Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, August 31, 2019

CHÚT TẢN MẠN VỀ CÁC ĐOẢN VĂN “TỰU TRƯỜNG” CỦA ANATLOLE FRANCE, “TÔI ĐI HỌC” CỦA THANH TỊNH VÀ “CẢM THU” CỦA ĐINH HÙNG - La Thụy





CHÚT TẢN MẠN VỀ CÁC ĐOẢN VĂN “TỰU TRƯỜNG” CỦA ANATLOLE FRANCE, “TÔI ĐI HỌC” CỦA THANH TỊNH VÀ “CẢM THU” CỦA ĐINH HÙNG

Ngày khai trường với kỷ niệm mơn man làm tôi nhớ đoản văn LA RENTRE'E DES CLASSES (TỰU TRƯỜNG) của nhà văn Anatole France - trích từ quyển “Le Livre de mon ami” (Cuốn Sách Của Bạn Tôi). Đoản văn TỰU TRƯỜNG của nhà văn Anatole France có ảnh hưởng lớn tới tâm hồn nhà văn Thanh Tịnh, khi ông viết truyện ngắn TÔI ĐI HỌC. Hình ảnh chú bé A.France trong ngày tựu trường khơi dậy những tình cảm trong sáng, bỡ ngỡ và êm ái của tuổi thơ. Bởi hơn đâu hết, chính những thầy giáo vỡ lòng, thông qua trang hồi kí tuyệt vời ấy, đã đánh thức ở họ những xúc cảm đầu đời: niềm đam mê học hành và tình yêu văn chương nghệ thuật.

Xin trích dẫn các bản dịch của Phạm Tất Đắc, Bùi Bảo Trúc và bản tiếng Pháp của Anatole France

* Bản dịch của Phạm Tất Đắc:

“Tôi sẽ kể cho bạn nghe những gì gợi cho tôi nhớ lại hàng năm bầu trời chập chùng của mùa thu, những bữa cơm chiều đầu tiên ăn dưới ánh đèn và những chiếc lá đang úa vàng dần trong những chòm cây run rẩy. Tôi sẽ kể bạn nghe mình đã nhìn thấy gì khi qua vườn Luxembourg vào những ngày đầu tháng mười, khi phong cảnh hơi buồn và đẹp hơn bao giờ hết, vì đó là những ngày mà lá cây rơi từng chiếc một trên bờ vai trăng trắng của các pho tượng… Điều tôi nhìn thấy lúc đó, trong vườn ấy, là một chú bé con, tay đút túi quần, cặp sách trên vai, đang bước tới trường, vừa đi vừa nhảy nhót như một chú chim sẻ. Chỉ tâm tư tôi nhìn thấy chú bé, vì đó chỉ là một bóng hình. Đó là bóng hình tôi cách đây hăm lăm năm…”
                          (Trích một đoạn dịch của Phạm Tất Đắc)

* Bản dịch của Bùi Bảo Trúc:

Tôi sẽ kể cho bạn nghe những gì tôi còn nhớ mỗi năm khi bầu trời đầy xao động của mùa thu, những bữa cơm chiều đầu tiên dưới ánh đèn và những chiếc lá vàng trên những cành cây run rẩy; tôi sẽ kể cho bạn nghe về những gì tôi nhìn thấy khi tôi đi ngang qua vườn Lục Xâm Bảo trong những ngày đầu của tháng 10, trời lúc ấy hơi buồn nhưng đẹp hơn bao giờ vì đó là lúc những chiếc lá từng chiếc rơi rụng xuống những chiếc vai trắng của những pho tượng … Điều tôi trông thấy lúc ấy trong vườn, là một cậu bé, tay trong túi quần, chiếc cặp sách đeo trên lưng, trên đường đến trường, những bước chân nhẩy như một con chim sẻ. Chỉ trong óc tôi mới nhìn thấy cậu, vì cậu bé đó là cái bóng, cái bóng của chính tôi cách đây 25 năm… Cậu bé đi nhanh, chiếc cặp sách đeo trên lưng và con quay nằm trong túi. Ý tưởng gặp lại những tên bạn làm cậu vui hẳn lên. Có biết bao nhiêu điều để nói và để nghe…
                        (Trích một đoạn dịch của Bùi Bảo Trúc)

* Bản tiếng Pháp Anatole France

LA RENTRE'E DES CLASSES

“Je vais vous dire ce que me rappellent tous les ans, le ciel agité de l’automne, les premiers dîners à la lampe et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent; je vais vous dire ce que je vois quand je traverse le Luxembourg dans les premiers jours d’octobre, alors qu’il est un peu triste et plus beau que jamais; car c’est le temps où les feuilles tombent une à une sur les blanches épaules des statues. Ce que je vois alors dans ce jardin, c’est un petit bonhomme qui, les mains dans les poches et sa gibecière au dos, s’en va au collège en sautillant comme un moineau. Ma pensée seule le voit; car ce petit bonhomme est une ombre; c’est l’ombre du moi que j’étais il y a vingt-cinq ans; Vraiment, il m’intéresse, ce petit : quand il existait, je ne me souciais guère de lui ; mais, maintenant qu’il n’est plus, je l’aime bien........
C’est ainsi qu’il traversait le Luxembourg dans l’air frais du matin. Tout ce qu’il voyait alors, je le vois aujourd’hui. C’est le même ciel et la même terre; les choses ont leur âme d’autrefois, leur âme qui m’égaye et m’attriste, et me trouble; lui seul n’est plus.
C’est pourquoi, à mesure que je vieillis, je m’intéresse de plus en plus à la rentrée des classes.
(Anatole France - trích từ quyển “Le Livre de mon ami”)

*

  
           Nhà văn Anatole France

Riêng câu này trong đoản văn LA RENTRE'E DES CLASSES (TỰU TRƯỜNG) của nhà văn Anatole France gieo những cảm xúc thật xao xuyến vào sâu thẳm cõi lòng: 

“C’est le même ciel et la même terre; les choses ont leur âme d’autre fois, leur âme qui m’egaye et m’attriste, et me trouble, lui seul ‘n’est plus…”

“ Vẫn trời ấy, vẫn đất ấy, vẫn những thứ mang linh hồn ngày xưa, linh hồn làm tôi vui, buồn và bối rối, chỉ riêng chú bé ấy là không còn nữa, nhưng cảm xúc trong hồn tôi vẫn như ngày nào !…

*

Khi nói Thanh Tịnh chịu ảnh hưởng Anatole France thì không phải ông ấy chịu ảnh hưởng văn phong hay câu từ. Ảnh hưởng Anatole France đối với Thanh Tịnh là ảnh hưởng lên tâm hồn, chính hình ảnh chú bé A.France trong ngày tựu trường đã khơi dậy lên cảm xúc, gợi hứng cho Thanh Tịnh viết TÔI ĐI HỌC.
Theo tôi, nhà thơ Đinh Hùng mới chịu ảnh hưởng văn phong Anatole France khi viết:

“Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Tôi vẫn ngờ như không sự đổi thay, vì lại thấy mình đi trên con đường này
          (Trích trong tùy bút CẢM THU của Đinh Hùng)

Mời quý bạn đọc đoạn văn sau của Anatole France, đối chiếu và so sánh thử nhé!

“ Vẫn trời ấy, vẫn đất ấy, vẫn những thứ mang linh hồn ngày xưa, linh hồn làm tôi vui, buồn và bối rối, chỉ riêng chú bé ấy là không còn nữa, nhưng cảm xúc trong hồn tôi vẫn như ngày nào !…”                                  
                                                   (Anatole France)

                                                                             La Thụy
*
PHỤ LỤC:


                Nhà văn Thanh Tịnh

1/
TÔI ĐI HỌC
(Truyện ngắn của Thanh Tịnh)

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa.

Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.

Dọc đường tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng chì ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước o sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.

Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi:
- Mẹ đưa bút thước cho con cầm.
Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm:
- Thôi để mẹ nắm cũng được.
Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước.
Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.
Trước sân trường làng Mỹ Lý đầy đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.
Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần.

Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng.

Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ.

Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nữa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.

Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Chung quanh những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp.

Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đứng lên trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ:

- Thế là các em đã vào lớp năm. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa? (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ rang của phụ huynh đáp lại).

Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút giây này chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn.

Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói:
- Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học.
Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cánh tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi.
Ông đốc nhẫn nại chờ chúng tôi.
- Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai các em lại được nghỉ cả ngày nữa.
Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ, đang đón chúng tôi vào cửa lớp. Trong thời thơ ấu tôi chưa bao giờ xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ vì có nhũng hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết.

Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.
Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.

Nhưng những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc:
Bài tập viết: Tôi đi học!

                      [Rút từ tập truyện ngắn QUÊ MẸ, 1941]

*
2/

           

Bài tùy bút được xem như "thơ văn xuôi" của Hoài Điệp Thứ Lang (một bút danh khác của Đinh Hùng):

CẢM THU

Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ...
Nước trong như một cặp mắt tuyệt vời. Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng cung nữ thuở xưa, và trong vườn nhà ai thấp thoáng hoa phù dung nở trắng như một linh hồn còn non trẻ?
Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Tôi vẫn ngờ như không sự đổi thay , vì lại thấy mình đi trên con đường này. Thu năm nay, giữa lúc cây vàng rơi lá, đường này hiu hắt, tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ, và may cũng thấy thu về để nước hồ xanh. Chân ai đi xa vắng đằng kia, hay đó chỉ là gió thoảng mong manh? Và gió nào vương vấn hồn tôi, hay cũng chỉ là dư thanh của một ngày xưa cũ? Chao ôi! Buồn đã nhiều rồi, nhưng cũng chỉ buồn như năm trước. Lòng tôi chẳng biết tìm ai mà nhớ, hôm nay nhớ lại buồn qua mới thấy nắng kia nhiều dĩ vãng.
Tôi nhớ một người lữ khách nào xưa, ra đi từ một mùa thu... Thế rồi cũng một mùa thu trở lại .Những bước đầu tiên trên con đường bạn, mắt buồn như nước, mảng tìm hồn mình hiu hắt trong hồn thu mới...
Thu đã về đây, tôi làm lữ khách đi hết sông này, sông khác, cả núi, cả đèo và lại cả rừng, cả suối, bây giờ tôi cũng về đây để buồn thêm một ít, nhớ thêm một ít, và yêu thêm rất nhiều.
... Từ hôm rời chân ở bến sông vàng, từ biệt con thuyền phiêu bạt, tôi đã hết nhớ dãy núi xanh phơn phớt đằng xa và bâng khuâng trở lại con đường quê thân mật.
Ði trên đất đỏ, giữa hai ruộng ngô thơm ngào ngạt.... Hương này có phải hương xưa? Ồ! Những dây đậu vẫn còn non mà luống khoai lang đã xanh tươi rồi nhỉ?
Ði trên đất đỏ, bên những đồng rau cải cúc và giẫm lên cỏ may vàng. Ðây là những con bướm cũ, những cánh hoa xưa. Và này đây tất cả ngày xưa: từng cơn gió nhỏ, từng sợi mây buồn...
Thôi! Thôi! Tôi không còn trẻ thơ nữa để say sưa đuổi bắt bướm đồng, và chẳng ngắm gió sầu mây, chỉ biết hoa lòng nở cũng nhiều bông trắng!
Thương nhớ vì sao! Tôi sớm giã từ hồn niên thiếu, hôm nay đi giữa cánh đồng lại thấy tuổi nhỏ của mình tản mạn trên từng cánh bướm, sắc hoa, và chân bước đi những bước ngậm ngùi, bởi chưng lòng tưởng con đường tan tác cánh hương của đóa xuân hồng thuở cũ.

                                                HOÀI ĐIỆP THỨ LANG

Bài tùy bút "thơ văn xuôi" CẢM THU này được nhạc sĩ Văn Trí phổ nhạc với nhan đề HOÀI THU

READ MORE - CHÚT TẢN MẠN VỀ CÁC ĐOẢN VĂN “TỰU TRƯỜNG” CỦA ANATLOLE FRANCE, “TÔI ĐI HỌC” CỦA THANH TỊNH VÀ “CẢM THU” CỦA ĐINH HÙNG - La Thụy

Wednesday, August 28, 2019

LÁ NHỚ - Thơ Nguyễn An Bình




NGUYỄN AN BÌNH
LÁ NHỚ
*Gởi người bạn Nắng Hồng của tôi

Nắng ở ngoài kia phải chăng rất vàng
Nên chiếc lá chợt giật mình trăn trở
Thơ trên lá thả bay cùng ngọn gió
Nên nhánh sông buồn lạc bến bờ thôi.

Nhỏ của tôi ơi những tháng năm trôi
Đâu ai nhớ mừng tôi ngày sinh nhật
Thơ trên lá xin một lần được nhắc
Nhiều năm qua tôi quên mất lối về.

Cơn mưa ngày nào cuốn mất đam mê
Giọt ngắn giọt dài lăn trên khung cửa
Giọt nước mắt ai nhen thành ngọn lửa
Khơi tàn tro trước dâu bể tình người.

Đêm thật dài  tiếng vạc thật lẻ loi
Nghe dế gáy buồn hơn cơn mộng dữ
Thơ trên lá ủ thơm mùi hương cũ
Mãi trăm năm xanh tuổi một ngày vui.

16/8/2019.
N.A.B.










READ MORE - LÁ NHỚ - Thơ Nguyễn An Bình

KHÓC THAN CHIÊU QUÂN - Văn tế thế Tán - Chu Vương Miện



khóc than chiêu quân
văn tế thể tán

chuvươngmiện
*
kiệu 1 chiếc
hài 1 đôi
1 kiếp hồng nhan
toàn nổi trôi?
không bị nhốt tại lãnh cung
cũng lênh đênh giữa trời?
chân nhạn môn quan
nhìn giòng hắc thủy trôi
thương mình giận người?
tướng không đủ sức giữ thành
quân không đủ sức vác giáo
thôi đành cống chiêu quân
cho tròn lẽ đạo
hỡi linh xưa /
thương cho đời cơm áo
kẻ mạnh người thua
chiêu quân ơi? nàng chỉ có đi?
[mà chả có về ?]

 * 
con sáo sang sông
con sáo xổ lồng
con cá về Hồ
con cá đi mô

Chiêu Quân về Hồ
ngang qua Hắc Thủy
ngay ải Nhan Môn
viết dăm hàng chữ

cột vào chân nhạn
mùa đông tuyết phủ

cvm


READ MORE - KHÓC THAN CHIÊU QUÂN - Văn tế thế Tán - Chu Vương Miện

CHIẾC BẨY TÌNH ANH ĐẶT | Bích Vương ngâm thơ Như Nguyệt

READ MORE - CHIẾC BẨY TÌNH ANH ĐẶT | Bích Vương ngâm thơ Như Nguyệt

Tuesday, August 27, 2019

TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG – ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN - Nguyên Lạc


     

TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG – ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN
                                                                     Nguyên Lạc

Phần dẫn nhập
Trong phần Lời Kết của bài Về Nguồn Gốc Của Thơ Lục Bát [1] – tôi có viết: “Giống như một số người cố tình cho Đoạn Trường Tân Thanh là truyện thơ diễn dịch từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên China mà ra, sao không nghĩ ngược lại?”. Rẩt nhiều người, kể cả các trường đại học, trung học Việt Nam đã cho rằng thi hào Nguyễn Du dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi, bằng văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân bên China để viểt ra Đoạn Trường Tân Thanh. Thí dụ:

[ … Nguyễn Du viết dựa theo cốt truyện một tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi của Trung Quốc có tên là Kim Vân Kiều truyện (truyện về Kim Trọng Thúy Vân Thúy Kiều) của một tác giả hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân. Trong thời đại của Nguyễn Du các nhà thơ sáng tác thường dựa theo một tác phẩm của Trung Quốc như thế. Nói chung Nguyễn Du dựa khá sát vào tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân khi viết lại Truyện Kiều: Cụ thể là những nhân vật trong Truyện Kiều của ông đều là những nhân vật lấy từ Kim Vân Kiều truyện; những tình tiết biến cố cốt truyện trong Truyện Kiều hầu hết đều có trong KIm Vân Kiều truyện…] – [Trường THCS Nguyễn Viết Xuân- Thị xã An Khê- Tỉnh Gia Lai]

Xin ghi thêm vài lời của ông GS “bạn vàng phương Bắc” Đổng Văn Thành:

“So sánh truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam” trên “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” GS. Đổng Văn Thành – China cho rằng: “Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […] Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…” [ Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]

Thêm nữa, mời các bạn đọc những lời này:

 “Thế nhưng chẳng những bài viểt trên mạng, sách giáo khoa của các vị TS, PTS Giáo sư Việt Nam ta đọc đều thấy viết đại để: Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên China, diễn dịch ra quốc âm dưới dạng thơ lục bát, sáng tạo ra truyện Kiều. Nguyễn Du là thiên tài của nước Việt đã biến một tiểu thuyết “tầm thường” trở thành một tác phẩm thi bất hủ.

