởi vì ai cũng như ai, bao năm chạy dạt tứ xứ tránh bom đạn, nay về xây dựng lại cuộc sống mới từ bàn tay trắng trên chính mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình. Tuy còn lắm gieo neo nhưng an bình, thanh thản. Sướng hơn nhiều so với thời buổi trên bom dưới đạn, sống chết chẳng biết khi nào.

Có những ngày nông nhàn, tôi thường giúp mẹ gánh tranh ra chợ huyện bán. Chỉ đắp đổi ngày công chứ tiền bán chẳng bao nhiêu. Hạt muối con cá khô đem về, mừng vô kể.

Dần sau nầy, đời sống có khá hơn. Lác đác, quê tôi đã có những mái nhà ngói, nhà tôn kiên cố. Những đám cỏ tranh cũng đần ít đi. Thay vào đó là những nương khoai, đồi chè xanh tốt.

Thời kinh tế thị trường ùa về. Người dân quê tôi không còn phải chịu cảnh xếp hàng cả ngày trời để mua cho được lít dầu hỏa, tấm vải xô. Những người thanh niên nông thôn như tôi bắt đầu học cách tính toán công sức của mình và ước mơ lập thân ở các phố phường xa lạ. Rất nhiều trai tráng lần lượt ra đi. Công việc nhà nông phó mặc cho người cao tuổi. Sức hút của thị thành thật mãnh liệt. Đồng tiền xứ người như lá mít, nhưng nhiều khi cũng se lòng, cười ra nước mắt…

Cho mãi đến bây giờ, hơn hai mươi năm nước sông gạo chợ. Mỗi lần nhớ về quê hương, tôi vẫn nghe từ trong tiềm thức mùi cỏ tranh khô nồng thơm trong gió đồng chiều. Nhớ quay quắt cái màu vàng sánh của nước rễ cỏ tranh mà mẹ tôi nói là uống để giải nhiệt. Nhớ những trưa hè oi nắng, thiu thiu võng bên hè, nghe mái tranh giòn tan reo lên rào rạt. Nhớ những đêm đông mưa dầm, bấc nổi, giọt nước vỗ loong boong ngoài mái hiên. Tất cả ùa về trong tâm trí tôi một miền tuổi thơ khốn khó. Nhưng cũng thật đầm ấm, thiết tha. Ở nơi đó, có những mùa xuân về trong ngôi nhà tranh, mẹ tôi lại ngóng chờ những đứa con xa. Ngôi nhà bình dị như đời mẹ, ngọn cỏ tranh quê mùa, chất phác.

Mẹ ơi, những đứa cháu nội của mẹ đang lớn lên ở phố thị chật chội miền nam nầy chẳng thể nào hình dung được ngôi nhà tranh là như thế nào. Càng không thể hiểu nổi có một thời từng củ khoai, hạt gạo cũng trở nên quí giá vô chừng. Chính mảnh đất ấy đã vắt kiệt sức nuôi cha chúng lớn khôn. Đến khi đủ lông đủ cánh lại bay xa…

Mẹ ơi, nhất định con sẽ nói với các cháu về điều đó. Sẽ dẫn chúng về nơi ngày xưa cha mẹ đã dẫn con về. Day cho con biết yêu từng lùm cạy bụi cỏ. Biết chắt chiu trân trọng từng củ khoai, hạt bắp. Biết hít thở tình người quê hương núm ruột. Biết dẫu có mải mê cơm áo gạo tiền ở phương xa vẫn luôn có một mái nhà tranh, là nơi bình yên, che chở thương yêu, là nơi chốn con về.

Nhất định con sẽ trở về. Mẹ ơi, cỏ tranh ơi!  