Biết bao lời ca ngợi Nguyễn Du, trên cơ sở khen ông nhào nặn tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân bên China. Thực ra những lời khen đó là sáo rỗng, vì những người viết như thế vô trách nhiệm với văn hoá dân tộc đã đành; đồng thời, trong những lời ca ngợi đó đã kết tội Nguyễn Du “đạo văn”, tức là mượn cốt truyện người ta mà giấu. Mặt khác các vị cho rằng Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân là tiểu thuyết tầm thường mà sao từ năm 1926, tên tác phẩm và tác giả đã đưa vào “văn học sử Trung quốc” và đến 1984 đến nay nó lại át cả Hồng Lâu Mộng China? Các vị không thấy có cái gì là lạ ở đây sao? Có bao giờ các vị đặt một câu hỏi liệu China có định chiếm đoạt văn hoá như đã, đang và sẽ chiếm cho được lãnh thổ người Việt không?”

Có vị bào chữa rằng ta mượn cốt truyện thì có gì phải tự ái, miễn là về mặt tư tưởng và nghệ thuật truyện Kiều đạt tới đỉnh cao là tự hào rồi! Nghĩa là trong thâm tâm những vị đó vẫn cho rằng Nguyễn Du đã đạo văn và đạo văn chẳng có gì xấu hổ. Còn tư tưởng thì hệt tiểu thuyết Kim Vân Kiều chứ khác chỗ nào mà gọi là cao hơn? Nghệ thuật cao hơn ư? Cao là cao đối với thơ Việt Nam.

Nói cho cùng là: Nguyễn Du đã đạo văn và diễn truyện Tàu bằng thơ rất hay đối với người Việt. Người Việt tự hào về điều đó.! Thử hỏi người nước ngoài mà nghe kết luận như vậy thì có cười vào mặt người Việt không? Có là nỗi tủi nhục cho quốc hồn và quốc sĩ của ta không?
                                                         [Viểt theo lời Lê Nghị]

Đây là một vấn đề rất quan trọng, liên quan đến vinh dự của Việt Nam nên hôm nay tôi trở lại với các bạn để cùng nhau thảo luận vấn nạn này.
Tôi dụng công tìm hiểu, tổng hợp rồi đưa ra những chứng cớ về ngụy thư Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Chính ngụy thư này, do “ý đồ” của ” Ai đó” với sự tiếp tay – vô tình hay cố ý ? – của một số “tiến sĩ giáo sư đại học” VN, khiến cho thi hào Nguyễn Du bị hàm oan: Từ chính mình là tác giả, lại bị vu oan trở thành kẻ “đạo”, “chôm” dàn bài và cốt truyện của người nước khác.
Xin nói rõ: Đây chỉ là tổng hợp các chứng liệu “khả thi” từ các nguồn của Laiquangnam, Lê Nghị, và các “học thật” như Nguyễn Huệ Chi, Phạm Tú Châu, Hoàng Văn Lâu v.v…  những người có tâm huyết bảo vệ quê hương VN chống lại sự xâm lược văn hoá của “Ai đó”; tôi chỉ là người bỏ công, biên tập lại cho thành hệ thống rõ ràng để các bạn dễ nắm bắt.

Phần 1
VỤ ÁN ĐẠO VĂN

VỤ ÁN

Trước hết, tôi xin có ý này: Việc Đoạn Trường Tân Thanh / Truyện Kiều được sáng tác trước, thời Tây Sơn hay trong thời Nguyễn không thành vấn đề, vì dù gì tuyệt phẩm này có thật và do thi hào Nguyễn Du sáng tác ra, niềm vinh dự cho Việt Nam. Cái chính là nên xét xem “ngụy thư” Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân China có thật hay không, mà “Ai đó” dựa vào nó để hạ uy tín Nguyễn Du, cho là cụ đã “đạo văn”? Ai đạo ai? Tại sao các tiến sĩ, giáo sư các trường đại học VN không chú ý đến điều này, mà hầu như 99% các ông đều cho là Nguyễn Du “chôm” dàn bài từ ngụy thư Kim Vân Kiều truyện này để viết ra Đoạn Trường Tân Thanh? Các ông còn ra sức “nghiên cứu” các bài viết so sánh, phê bình  Đoạn Trường Tân Thanh với ngụy thư này của các “học giả nước lạ”. Bị “sập bẫy” âm mưu của họ mà không hay, vì các ông vô tình xác nhận ngụy thư Kim Vân Kiều truyện của họ là có thật, rồi truyền điều “ngụy tín” này cho con cháu! Vô tình tự hạ uy tín, gây tủi nhục cho dân tộc VN mình.

Sơ lược vụ án
Xin sơ lược vụ án như sau:

— Dựa vào cốt truyện tầm thường Vương Thúy Kiều trong Phong Tình Lục – Phong Tình Lục là một mục trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào (1650-1707), trong đó có bài Vương Thuý Kiều của Dư Hoài (1616-1696) dài khoảng 3 trang giấy – chỉ 3 nhân vật thời Minh, Thúy Kiều – Từ Hải – Hồ Tôn Hiến, thi hào Nguyễn Du (1766- 1820) chèn thêm vào các nhân vật đệm, đã sáng tạo ra một áng văn chương bất hủ: Đoạn Trường Tân Thanh. Vua Minh Mạng triệu tập một nhóm văn thi nhân – có khả năng chủ yếu là các của các vị quan Viện Hàn lâm – gọi là Thanh Tâm tài tử biên soạn các bài giảng Truyện Kiều, dưới nhiều dạng thơ, văn chữ Hán, chữ Nôm để diễn giảng thơ Kiều. (Xem hìnhTổng thuyết của vua Minh Mạng 1830 ở dưới).

Trong một bài viết của cụ Vũ Quốc Thúc công bố tại Pháp năm 2006, có đề cập đến những tác phẩm của Minh Mạng và Tự Đức liên quan đến Truyện Kiều mà cụ thân sinh của cụ Thúc còn lưu giữ:

[… khi Minh Mạng mới lên ngôi (1820) vua ra lệnh biên soạn những bài thơ xướng và họa bằng chữ Hán dựa theo từng hồi của Kim Vân Kiều truyện, do Phụ chính đại thần Hà Tôn Quyền chủ xướng. Đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đích thân nhà vua viết một bài Tổng thuyết cho thi tập, cũng bằng chữ Hán.
Vào năm 1871, vua Tự Đức chủ xướng, đích thân nhà vua làm các bài thơ xướng cho mỗi hồi và viết lời tựa (Tổng từ) chung cho thi tập.
Những bản chép tay thời vua Minh Mạng mang tên “Thanh Tâm tài tử cổ kim minh lương đề tập biên” (Các bài của các tài tử vô tư xưa viết, nay nhân vua sáng tôi hiền tập hợp lại) hiện cũng được lưu giữ tại Thư viện quốc gia Hà Nội, ký hiệu VNV 240….]
    (Xem hìnhTổng thuyết của vua Minh Mạng 1830 ở dưới)

Thi hào Nguyễn Du chỉ mượn tên nhân vật ở tích tuyện trong Phong Tình Lục của Trung Hoa để sáng tác ra Truyện Kiều. Truyện Kiểu này  đương thời nhiều người cũng đã đọc, trong đó có tiến sĩ sư biểu Bắc Hà Phạm Quý Thích và Tú Tài Giám Sinh Quốc Tử Giám Huế Nguyễn Đăng Tuyển . Hai người này đã cùng đề tựa bản Đoạn Trường Tân Thanh năm 1820, năm Nguyễn Du mất.
- Năm 1884, Trương Minh Ký đã tập hợp các bài diễn giảng thơ Truyện Kiều bằng văn xuôi nói trên, chuyển thành truyện Kim Vân Kiều dày 478 trang, đề tên là Thanh Tâm Tài Tử, rồi đệ trình, bản viết tay, cho Abel des Michels, nhà Đông Phương ngữ người Pháp.
Thấy Truyện Kiều của Việt Nam quá nổi tiếng, được coi là “viên ngọc sáng” của văn học phương Đông, các ông “bạn vàng phương Bắc” “nóng mặt”, muốn hạ uy tín Nguyễn Du, muốn biến tác giả thành kẻ “đạo văn”, cho rằng Nguyễn Du đã viết  Đoạn Trường Tân Thanh dựa trên nền tảng, dàn bài có sẵn từ quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên China, hay nói rõ ra là Nguyễn Du chỉ dịch văn xuôi tiểu thuyết Kim Vân Kiều của China này ra văn vần để tạo ra Đoạn Trường Tân Thanh. Họ “chóp” lấy bản truyện Kim Vân Kiều của Trương Minh Ký 1884, chỉnh ngắn lại tạo ra “ngụy thư”- sửa đổi chữ “Tử” của bản Trương Minh Ký thành chữ “Nhân” – cho là của Thanh Tâm Tài Nhân, rồi ngụy tạo khắc ra mộc bản, công bố các bài viết nhằm hạ uy tín thi hào Nguyễn Du khắp nơi.
Rất nhiều các ông “tiến sĩ giáo sư đại học” VN ta – vô tình hay cố ý?- tiếp tay hổ trợ “thiên triều”.

     @.Vài ý kiến của tôi:

– Nếu các ông “bạn vàng phương Bắc” này và các ông tiến sĩ, giáo sư VN nói thi hào Nguyễn Du mượn tích Vương Thúy Kiều thời Minh của China để viết ra Truyện Kiều thì tôi không nói; cái này họ nói là Nguyễn Du “dịch” từ văn xuôi truyện tiểu thuyết Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, tác giả China có sẵn ra văn vần thành truyện thơ Đoạn Trường Tân Thanh nên chúng tôi bắt buộc phải lên tiếng.

– William Shakespeare (1564-1616) là nhà viết kịch và nhà thơ bậc nhất của Vương quốc Anh (Kingdom of England), đã phỏng theo câu chuyện cổ Đan Mạch (Denmark), viết ra vở: “Bi kịch Hamlet, Hoàng tử Đan Mạch” (Tragedy of Hamlet, Prince of Denmark), khoảng 1601 và được công diễn vào 1602. Cũng dựa trên một cốt truyện có sẵn từng xảy ra ở Ý (Italy) thời Trung Cổ, Shakespeare viết vở: “Romeo và Juliet” vào khoảng 1594 – 1595, sao không ai bảo ông là “đạo văn” ? mà còn xem ông là một trong những nhà viết kịch nổi tiếng nhất thế giới?

Mưu mô hạ uy tín
Đây là vụ án ngược ngạo, đầy “ý đồ” do “Ai đó” chủ mưu, nhằm hạ uy tín đại thi hào Nguyễn Du, người đã được Đại Hội đồng UNESCO biểu quyết vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới. Cũng như họ “hậm hực” về việc Việt Nam “thoát Trung”, ganh VN thành công về mặt văn tự: Chữ viết La tinh hóa – chữ quốc ngữ –  nên đã “châm biếm” như sau:

( Một học giả rất nổi tiếng của Trung quốc hiện đại là “Quý Tiễn Lâm (季羡林 Ji Xian-lin, 1911-2009), người được dư luận chính thống nước này tôn vinh là “Quốc học đại sư”, “Học giới Thái đẩu” (Siêu sao trong giới học thuật), “Quốc bảo” (Báu vật của nước nhà) vân vân, viết rằng “chữ viết của người Việt Nam sau khi được La tinh hóa, đầu đội mũ, chân đi giầy, rất nực cười,” ( 之后,头戴帽子,脚穿鞋子,很滑稽.
[Việt Nam văn tự bính âm hóa chi hậu, đầu đái mạo tử, cước xuyên hài tử, ngận hoạt kê] )

Họ đã bị Ts Nguyễn Hải Hoành của chúng ta “kê họng”:

[Tiếng Việt có 6 thanh (Phù bình thanh – không dấu, Phù khứ thanh –dấu sắc, Phù thượng thanh – dấu ngã, Trầm bình thanh – dấu huyền, Trầm thượng thanh – dấu hỏi, và Trầm nhập thanh – dấu nặng), nên phải dùng 5 ký hiệu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng để phân biệt thanh điệu. Tiếng Trung quốc (chỉ có 4 thanh: âm bình thanh, dương bình thanh, thướng thanh, và khứ thanh) không có thanh “trầm nhập” như tiếng Việt nên chữ “bính âm” (pinyin) của họ không mang dấu “nặng”, tức là họ có đội mũ mà không mang giầy, giống như anh chàng nhà quê đội mão mà không mang hia, hoặc như Táo quân mặc áo mà không mặc quần chớ gì mà cười tiếng Việt!] [Chữ Quốc Ngữ và Hội Chứng Nhảy Cừu – Thiếu Khanh/Sao lại nói chữ quốc ngữ VN ‘rất nực cười’? – Nguyễn Hải Hoành] [2]

Điều đáng buồn là, trong vụ án đầy âm mưu này có nhiều ông “tiến sĩ giáo sư” VN  “nối tay” cho họ, không biết vô tình hay cố ý, như đã nói trên.

3.Vinh danh Nguyễn Du và âm mưu xóa tên Truyện Kiều

Truyện Kiều, là tên gọi phổ biến của tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh của đại thi hào Nguyễn Du. Tác phẩm này đã đưa Nguyễn Du lên hàng danh nhân văn hoá thế giới. Tổ chức UNESCO họp ở Paris nhất trí thông qua Nghị quyết số 192 EX/32 trình Đại Hội đồng UNESCO biểu quyết vinh danh đại thi hào Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới đầu tháng 11/2013.

[ … Ngay sau khi ra đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi. Hai bản in xưa nhất hiện còn là bản của Liễu Văn Đường (1871) và bản của Duy Minh Thị (1872), đều ở thời vua Tự Đức. Triều Nguyễn đã cho khắc in vào khoảng từ năm 1820 đến năm 1825. Các bản Kinh (kinh đô) thường được chép tay, các bản Phường (xã phường) được khắc in.

Bốn ấn bản về Đoạn Trường Tân Thanh – tên ban đầu là do cụ Nguyễn Du đặt, về sau dân gian quen gọi là Truyện Kiều – nó tuyệt đối không phải là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử, truyện bình giảng thơ Truyện Kiều của Trương Minh Ký 1884, cũng như không phải “nguỵ thư” Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân China- sao lại từ bản Trương Minh Ký nói trên. Xin cảnh giác với ý đồ muốn xóa bỏ Đoạn Trường Tân Thanh, quốc thi Việt Nam của China.

Thời điểm 1884 là lúc mà ngụy thư chính thức xuất hiện tại VN do Trương Minh Ký trình nạp cho Abel des Michels, nhà Đông Phương Ngữ người Pháp – người đầu tiên dịch Đoạn Trường Tân Thanh từ Việt ngữ sang Pháp ngữ.

Giới làm văn học China càng “nóng mặt” khi hay tổ chức UNESCO đang biểu quyết vinh danh đại thi hào Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới; họ tìm cách loại bỏ tên chính thức danh tác của Nguyễn Du là Đoạn Trường Tân Thanh và thay vào đó là tên Kim Vân Kiều do Thanh Tâm Tài Nhân viết, bằng cách phát tán những bài viết có “ý đồ” trên các diễn đàn trong nước và cả thế giới, đem bình luận, so sánh thi phẩm Đoạn Trường Tân Thanh với truyện “ma” Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân China, làm như nó là có thật. Trong chuyện “nhập nhằng” này còn có sự hỗ trợ của các giáo sư tiến sĩ người Việt hiện nay đang giảng dạy tại các đại học VN. Các bài viết ngày càng nhan nhãn trên mạng nhằm hạ thấp uy tín Nguyễn Du, song song với các bài xâm lược văn hoá, ca ngợi lúc thì Khổng học, lúc Nho học.

Nhiều người ngây thơ đem ra “nghiên cứu”, chẳng những phí thời gian mà vô tình nhiễm độc Hán hoá.