Nguyễn Đại Bường



READ MORE - CỎ TRANH ƠI | Tùy bút | Nguyễn Đại Bường

CẢM NHẬN THƠ NGUYỄN ĐẠI BƯỜNG | Bình Địa Mộc



Cảm nhận thơ Nguyễn Đại Bường
Bình Địa Mộc

Ai rồi cũng có một cõi đi về sau chặng đường lã mệt như cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã từng tâm sự: "đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt"... ai rồi cũng có một nơi để nhớ:

"Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng"
(Nhớ Con Sông Quê Hương - thơ Tế Hanh)

Và, nỗi nhớ bỗng dưng da diết, da diết đến nao lòng bởi:

Róc rách đôi bờ sóng nước chao lay
Thao thiết chảy một dòng lấp lánh
Sông chẳng biết đầy vơi hay nóng lạnh
Cứ hết mình bỗng chốc hóa đại dương.
(Dòng Sông - thơ tình Phương Thảo)

Nhất là đối với những bước chân kiêu bồng lang bạc, mỗi bận nghĩ về dòng sông, hẳn một hình ảnh đằm đã hiện lên:

"Dòng sông mới điệu làm sao
Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha
Trưa về trời rộng bao la
Áo xanh sông mặc như là mới may
Chiều trôi thơ thẩn áng mây
Cài lên màu áo hây hây ráng vàng
(Dòng Sông Mặc Áo - thơ Nguyễn Trọng Tạo)

Muôn thủa nay, cây đa bến nước dòng sông... là hình ảnh quen thuộc trong những áng văn thơ bất hủ, là đề tài muôn thủa của thi ca. Ở đó ta bắt gặp những bàn tay chấp chới vẫy nhau về miền ngút ngái, những sơ sót như chính mình ly biệt bởi chiếc khăn tay ngậm ngùi dúi vào túi mỏng, ta quay mặt đi bởi dòng sông trắng xóa chan hòa nước mắt của người ở lại vào một chiều như ngừng chảy sông ơi:

"Đừng chảy nữa sông ơi, một lần
Cho ta tìm lại nhọc nhằn, quá giang"
(Sông Ơi Đừng Chảy
nhạc Nguyễn Vĩnh Tiến)

Thật vậy, ai rồi cũng phải về lại bên dòng sông để tạ tội sau những tạ từ để ra đi đâu đó. Nguyễn Đại Bường - nhà thơ, hội viên Hội VHNT tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu không ngoại lệ. Ông sinh ra và lớn lên bên dòng sông Thu Bồn bốn mùa xanh ngát, nơi làng Đại Bình múi bưởi lịm ngọt, trái cam ửng vàng, "thum thủm" mùi sầu riêng, đặc trưng của trái cây vùng trung du mà duy nhất chỉ có ở nơi nầy: làng Đại Bình xã Quế Trung huyện Nông Sơn tỉnh Quảng Nam  mới trồng được, ngoại trừ các tỉnh miền tây nam bộ.

Thưa các bạn, "Về Bên Dòng Sông" là tập thơ thứ hai sau tập Người Trồng Cỏ Bên Đường do Hội Nhà Văn VN xuất bản. Thơ Nguyễn Đại Bường lặng lẽ như những chùm cúc dại ven đường vậy:

"Cúc dại ơi, cúc dại ơi
Li ti mà trắng muốt trời nhớ thương
Không tin một thoáng ven đường
Lòng tôi ở lại với hương lặng thầm"
(Ven Đường Hoa Cúc Dại Ơi - thơ NĐB)

Vào một ngày tháng giêng, tôi gặp ông đang chữa bệnh ở Sài Gòn, trông ông già đi so với vài lần gặp trước đó, vòng quay "sinh/ lão/ bệnh/ tử "của tạo hóa đã gõ của nhà thơ chăng, nhưng đoan chắc thơ ông vẫn còn rất khỏe, rất trai, rất bận bịu như bài:

"Đợi rảnh rồi ta lại về hỏi cỏ
Sắc thu vàng đầu ngọn đã ươm chưa
Tung theo gió hạt mầm hoang dại
Thảo nguyên xa biết thiếu hay thừa"
(Hỏi - thơ NĐB)