“Người nước lạ” từng bước muốn xoá tên Đoạn Trường Tân Thanh- Truyện Kiều, thay bằng Kim Vân Kiều truyện, muốn hạ gục Tượng đài văn hoá Nguyễn Du của VN. Họ đã ranh ma, đầu tư cho sự xâm lược văn hoá song song với xâm lược lãnh thổ, lãnh hải. Bây giờ mà lặng thinh thì thế hệ sau sẽ xem Nguyễn Du là học trò của Thanh Tâm Tài Nhân nào đó bên China!…]
                                           [Viết theo tư liệu Lê Nghị] [3]

VỀ CÁC NHÂN VẬT LIÊN HỆ ĐẾN VỤ ÁN

Sau đây là danh sách các ông học giả, tiến sĩ, phó TS giáo sư trong và ngoài có liên hệ đến vụ án “đạo văn”:

* Trương Minh Ký
Bắt đầu từ ông Trương Minh Ký:

Năm 1884 Kim Vân Kiều, của Thanh Tâm Tài Tử chính thức xuất hiện tại VN do Trương Minh Ký (không phải Trương Vĩnh Ký, người chuyển ngữ danh tác Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ) trình nạp cho Abel des Michels – nhà Đông Phương Ngữ người Pháp, người đầu tiên dịch Đoạn Trường Tân Thanh từ Việt ngữ sang Pháp ngữ. Cuốn Kim Vân Kiều, viết tay đệ trình này, như đã nói thật ra chỉ là cuốn văn bình giảng thơ Truyện Kiều của Nguyễn Du của nhóm người -Thanh Tâm tài tử – mà vua Minh Mạng tập hợp. Trong bài Tổng thuyết của vua Minh Mạng 1830 có ghi rõ là Thanh Tâm Tài Tử

         
            (Hình bài Tổng thuyết của vua Minh Mạng 1830)

Abel des Michels là người qua Nam VN năm 1884, theo lời mời của toàn quyền Nam bộ. Lúc này học giả Trương Vĩnh Ký đang bắt đầu chuyển danh tác Đoạn Trường Tân Thanh từ thơ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ.

Ông Trương Minh Ký tắc trách ở chỗ không ghi rõ nguồn truyện là từ thơ Nguyễn Du và khi sóng gió nổi lên thì ông im tiếng.

Trương Minh Ký là ai?

Trương Minh Ký là học giả, ông cố Trương Minh Thành và ông nội chú Trương Minh Giảng từng là tổng tài quốc sử quán, nên Trương Minh Ký có một bản chép tay cuốn sách văn xuôi diễn giảng thơ Kiều trên là điều dễ hiểu.

* Nguyễn Duy Ngung
Từ khi Nguyễn Du qua đời năm 1820 cho đến cuối năm 1924, không thấy ai nhắc tới tên Thanh Tâm Tài Nhân. Thanh Tâm Tài Nhân, cho là tác giả cuốn Kim Vân Kiều truyện chỉ xuất hiện năm 1925 do Nguyễn Duy Ngung dịch từ văn bản Kim Vân Kiều, vốn ghi tên là Thanh Tâm Tài Tử nói trên.
Nguyễn Duy Ngung dịch Kim Vân Kiều lần đầu năm 1925, tự động đổi tên từ Thanh Tâm Tài Tử sang thành Thanh Tâm Tài Nhân – Đổi chữ Tử   thành chữ Nhân . Tên Thanh Tâm Tài Nhân xuất hiện lần đầu ở bản dịch này, trong đây còn có thêm “lời bình” của Kim Thánh Thán cuối hồi. Đồng thời ông Nguyễn Duy Ngung còn đưa thêm 20 bài thơ vịnh Kiều của Chu Mạnh Trình lên đầu 20 hồi, xem như từ nguyên bản. Đây là một việc làm tắc trách, mang tính thương mại, khiến cho nhiều thế hệ hiểu lầm. Chúng ta sẽ gặp lại Nguyễn Duy Ngung và “lời bình” thật/hư của Kim Thánh Thán ở phần 2 bài viết.

       
     (Hình sách KVK -Thanh Tâm Tài Nhân – Nguyễn Duy Ngung)

* Học giả Trần Trọng Kim
Trần Trọng Kim (1883 – 1953) là một nhà giáo dục, nhà nghiên cứu sử học, văn học, tôn giáo Việt Nam, bút hiệu Lệ Thần. Ông từng làm thủ tướng của chính phủ Việt Nam vào năm 1945 (chính phủ này được Đế quốc Nhật Bản thành lập trong thời kỳ chiếm đóng Việt Nam) và là tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử, văn hóa như Việt Nam sử lược, Việt Nam văn phạm, Nho giáo.
Trần Trọng Kim cùng Phó bảng Bùi Kỷ hiệu đính, chú thích truyện Kiều từ bản chữ nôm và cho ra cuốn hiệu khảo Truyện Thúy Kiều (1925).
Trong cuốn sách này, hai ông cho Nguyễn Du đã “dịch” Truyện Kiều từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân:
“Tiên sinh dịch nhưng chỉ chọn lấy những đoạn cốt tử mà thôi, còn thì tiên sinh đã thay đổi đi và bỏ bớt đi nhiều chỗ rườm rà thô tục, hoặc những chỗ gớm ghê, dơ bẩn như đoạn Tú Bà dạy Thúy Kiều và đoạn báo ân báo oán là tiên sinh chỉ nói lược qua mà thôi. Cho nên so quyển truyện Thúy Kiều với bộ tiểu thuyết Tàu thì quyển sách của tiên sinh thanh nhã và có văn vẻ hơn nhiều lắm.
[Truyện Thúy Kiều – Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ hiệu khảo]

@. Ý kiến của tôi:

Sao không nói trường hợp ngược lại: “Ai đó” đã thay đổi đi và thêm vào nhiều chỗ rườm rà thô tục, hoặc những chỗ gớm ghê, dơ bẩn như đoạn Tú Bà dạy Thúy Kiều và đoạn báo ân báo oán khi dịch Truyện Kiều Nguyễn Du, thông qua bản Trương Minh Ký 1884 ra Kim Vân Kiều truyện Thanh Tâm Tài Nhân. Sẽ gặp lại điều này ở mục TS Trần Đình Sử bên dưới.

* Học giả Dương Quảng Hàm
Dương Quảng Hàm (1898 – 1946), là nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo dục Việt Nam. Trong hơn 20 năm (1920-1945), ông đã làm việc không mệt mỏi, vừa giảng dạy, vừa viết sách giáo khoa văn học và sử học cho nhà trường từ bậc tiểu học đến bậc trung học, vừa bằng tiếng Pháp vừa bằng tiếng Việt. Hai cuốn sách có giá trị nghiên cứu nhất của ông là “Việt Nam văn học sử yếu” (1941), “Việt Nam thi văn hợp tuyển” (1942). Riêng “Việt Nam văn học sử yếu”, do ông dày công biên soạn, được xem là cuốn văn học sử phổ thông bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Nó đã được Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa chính thức dùng làm sách giáo khoa chương trình lớp Đệ Tam (tức là lớp 10) trong nhiều năm liền.

Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu” cho rằng Truyện Kiều nước ta đã xuất phát từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân. Trong bài Nguồn gốc truyện Kiều ông viết:
[Tác giả – Nguyễn Du – trong đoạn mở bài (câu 7 – 8) đã viết :

Kiều thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.

Vậy tác giả đã được xem một cuốn sách của Tàu rồi nhân đấy mà viết ra truyện Kiều. Nhưng bốn chữ “phong tình cổ lục” chỉ có nghĩa là một câu chuyện phong tình xưa, tức là một cái phổ thông danh từ, chứ không phải là nhan đề riêng một cuốn sách. Vậy sách ấy chính nhan đề là gì và do ai làm ra?

Lâu nay, ở nước ta, vẫn có một bản truyện Kiều chữ Hán chép tay (4) nhan đề là Kim Vân Kiều truyện mà các học giả vẫn cho là một cuốn tiểu thuyết Tàu do đấy Nguyễn Du đã soạn ra cuốn truyện nôm.

Gần đây, chúng tôi lại được xem một cuốn sách nội dung giống như cuốn trên này, nhưng là một cuốn sách in (mộc bản) ở bên Tàu (5). Sách gồm có 4 quyển và chia làm 20 hồi . Ở đầu mỗi quyển , có đề : …(6) – (Quán hoa đường bình luận Kim Vân Kiều truyện , quyển chi .. (6) – Thánh thán ngoại thư – Thanh tâm tài nhân (7) biên thứ )

Khi ta so sánh nguyên văn quyển Kim Vân Kiều truyện này với nguyên văn truyện Kiều của Nguyễn Du thì ta thấy rằng đại cương tình tiết hai quyển giống nhau : các việc chính, các vai nói đến trong truyện Kiều đều có cả trong cuốn tiểu thuyết Tàu.

Sự so sánh ấy lại tỏ rõ rằng Nguyễn Du không phải chỉ dịch văn xuôi của Tàu ra văn vần của ta mà thôi. Tác phẩm của ông thật có phần sáng tạo đặc sắc: ông sắp đặt nhiều việc một cách khác để cho hợp lý hơn hoặc để tránh sự trùng điệp; ông thay đổi nhiều điều tiểu tiết để tả cảnh ngộ hoặc tình hình các vai trong truyện một cách rõ rệt hơn; ông lại bỏ đi nhiều chỗ thô tục (như đoạn kể rõ “vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề ” ) và nhiều đoạn rườm, thừa, không bổ ích cho sự kết cấu câu chuyện.

Vậy nguồn gốc truyện Kiều của Nguyễn Du là quyển tiểu thuyết Tàu nhan đề là Kim Vân Kiều.

Truyện do một tác giả hiệu là Thanh Tâm tài nhân soạn ra về cuối thế kỷ thứ XVI hoặc đầu thế kỷ thứ XVII (8) và do một nhà phê bình có tiếng là Kim Thánh Thán (9) bình luận (10)

………

     Chú giải của Dương Quảng Hàm:

(4) Ở PQVĐHV. Thv., hiện có một bản truyện Kiều chữ Hán chép tay ấy (A 953), Sách gồm có 4 quyển và chia làm 20 hồi. Đầu quyển thứ nhất (tờ 5a). Đầu quyển sau, cũng đề y như thế, chỉ khác số quyển đổi đi – Bản Kiều chữ Hán này ông Hùng sơn Nguyễn Duy Ngung đã dịch ra quốc văn nhan đề là Kim Vân Kiều tiểu thuyết Tân dân thư quán x. b. Hà nội, 1928.

(7) Chữ nhân này trong nhiều bản chép tay, viết sai ra chữ tử. Bốn chữ “Thanh tâm tài nhân” ý hẳn là hiệu của tác giả theo như thói thường của các văn sĩ Tàu và hay ký tác phẩm bằng hiệu.

(8) Tuy là không biết tác giả tên thực là gì và sống về đời nào nhưng các việc kể trong tiểu thuyết đều thuộc về đời Gia tĩnh nhà Minh tức là tự năm 1522 đến năm 1566, mà sách ấy lại do Kim Thánh Thán sống tự năm 1627 đến năm 1662 phê bình (xem lời chú dưới), vậy theo đấy ta có thể biết được rằng sách ấy làm vào khoảng cuối thế kỷ thứ XXI hoặc đầu thế kỷ thứ XVII.

(9) Kim Thánh Thán (1627 -1662): người cuối đời Minh, vốn họ Trương tên Thái, sau đổi họ Kim, tên Vị , tự Thánh Thán người cuồng ngạo, có kỳ khí, có phê bình nhiều sách như Thủy Hử, Tây Sương Ký. Đến đời nhà Thanh, bị án chết, thọ 35 tuổi.

(10) Sở dĩ biết rằng sách ấy do Thánh Thán phê bình, vì như trên đã nói, ở đầu mỗi quyển có đề: “Thánh thán ngoại thư ” là những chữ ta thường thấy để ở đầu các sách do ông đã học và phê bình (thí dụ trên đầu bộ Tam quốc diễn nghĩa); vả chăng ta lại thấy đề mấy chữ “Quán hoa đường bình luận ”, mà Quán hoa đường tức là tên thư viện của Thánh thán… ]

[Chương thứ mười tám: Truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du, THIÊN THỨ NĂM- THỜI KỲ CẬN KIM – Năm thứ nhì ban Trung học Việt Nam, tr 165, 166 – Việt Nam Văn Học Sử Yếu – Bộ Giáo Dục Trung Tâm Học Liệu Xuất Bản 1968]

            
             (Hình sách Việt Nam Văn Học Sử Yếu – DQH)

     @ Nhận xét của tôi:

Về “Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh” ông Dương Quảng Hàm nói: “bốn chữ “ phong tình cổ lục ” chỉ có nghĩa là một câu chuyện phong tình xưa, tức là một cái phổ thông danh từ, chứ không phải là nhan đề riêng một cuốn sách. Vậy sách ấy chính nhan đề là gì và do ai làm ra?”
Theo tôi tìm hiểu:
“Tiên Phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển (1795-1880) người Bắc Ninh là quan văn nổi tiếng đương thời với Nguyễn Du (1766 – 1820), nhỏ hơn Nguyễn Du 29 tuổi. Ông viết bài tựa đề đầu tiên cho bản in Đoạn Trường Tân Thanh năm 1820, ngay trong năm Nguyễn Du mất. Bài của Mộng Liên Đình đã giải thích cặn kẽ nhan đề tác phẩm là Đoạn Trường Tân Thanh: Giải thích nghĩa và vì sao chọn nhan đề như vậy.  Xuất xứ tác phẩm như Nguyễn Du đã viết:

Phong tình có lục còn truyền sử xanh.

Phong Tình Lục là một mục trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào (1650 -1707), trong đó có bài Vương Thuý Kiều của Dư Hoài (1616 -1696), ngắn khoảng 3 trang giấy và không có gì đặc sắc”

Có sự lầm lẫn giữa “cổ lục” và “có lục”

Cụm từ “phong tình cổ lục” làm cho câu thơ có vẻ trang trọng, nhưng có thể dẫn tới hiểu lầm như ông Dương Quảng Hàm đã hiểu: Truyện tình cảm nam nữ trong sách xưa. Một cụm từ phổ biến. Nhưng các bản chữ nôm đều viết “Phong tình có lục”. Bản của Trương Vĩnh Ký dịch lại là “có lúc”, có lẽ thợ in sắp nhằm chữ lục vì trong bản nôm viết lục.
Chữ cổ khác với chữ có.

Khi viết “phong tình có lục” thì nghĩa khác: Phong tình có sách. Đây mới là câu của Nguyễn Du hiệu đính bởi Kiều Oánh Mậu 1902.

Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ 1925 hiệu đính cuốn Kiều Oánh Mậu lại dịch chữ “có” thành  “cổ”, chắc có thể các ông nghĩ hợp nét trang trọng với vế sau: “còn truyền sử xanh”: Một sai lầm đáng tiếc. Vì thế Dương Quảng Hàm mới hiểu như trên
                                                    [Tư liệu của Lê Nghị]

  
           
           (Hình Truyện Kiều bản Kiều Oánh Mậu 1092)

[Cụm chữ chính giữa, cạnh phải: Từ dưới lên, chữ CÓ thứ 6 hàng thứ 2 (từ trái đếm qua)]

* Kiều Oánh Mậu là ai?

Kiều Oánh Mậu sinh năm Giáp Dần (1854) tại xã Đông Sàng, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Cha ông là Cử nhân Kiều Thắng. Năm Kỷ Mão (1879), ông thi đỗ Cử nhân, đến năm sau (Canh Thìn, 1880), thi đỗ Phó bảng dưới triều Tự Đức.

Buổi đầu, ông được bổ làm Tri phủ, ít lâu sau bị giáng làm Tri huyện. Sau khi trấn nhậm nhiều nơi, ông từ quan ra giúp việc tại tòa soạn báo Đồng Văn ở Hà Nội.

Năm Nhâm Tý (1912), Kiều Oánh Mậu mất lúc 58 tuổi.

Kiều Oánh Mậu là nhân chứng lịch sử, nhà nghiên cứu nhà văn học sử độc lập. Khác với nhiều quan chức triều Nguyễn, ông là người ghi chép lại những cuộc khởi nghĩa chống nhà Nguyễn. Bản triều bạn nghịch liệt truyện gồm: Một số cuộc nổi dậy chống nhà Nguyễn (Phan Bá Vành, Lê Văn Khôi, Cai Vàng, Cao Bá Quát,…), một số cuộc Cần Vương chống thực dân Pháp (Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Ngô Quang Huy… ) và một số cuộc đàn áp nghĩa quân của Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân,…

Ngoài ra, ông còn đề tựa sách Tang thương ngẫu lục (Ghi chép tình cờ trong cuộc bể dâu) của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, duyệt lại sách Bút toán chỉ nam (sách hướng dẫn phương pháp dùng bút tính toán).

Kiều Oánh Mậu hiệu đính Truyện Kiều của Nguyễn Du rồi xuất bản với tên Đoạn Trường Tân Thanh. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân thì chỉ với bản hiệu đính này, ông đáng được xem là nhà khảo chứng văn bản học có uy tín nhất trong văn học cận đại Việt Nam.
                                                           (Theo Wikipedia)

“Khi ta so sánh nguyên văn quyển Kim Vân Kiều truyện này với nguyên văn truyện Kiều của Nguyễn Du thì ta thấy rằng đại cương tình tiết hai quyển giống nhau : các việc chính , các vai nói đến trong truyện Kiều đều có cả trong cuốn tiểu thuyết Tàu. Sự so sánh ấy lại tỏ rõ rằng Nguyễn Du không phải chỉ dịch văn xuôi của Tàu ra văn vần của ta mà thôi…” - Dương Quảng Hàm
Thấy của VN giống của Tàu là cho “chôm” từ Tàu? Vậy là tất cả cái gì của ta giống đều là từ Tàu? Tại sao ông Dương Quảng Hàm cả quyết là cụ Nguyễn Du “dịch văn xuôi của Tàu ra văn vần của ta” ? Sao không nói ngược lại: Tàu đã dịch truyện thơ Kiều ra văn xuôi thành Kim Vân Kiều Truyện rồi gán ghép cho ông Thanh Tâm Tài Nhân nào đó?