Tuy nhiên, lần giở từng trang thơ... rất sống của NĐB, tôi ngạc nhiên vì thấy "sông" ở trong ông khác lạ, cứ chập chùng biêng biếc nông sâu, phải chẳng 16 năm lưu lạc nơi đất khách quê người thời gian đã dắt đưa "con sông quê hương" nơi ông lắng lại, cồn cát bóng dừa bỗng thun thút chân mây:

"Đêm Gò Nổi con nằm nghe dòng sông sóng vỗ
Tưởng lời ru của ngoại thủa tao nôi"
(Về Thăm Quê Ngoại - thơ NĐB)

Chao ôi, cái "tao nôi" của ông sao mà đung đưa, rây rắc, mịn màng đến vậy hay trong bài Bão Lũ ông đã nhắc đến 4 con sông đáng yêu "Ôi những sông Gianh, Thu Bồn, Hương Giang Trà Khúc/ Sao không đi vào thơ nhạc nữa đi" ấy là ông muốn nhắc nhở rằng thi ca phải tận tâm tận lực phục vụ cho cuộc sống như chính cuộc sống đã cho ta nguồn cảm hứng, mà:

"Thơ mình như trẻ chăn trâu
Vấp ngọn cỏ mới ngộ bầu trời xanh"
(Chơi Thơ Mạng - thơ NĐB)

Một lần ông về thăm xứ Lạng "ai người lên đây tình không cửa ải/ tiền đồng tiền tệ nhoáng nhoàng qua lại/ Kỳ Lừa chợ ngày vắt qua chợ đêm " thì "dòng sông" trong thơ ông lại chảy ngược về nơi tuyến đầu tổ quốc thân yêu:

"Kỳ Cùng dòng ngược ngàn năm cứ chảy
Mai ta về xuôi hay ta ở lại
Lượm viên sỏi ở cột mốc số không
Đem về phương Nam để sưởi ấm Lạng Sơn"
(Tháng Giêng Xứ Lạng - thơ NĐB)

Hoặc tâm tưởng về một người quá cố, "dòng sông" mà nhà thơ về lại có chút ma mị, hút hồn người đọc cứ ngỡ phút mộng du vừa chợt thoáng, chợt hiện để lại trong ta sự dịu kỳ đến ngọt ngào:

"Anh không dám ngắm nhìn
Sợ mình phăng cuốn ghê rợ
Một dòng sông rập rều máu đỏ
Anh ngồi đây đợi ánh ngày lên"
(Ngôi Nhà Ấy - thơ NĐB)

Đến đây, tôi bỗng nhớ một khổ thơ loáng thoáng trên mạng internet hồi năm ngoái rất mơ hồ đến nỗi không nhớ tên tác giả, đó là:

"Trái cấm em đánh đố anh kéo hồi chuông dưa hấu đỏ
Sông nhẹ nhàng uốn lượn bật óng ả lưng thon
Mây nhan sắc bừng bừng khoe ngực nõn"

Cuối cùng thì nhà thơ đáng kính của chúng ta cũng về lại bên dòng sông Thu Bồn, nơi ông sinh và lớn lên trong những ngày bão đạn mưa bom, "con về bên nước Thu Bồn/ vẫy tay rủ ánh chiều buông cùng đò". Bấy giờ, ông mặc nhiên thỏa thích:

"Nửa tôi chạy với dòng sông
Nửa tôi lắng lại làm hòn đất quê
Bàn chân dốc mỏi cỏi về
Tênh lòng soi nước rui mè trăm năm
Sương thu đậm giọt trăng rằm
Ướp lên ngọn tóc đăm đăm cuối mùa"
(Về Bên Dòng Sông - thơ NĐB)

Xin cảm ơn nhà thơ, cảm ơn cuộc đời đã cho ta những dòng sông tuổi thơ ắp đầy kỉ niệm một thời tắm mát, chập chồi giữa những trưa hè oi ả. Cảm ơn những câu thơ mà dẫu có viết nhiều thêm nữa, nói nhiều thêm nữa vẫn chưa thể cảm nhận hết ý nghĩa tuyệt vời vốn bung biêng, mưng mẩy của ông:

Nầy là giun dế nhặt thưa
Ngủ đi giấc trẻ con vừa oa oa
Một tôi say giữa canh gà
Một tôi thao thức đường xa chạnh lòng ...
(Về Bên Dòng Sông - thơ NĐB)

Sài Gòn, 01.04.2013
Bình Địa Mộc
Theo http://binhdiamoc123.blogspot.com/


READ MORE - CẢM NHẬN THƠ NGUYỄN ĐẠI BƯỜNG | Bình Địa Mộc

BÓNG TRĂNG VÀ TIẾNG CHIM - Thơ Nguyên Lạc


 
                         Nhà thơ Nguyên Lạc



BÓNG TRĂNG VÀ TIẾNG CHIM

Bóng trăng soi sáng hồn quê
Biệt ly chim khóc não nề bao năm!
(Phóng dịch: Sơn cư mạn hứng - Nguyễn Du)[*]

I. VẦNG TRĂNG XƯA ẤY

1.
Lặng lẽ. một bóng người
Vằng vặc. trăng bên trời
Bâng khuâng. hồn viễn xứ
Ngày xưa. ánh trăng tôi?

Ngõ khuya. vành trăng đầy
Cố hương. bóng trăng đây? 
Bao xuân thu luân lạc
Ký ức vẫn đong đầy!

Vẫn. vầng trăng xưa ấy!
Vẫn. quê hương hồn nầy!
Mười năm. trăm năm nữa
Vẫn lồng lộng. Có hay?

2.
Giữa khuya. trăng tròn vành
Rực trắng. trời lam xanh
Một bóng đời. cô lữ
Một nỗi lòng. tan hoang!

Trăng soi. giấc mộng tàn
Dâu bể. thanh xuân tan!
Người. nỗi niềm cố xứ
Trăng. đổi màu thời gian?


II. TIẾNG CHIM KHUYA

Canh khuya tiếng chim kêu
Ly biệt ly biệt nhau
Sao rõ lòng lữ thứ?
Buồn giùm ta chim nào?

Canh khuya chim lẻ bạn
Nỉ non lời nhớ mong
Ly biệt ôi ly biệt
Xót lòng này biết không?

Tiếng chim sầu cô lẻ
Nhói lòng người lưu vong
Ly biệt sao biết được?
Sương trắng trời mênh mông!

Chim ơi đừng than nữa!
Mong manh tình mong manh
Ly biệt rồi ly biệt!
Nhớ thương rồi huyễn mong

Giữa khuya chim khóc bạn
Động một trời hư không
Biệt ly rồi ly biệt
Biết khi nào mà mong?!

Rưng rức lời ly biệt
Chim khóc người phải không?
Văng vẳng lời ly biệt
Khóc giùm ta hoài mong?

Chim ơi ngừng chim ơi!
Tình mù xa phương trời
Biệt ly đành ly biệt
Cố hương giờ xa xôi!

            Nguyên Lạc

..............

[*] Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ
Kinh niên biệt lệ nhạn thanh sơ.
(Sơn cư mạn hứng - Nguyễn Du)

READ MORE - BÓNG TRĂNG VÀ TIẾNG CHIM - Thơ Nguyên Lạc

VẪN BIẾT - Thơ Quách Như Nguyệt

 
              Nhà thơ Quách Như Nguyệt



VẪN BIẾT

Vẫn biết tình anh tình không thật
Em vẫn mong chờ, vẫn mộng mơ
Mơ có một ngày anh yêu thật
Chẳng phải tình hờ, tình vu vơ

Em phải làm sao, phải làm sao?
Để anh thật lòng thương, không xạo
Làm sao để không là tình lỡ
Tình không một chiều, tình bơ bơ

Vẫn biết…
Yêu người không yêu mình, buồn lắm!

Vẫn biết…
Đừng mong, đừng hy vọng…
một ngày nào, anh chuyển hướng…  yêu em!
Tình yêu cũng chỉ là ảo vọng
Yêu em chứ đừng thương hại em!

Vẫn biết…
Tại sao phải đi yêu người ta?
Thế giới này đông người lắm mà…

Em biết thế, nhưng tim em không chịu biết
Trái tim khờ, nhất định yêu anh riết!
Yêu thiết tha, yêu da diết, mù lòa
Mong có ngày... tình nhạt nhòa, em từ bỏ anh nha

                                                           Như Nguyệt
                                                               4/4/2019

READ MORE - VẪN BIẾT - Thơ Quách Như Nguyệt

NGẬM NGÙI - Thơ Lê Cao Đảm





NGẬM NGÙI
(Kỷ niệm lần về quê đầu tiên sau gần 20 năm phiêu lãng)

Ta loanh quanh mấy vòng trên phố cũ
Rụng trái sầu nhớ lại chuyện ngày xưa
Nhớ tóc mây, áo lụa tuổi học trò
Nhớ bạn bè đã bao thu xa biệt

Ngày ra đi áo còn thơm mùi mực
Dáng thư sinh trôi dạt giữa dòng đời
Hành trang nào? vội vã vắt nghiêng vai
Xa phố thị mà bùi ngùi lụy cãm

Làm sao quên những tháng năm cắp sách
Nhớ làm sao buổi học Nguyễn Hoàng
Những con đường góc phố thân quen
Buổi chiều nao cùng em thả bước

Bao năm qua lênh đênh xuôi ngược
Thân xứ người mà dạ để cố hương
Nợ áo cơm níu giữ nước về nguồn
Dòng sông đời vô vàn ghềnh thác

Chừ ta về tóc rối thêm sợi bạc
Em cơ hồ vương ráng chiều thu
Chuyện tình đầu khờ khạo tuổi mộng mơ
Đã ngủ yên sau bờ dĩ vãng

Chừ ta về vẫn khung trời mây trắng
Vẫn nước dòng Thạch Hãn trong xanh
Nhưng trường xưa giờ chẳng còn tên
Liệu ngàn sau? có đi vào quên lãng

Về phố cũ nao lòng thuyền lỡ bến
Cung đàn xưa mãi vọng dư âm buồn
Kỷ niệm nào cũng nhói buốt con tim
Cũng hằn sâu trong vùng tiềm thức

Bè bạn thuở nao ngàn phương chia cách
Đếm trên ta... tên từng đứa mất... còn
Bên Thành Cổ xanh rêu màu tuế nguyệt
Giọt ngậm ngùi tím ngát buổi hoàng hôn

      Quảng Trị một chiều cuối Thu 1997
                                      Lê Cao Đảm

READ MORE - NGẬM NGÙI - Thơ Lê Cao Đảm

EM VÀ NỖI NIỀM - Phan Quỳ





EM VÀ NỖI NIỀM

Em và mùa xuân đã không còn ở lại. Ta chờ đợi gì một mùa thu trút lá? Những đám mây lang thang màu cánh vạc chở linh hồn ta về nơi đầu ghềnh cuối bãi và từng cơn gió rét buốt ngày đông thổi qua lòng ta quạnh vắng đìu hiu.

Em và ngày vui thật ngắn ngủi trong ta qua đi như gió thoảng bên hiên chiều, những ngày vàng xôn xao cùng những tối câm im lìm yên ắng, những giọt mưa rơi đều đều như một điệp âm buồn gõ nhịp lên một kiếp đời bão động trầm luân.

Em và những sáng xuống chiều lên xôn xao cùng nỗi nhớ. Những cung đường hò hẹn bước chân vui và ly cà phê đắng chát mấy ngậm ngùi. Ta kể nhau nghe chuyện đời trôi nổi, chuyện trần gian cát bụi lấm khung trời.

Em và lòng ta chắt chiu từng kỷ niệm. Một nụ cười buồn, mấy giọt nước mắt vui rót xuống đời ta những nghẹn ngào. Một thoáng ngây ngô bối rối , một thời đằm thắm thương trao in dấu lên hồn ta những chói ngời hạnh phúc và rạng rỡ đớn đau.