Ở phần chú giải (7) ông Dương Quảng Hàm nói: “Chữ nhân này trong nhiều bản chép tay, viết sai ra chữ tử . Bốn chữ ‘Thanh tâm tài nhân’ ý hẳn là hiệu của tác giả theo như thói thường của các văn sĩ Tàu và hay ký tác phẩm bằng hiệu”

Xin có ý kiến:
Sao ông Dương Quảng Hàm cả quyết như vậy?
Chữ nhân: làm sao viết sai ra chữ tử: (Nhà thầy, đàn ông nào có đức hạnh học vấn đều gọi là tử). Bản viết tay, bản Kinh, tổng hợp các bài văn xuôi bình giảng truyện thơ Kiều dâng nạp vua Minh Mạng năm 1830 để nhuận sắc, viết Tổng thuyết có ghi rõ là Thanh Tâm Tài Tử  (xem ảnh bài Tổng thuyết của vua Minh Mạng 1830 trên ). Ai dám viết sai để mang hoạ vào thân?

 * Về Tài nhân và Nhân tài
Xin được ghi ra đây vài hàng của Lê Nghị:
[Trong từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, ông định nghĩa tài nhân đồng nghĩa với tài tử và cùng nghĩa là người có tài. Nhưng ông không chỉ ra câu ví dụ và ai đã dùng.
Trong từ điển Hán Nôm hiện nay: Tài nhân là người hầu. Họ chỉ ra cổ thi và nhiều tác giả dùng với nghĩa như thế.
Trong Hồng Lâu Mộng: người mua về được gọi là gia nô, nếu được chủ thương nâng thành gia nhân, gia nhân được chủ thương được nâng thành tài nhân cho hầu bên cạnh. Tất nhiên cấp cao hơn thì có quyền lợi lớn hơn. Tài Nhân thường mặc áo xanh. Kiều 2 lần làm người hầu, 2 lần làm Kỹ nữ nên có câu trong truyện Kiều nói về nàng:
Thanh y hai lượt thanh lâu hai lần.
Tài nhân khác nhân tài, cách dùng trong Bình Ngô Đại Cáo : 人才 chứ không phải 才人。
Nhân tài là nhân tài, tài nhân là tài nhân

(Bình Ngô đại cáo)
奈以:
人才秋葉,
俊傑晨星。
Nại dĩ:
Nhân tài thu diệp,
Tuấn kiệt thần tinh.
.
Nhân tài lá mùa thu
Tuấn kiệt sao buổi sáng

Hoàng phủ Phương
古意
承恩憐故亦憐新,
落葉隨風笑此身。
陌上相逢廝養婦,
宮中曾是舊才人。

Cổ ý
Thừa ân liên cố diệc liên tân,
Lạc diệp tuỳ phong tiếu thử thân.
Mạch thượng tương phùng tư dưỡng phụ,
Cung trung tằng thị cựu tài nhân.
.
Tiếc thương mới cũ ân thừa,
Thân nầy lá rụng gió đưa xa vườn.
Gặp người kiếm củi trên đường,
Tài nhân một thuở sắc hương cung đình.]
                                [Ý kiến của Lê Nghị]

Vậy: “Bốn chữ ‘Thanh tâm tài nhân’ ý hẳn là hiệu của tác giả theo như thói thường của các văn sĩ Tàu và hay ký tác phẩm bằng hiệu” của ông Dương Quảng Hàm là từ đâu ra?

Và đến nay, vẫn không có tài liệu nào khẳng định Thanh Tâm Tài Nhân là ai vì đây chỉ là bút hiệu xưng mình là “khách đa tình” (chữ Thanh ghép với bộ Tâm thành chữ Tình).

Còn về “sách do một nhà phê bình có tiếng là Kim Thánh Thán bình luận” chúng ta cũng sẽ gặp lại và bàn luận rõ về điều này ở phần 2 bài viết.


              
(Hình chụp bìa lưu tại Paris: Kim Vân Kiều – Thanh Tâm Tài Tử – quyển 1)

Đây là bản chụp bìa lưu tại Paris: Kim Vân Kiều – Thanh Tâm Tài Tử- quyển 1

Cuốn Kim Vân Kiều, 478 trang, bảo quản tại Paris, được sao chép bởi Đại học Yale, tựa đề ký tên Thanh Tâm Tài Tử (4 chữ nhỏ ở giửa). Ai đã đổi chữ Tử thành chữ Nhân?

* Học giả Đào Duy Anh
Đào Duy Anh (1904 –  1988) là nhà sử học, địa lý, từ điển học, ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hóa, tôn giáo, văn học dân gian nổi tiếng của Việt Nam. Ông được xem là người mở đầu cho nhiều ngành khoa học xã hội Việt Nam.

Xin ghi nhận điều này:

Năm 1925, Nguyễn Duy Ngung tung bản dịch phóng tác, thì vào năm 1926 tại Thượng Hải, một người Tàu khác viết Tổng Tập Văn Học Cổ Trung Hoa ghi tên văn bản “Kim Vân Kiều truyện do Thanh Tâm Tài Nhân viết”, với lời bàn của Kim Thánh Thán vào trong bảng kê của mình. Tiếp theo đó tại VN, ông  Đào Duy Anh lấy nó và một tổng tập khác, do một người Tàu khác tại Bắc Kinh tung ra vào năm 1935, để làm điểm tựa khi viết tập Nguồn Gốc Truyện Kiều vào năm 1941.

Trong  sách Khảo Luận Về Kim Vân Kiều, học giả Đào Duy Anh có viết:

 “Ấy sự tích Vương Thúy Kiều đã trải qua ngòi bút của Thanh Tâm Tài Nhân mà thành như thế mới có thể cảm xúc Nguyễn Du được. Vì cảm xúc quá mãnh liệt mà Nguyễn Du phải đem sách ấy diễn ra quốc âm, để hả hê mối cảm đồng tình đối với một người mà ông tưởng như là tiền thân của ông vậy”

“Ta đã thấy rằng Nguyễn Du đem sách Kim Vân Kiều truyện phiên dịch ra quốc văn thành sách Đoạn trường tân thanh”

[Khảo Luận Về Kim Vân Kiều – Đào Duy Anh. Bản in của Quan hải tùng thư – Huế 1943, tr 338]

         

         

     
(Hình 3 trang sách: Khảo Luận Về Kim Vân Kiều – Đào Duy Anh)

Xin đọc trích đoạn này, có liên hệ đến học giả Đào Duy Anh:

[… Người dịch (Hoàng Dật Cầu – NL) không quản nông cạn kém cỏi, được sự khuyến khích mạnh mẽ của Phòng Nghiên cứu khoa học Học viện chúng tôi, lại được Giáo sư Trần Văn Cáp và Ban Văn Sử Địa Việt Nam và Giáo sư Đào Duy Anh Trường Đại học Việt Nam gửi tặng cho các bản Kim Vân Kiều, cả cũ lẫn mới, cùng nhiều tư liệu mới nhất, giúp cho người dịch được ung dung học tập để cuối cùng vào mùa thu năm ngoái bước đầu dịch toàn bộ.]

(“Lời cuối sách”của Hoàng Dật Cầu, tr. 157,  từ nguồn Nguyễn Huệ Chi).

* Giáo sư Hoàng Dật Cầu – China
Năm 1958, Giáo sư Hoàng Dật Cầu ở Học viện Sư phạm Hoa Nam tại Quảng Châu, trong vai một giáo sư Trung văn sang trợ giúp cho Hà Nội, đã bỏ nhiều công sức để dịch truyện Kim Vân Kiều – Thanh Tâm Tài Nhân Việt Nam sang Trung văn hiện đại. Sách được đưa vào Tùng thư Văn học Á – Phi và do Nhà xuất bản Nhân dân văn học xuất bản tháng 8 năm 1959.

Kể từ khi bản dịch Kim Vân Kiều truyện ra Trung văn lưu hành ở hai nước Trung – Việt, vẫn “sóng im gió lặng” cho tới đầu những năm 60, rồi hầu như “chìm vào quên lãng” trong hai chục năm tiếp theo.