Em và ta ở hai đầu con gió, hun hút một nẽo về, bằn bặt mâý sơn khê. Đường trần lạc lối cho cung đàn lỡ nhịp so dây. Bóng em nghiêng xuống hồn ta như một thoáng mây qua cho cơn mưa chiều chợt tới. Cơn mưa thấm đẫm cuộc đời và cõi lòng ta còn lại những chơi vơi...

Em và ta trên đường dài quá mỏi, gốc sim già mộng ước một trời mơ , ta lang thang qua mấy cõi mong chờ, tìm hình bóng em vào thơ diễm tuyệt.

Em và ta đến bao giờ nói hết? Chuyện tình buồn như những giọt mưa ngâu, rơi nghiêng nghiêng qua mâý phiến lá sầu, ngày tháng lạnh như muôn đời vẫn lạnh...

                                                                        Phan Quỳ

READ MORE - EM VÀ NỖI NIỀM - Phan Quỳ

ĐỌC “THƠ CỦA GÁI QUẢNG TRỊ” CỦA QUANG TUYẾT - Châu Thạch


             
                   Nhà bình thơ Châu Thạch



            ĐỌC “THƠ CỦA GÁI QUẢNG TRỊ” 
                                    CỦA QUANG TUYẾT                    
                                                       Châu Thạch

Trưa thứ sáu tháng 4- 2019, tôi thức dậy sau giấc ngủ ngon trong không khí mát dịu của bầu trời cuối xuân. Cầm chiếc điện thoại lên và mở trang facebook, tôi đọc ngay được một bài thơ hay lắm. Hay lắm vì nó nói về một quê hương đã từng gắn bó với tôi một thời trai trẻ. Hay lắm vì nó nói về những người con gái của quê hương đó, những người mà tôi đã từng yêu đến cháy bỏng con tim từ xưa và mãi mãi! Hay lắm vì nó đã làm con dế mèn tôi gáy lại, sau nhiều ngày cạn kiệt cảm hứng, vì bị đánh te tua trên văn đàn, bởi có người không muốn nghe tiếng gáy dưới cỏ của con dế rất chi là hèn mọn, nhưng lại cứ gáy suốt ngày đêm.
Bài thơ viết từ hai năm trước (thứ 6 tháng 4 -2017), đến bây giờ tôi mới đọc được: “Thơ Của Gái Quảng Trị” tác giả Quang Tuyết.
Tôi chổi dậy viết ngay về nó, bởi tôi nghĩ, nếu tôi không viết tức khắc cho bài thơ nầy thì chắc chắn, còn lâu tôi mới cầm bút để bình thơ lại được.
Bài thơ hơi dài, xin quý vị thưởng thức nó sau. Bây giờ, hãy vui lòng đọc lời tôi giới thiệu về nó:
Ta hãy bước vào bốn câu mở đầu thôi, để thấy cái dễ thương trong những lời “thủ thỉ” của cô gái Quảng Trị đáng yêu là sao

Có lần nào em thủ thỉ với anh
Về một vùng quê xa xôi nghèo khó
Nơi chỉ có mưa buồn, hạn khổ
Nắng cháy nung người, lạnh buốt tận cùng xương

Có lẽ ai đã từng sống cả ba miền trên đất Việt, cũng có thời gian chịu đựng thời tiết trên quê hương Quảng Trị thì mới thâm trầm cảm nhận được bốn câu thơ trên. Thời tiết trên đất Quảng Trị khắc nghiệt hơn những nơi khác, mùa hạn thì có gió Lào khô đến rát bỏng thịt da, mùa đông thì rét căm căm làm run cầm cập, hơi thở thấy toàn khói trắng đục bay ra. Nhà thơ vào đề với chữ “thủ thỉ” hay vô cùng. Thủ thỉ là gì? Thủ thỉ là nói nhỏ nhẹ, thong thả, vừa đủ cho nhau nghe, thường là để tâm tình, thổ lộ tình cảm. Quang Tuyết dùng chữ thủ thỉ một phần để giới thiệu với chúng ta người anh ấy của mình, nhưng phần chính là để giới thiệu cái quê hương nghèo khó rất thân yêu trong tâm hồn tác giả. Tác giả đã mượn anh ấy để trang trãi tâm tư của mình về quê hương Quảng Trị, thủ thỉ với người trong thơ và thủ thỉ với người nào đang đọc bài thơ.

Rồi thì nhà thơ tiếp tục thủ thỉ về những người thân yêu của mình:  

Trưa gió Lào chân mẹ bỏng nhựa đường
Ba ngược gió nghiêng tơi chiều đông giá.
Người nơi ấy luôn đương đầu vất vả
Từ lúc sinh ra cho đến lúc tuổi già
Chân bám ruộng đồng mưa nắng sương sa
Chén cơm nóng dưa cà xong bữa

Sự khổ cực nầy thì trên quê hương ta nơi đâu mà không có. Thế nhưng chỉ nhờ hai tiếng “thủ thỉ” ở câu thơ mở đầu mà khi đọc thơ, tâm hồn ta không thấy nỗi xót xa của những tiếng kêu than, ngược lại, ta thấy như có tiếng thì thầm êm ái nói về một nơi vô cùng yêu dấu trong thơ. Điều đó cho ta thấy chỉ với một tứ thơ, tác giả đã định hướng cho người đọc đi theo một cảm nhận khác tích cực, êm ái hơn và thú vị hơn, hiện ra trong tâm trí ta hình ảnh một người con gái đẹp thỏ thẻ cùng anh về một quê hương nghèo khó, làm cho chính nhân cách của cô ta cũng trở nên đẹp trong tâm hồn người đọc.

Thế rồi đặc biệt hơn hết, Quang Tuyết viết về một dòng sông, một dòng sông mang biết bao đau thương. Ở Quảng Trị có hai dòng sông đi vào lịch sử. Sông Bến Hải chia hai đất nước mang nhiều hệ lụy về sự chia ly. Sông Thạch Hãn mang nhiều nỗi đau về xương rơi máu đổ, anh em tương tàn:  

Em chưa nói về dòng sông trăn trở
Bởi máu xương nhuộm đỏ một thời
Nước chảy ngậm ngùi thương số kiếp anh ơi
Nam Trung Bắc tuổi thanh niên đều mất.

Tác giả nói về dòng sông Thạch Hãn chảy qua thị xã, nằm dưới chân Cổ Thành, nơi chứa bao nhiêu kỷ niệm đậm đà của những người trên quê hương ấy, và nơi chôn xác của hàng ngàn thanh niên ba miền trung, nam, bắc trong một mùa đỏ lửa năm xưa.
Tiếp tục bài thơ, Quang Tuyết viết về chiến tranh trên quê hương Quảng Trị, viết về xứ mình nghèo khó hơn những xứ có tên chữ đầu cũng bằng chữ Quảng như Quảng Nam, Quảng Ngãi giàu có hơn nhiều, viết về nỗi đau âm ỉ trên số phận quê hương nhuộm một màu đen và dài năm tháng.
Phần cuối bài thơ, tác giả xoay đề tài, viết về khí chất và khi tiết của em, người con gái Quảng Trị:

Phận con gái sinh ra từ nơi đó
Số phận dường như đều phải nhuộm màu đen
Nhưng thương đau không có nghĩa yếu hèn
Nên khí chất có khi là khí tiết.
Người trưởng thành từ tử sinh từng phút
Biết quý đời
Trân trọng sự thủy chung
Biết thương yêu hàn gắn mọi lỡ lầm ....
Ươm mầm mới từ những điều đổ nát
Quê hương đó ...
và con người em đó
Mềm yếu khi yêu - mạnh mẽ khi cùng
Có thương nhau hãy giữ một tấm lòng...

Mười ba câu thơ cuối của bài thơ, Quang Tuyết không chỉ nói về mình, mà tôn vinh niềm kiêu hãnh của người con gái Quảng Trị. Thật vậy, kiêu hãnh nghĩa là gì? Nghĩa là tự hào về những giá trị, về những cái mình có. Những cái người con gái Quảng Trị có không chỉ được giáo dục bởi một nền văn hòa đầy bản sắc tốt đẹp của cha ông để lại, mà còn được tôi luyện qua sự gian khó của một vùng đất khô cằn, đầy biến động và đau thương. Những câu thơ cuối đã xoay chiều ý thơ, đưa người đọc đến sự tôn trọng, yêu thương và khâm phục nhân cách của con người. Niềm đau của một quê hương đầy sóng gió không còn nữa, hiển hiện trong thơ những người nữ “mềm yếu khi yêu” và mạnh mẽ khi khốn cùng, khiến cho ai cũng luôn muốn giữ một tấm lòng thương mến với người em gái Quảng Trị đẹp cả một tâm hồn.

Đọc “Thơ Của Gái Quảng Trị” ta thấy nó như nguồn một con sông có dòng nước trong veo chảy ra, rồi nó qua ghềnh qua thác nhưng vẫn trôi giữa đôi bờ xanh thắm, cuối cùng nó hòa chung với biển mênh mông. Bài thơ có một nhập đề rất dễ thương. Bài thơ không ẩn ý, không cầu kỳ văn tự, chỉ là lời thủ thỉ thân thương mà nó gây nhiều cảm xúc với quê hương, mà tạo niềm thương yêu, tôn trọng đến những người phái nữ đi trong bão lửa, bước ra trong ánh sáng cuộc đời

                                                                       Châu Thạch


       
                  Nhà thơ Quang Tuyết


THƠ CỦA GÁI QUẢNG TRỊ
(Thương mến những em gái QT)

Có lần nào em thủ thỉ với anh
Về một vùng quê xa xôi nghèo khó
Nơi chỉ có mưa buồn, hạn khổ
Nắng cháy nung người, lạnh buốt tận cùng xương
Trưa gió Lào chân mẹ bỏng nhựa đường
Ba ngược gió nghiêng tơi chiều đông giá.
Người nơi ấy luôn đương đầu vất vả
Từ lúc sinh ra cho đến lúc tuổi già
Chân bám ruộng đồng mưa nắng sương sa
Chén cơm nóng dưa cà xong bữa

Em chưa nói về dòng sông trăn trở
Bởi máu xương nhuộm đỏ một thời
Nước chảy ngậm ngùi thương số kiếp anh ơi
Nam Trung Bắc tuổi thanh niên đều mất.
Từ thuở bé bốn tao nôi mẹ hát
Câu ầu ơ ! Hòa tiếng súng hằng đêm
Hỏa châu rơi như sao rụng bên thềm
Chưa hiểu hết đã dạn dày loạn lạc.

Quê em đó
Anh ơi miền đất Quảng...
Chẳng phải Quảng ngọt ngào đường mía mạch nha
Không phải Quảng cảng sâu tàu lớn nhỏ vào ra
Hay thành phố điện đèn lấp lánh.
Miền đất Quảng quê em
Là địa đầu giới tuyến.
Sông một thời cắt máu thịt chia xa
Hứng chịu tang thương, còn mất mọi nhà
Nỗi đau âm ỉ dù đã là quá khứ

Phận con gái sinh ra từ nơi đó
Số phận dường như đều phải nhuộm màu đen
Nhưng thương đau không có nghĩa yếu hèn
Nên khí chất có khi là khí tiết.
Người trưởng thành từ tử sinh từng phút
Biết quý đời
Trân trọng sự thủy chung
Biết thương yêu hàn gắn mọi lỡ lầm ....
Ươm mầm mới từ những điều đổ nát
Quê hương đó ...
và con người em đó
Mềm yếu khi yêu - mạnh mẽ khi cùng
Có thương nhau hãy giữ một tấm lòng...

                           Thứ 6, tháng 4-2017
                                  Quang Tuyết

READ MORE - ĐỌC “THƠ CỦA GÁI QUẢNG TRỊ” CỦA QUANG TUYẾT - Châu Thạch