Chuyện bắt đầu xảy ra từ “nhà nghiên cứu” Đổng Văn Thành, China.

* Giáo sư Đổng Văn Thành- China
Năm 1926 – đúng một năm sau ngày Nguyễn Duy Ngung in cuốn Kim Vân Kiều truyện bằng chữ quốc ngữ nói trên, 1925 – China  ghi Thanh Tâm Tài Nhân và Kim Vân Kiều vào sách văn học sử, không chú thích nguồn gốc tác giả và tác phẩm (theo Đào Duy Anh)

Năm 1980, Đổng Văn Thành lục khắp Hoa Lục để mong tìm ra một bản Kim Văn Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng vô vọng.

Năm 1981, Lý Chí Trung công bố rằng ông phát hiện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân tại thư viện đại học Đại Liên China. Sách gồm 208 trang, cũng đủ 20 hồi, nhưng độ dày của sách chỉ dày bằng nửa cuốn 1884 của Trương Minh Ký giao cho Abel des Michel. Năm 1983, Nhà xuất bản Xuân Phong văn nghệ ấn hành tác phẩm này, Đổng văn Thành bắt đầu hạ bệ Nguyễn Du.

Năm 1986, sóng gió bất kỳ bắt đầu nổi lên từ bài viết “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam” của “nhà nghiên cứu” Đổng Văn Thành, gồm phần I và phần II đăng trên Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng, tập 4 (1986) và tập 5 (1987), do Xuân Phong văn nghệ xuất bản. Gần đây, bài viết “công phu” với hai phần trên đã được tác giả Đổng Văn Thành tập hợp trong cuốn Thanh đại văn học luận cảo (tập bài viết bàn về văn học đời Thanh) của ông và do Xuân Phong văn nghệ xuất bản năm 1994. Ông tán tụng Kim Vân Kiều truyện China lên mây và chê Nguyễn Du làm hỏng nguyên bản. Ông ta còn nêu vài dị bản ở Nhật. Ông bị Charles Benoit vạch mặt là gán ghép “tào lao”, vì Benoit kiểm tra tận mắt các bản tại Nhật.

Mời bạn đọc trích đoạn này để biết “miệng lưỡi” của ông “bạn vàng”:

1.

[…Trong công trình nghiên cứu của mình, Đổng Văn Thành đặt câu hỏi “có phải tác giả Trung Quốc Thanh Tâm Tài Nhân, “một kẻ dung tục”, “hết cách cứu chữa” đã chà đạp lên đề tài Vương Thúy Kiều đến nỗi chẳng còn chút giá trị nào, mà phải hoàn toàn dựa vào sự gia công của vị “thiên tài” Nguyễn Du mới biến được cục sắt cứng thành vàng ròng lấp lánh” .

(Đổng Văn Thành, Thanh đại văn học luận cảo, Xuân Phong văn nghệ xuất bản xã, Thẩm Dương, 1994. Phần I: Kim Vân Kiều truyện dữ Trung Quốc tr 76)

Sau khi tiến hành so sánh nhân vật, cốt truyện, chủ đề tư tưởng của hai tác phẩm, tác giả rút ra kết luận rằng: “Trên tổng thể… Truyện Kiều của Nguyễn Du bất kể về nội dung hay nghệ thuật đều không vượt qua được mức độ của bản nền mà nó mô phỏng, tức Truyện Kiều của Trung Quốc”, rằng: “Hiện tượng lạ lùng của Truyện Kiều Trung Quốc bị mai một lâu dài, thậm chí bị dè bỉu, nói lên nhận thức chưa đầy đủ của chúng ta (người Trung Quốc) đối với kho tàng văn học nghệ thuật phong phú do tổ tiên để lại…”]. [Cũng là một kiểu so sánh văn học- Hoàng Văn Lâu] [4]

2.
“Nhìn tổng thể, tôi – tức Đổng Văn Thành – thấy Truyện Kiều của Nguyễn Du bất luận về nội dung hay về nghệ thuật đều không vượt được bản gốc – Truyện Kiều của Trung Quốc – mà nó mô phỏng” (một chỗ khác trong Minh Thanh tiểu thuyết giám thưởng từ điển, Đổng quân còn nói trắng ra rằng Truyện Kiều là “bản dịch” từ Thanh Tâm Tài Nhân như Nguyễn Khắc Phi đã lưu ý)

Ông nói:
 – a. “Nguyễn Du đã in dấu ý thức chủ quan của mình cho một số nhân vật, làm tổn hại sự thống nhất về tính cách của những nhân vật ấy ở mức độ nhất định”;
– b. “Nguyễn Du đã làm sâu thêm quan niệm số mệnh phong kiến”
 – c. “Nguyễn Du còn thêm chân cho rắn khiến chúng mâu thuẫn với hoàn cảnh và tình tiết trong toàn bộ nguyên tác”

[Nguyễn Huệ Chi - Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành] [5]

3.
“Nguyễn Du chẳng những chỉ mượn đề tài của tiểu thuyết Trung Quốc mà dường như bê nguyên xi […] Nguyễn Du không có bất kỳ một sáng tạo mới nào, chỉ chuyển thuật khá trung thực nội dung tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân…”
[“Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” GS. Đổng Văn Thành – Theo Phạm Tú Châu “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”]

  Năm 2008, China đưa tin đã tìm ra bản khắc gỗ Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân. Thật hay giả xin mời các bạn đọc phần 2.

Mời các bạn đọc trích đoạn này:

[Hiện nay có nhiều văn bản Kim Vân Kiều truyện và bản nào cũng ghi là Thanh Tâm Tài Nhân biên thứ. Song khi đọc, ta không khỏi ngạc nhiên, bởi chúng không chỉ khác nhau ở một vài chi tiết mà khác nhau cả về nội dung cũng như cách ngắt hồi. Tựu chung, có hai loại văn bản về Kim Vân Kiều truyện: loại in từ nửa đầu thế kỉ XX trở về trước và loại in từ giữa thế kỉ XX trở lại đây. Loại thứ nhất, về cơ bản chúng giống nhau, sự dị biệt về chữ nghĩa là không đáng kể. Chỉ có điều khác là, bản do Quán Hoa Hiên tàng bản thì không có lời đề tựa cùa một người tên hiệu là Thiên Hoa Tàng chủ nhân, có lời bình luận của Quán Hoa đường; còn bản do Đại Liên đồ thư quán thì ngược lại, không có lời bình của Quán Hoa đường, nhưng lại có lời đề tựa của Thiên Hoa Tàng chủ nhân. Loại thứ hai, chẳng hạn, bản do Đinh Hạ hiệu điểm, hoặc bản do Xuân Phong văn nghệ xuất bản… về cơ bản cũng gồm 20 hồi như các bản Quán Hoa hiên, Đại Liên… nhưng dài hơn, có nhiều chi tiết hơn tạo nên sự hoàn thiện cho tác phẩm, nâng giá trị về nội dung cũng như về nghệ thuật của tác phẩm cao hơn, đặc biệt tạo nên mạch lôgíc gần gũi với lối tư duy của người hiện đại. Hơn nữa, có bản, chẳng hạn bản do Đinh Hạ hiệu điểm, cách ngắt hồi cũng khác với hai bản Quán Hoa Hiên và Đại Liên. Điều này tạo nên sự phức tạp, thậm chí rối loạn khi nghiên cứu – so sánh giữa Đoạn Trường Tân Thanh với Kim Vân Kiều truyện] – [TVE-4U]

Nhận xét:

Bạn thấy Kim Vân Kiều truyện bản nào cũng ghi là Thanh Tâm Tài Nhân rộ nở như nấm mùa mưa ở China phải không các bạn?

Và: “Điều này tạo nên sự phức tạp, thậm chí rối loạn khi nghiên cứu”: Rất đúng ý “ai đó”.

“đặc biệt tạo nên mạch lôgíc gần gũi với lối tư duy của người hiện đại”: Nhờ vậy đến nay tiểu thuyết Kim Vân Kiều mới lấn át danh tác Hồng Lâu Mộng. Nhưng câu hỏi là không biết Thanh Tâm Tài Nhân China hay Thanh Tâm Tài Tử Việt Nam?

     @. Vài ý kiến của tôi:

Các bản này “không khác” lắm bản Nguyễn Duy Ngung 1925.
  Vì lý do gì mà từ lâu văn học sử Trung Hoa không hề nhắc đến Kim Vân Kiều truyện? Nó đã bị thất truyền? Tại sao nó bị thất truyền? Tại sao mãi đến năm 1981 Lý Chí Trung mới phát hiện và in nó ra 1983, khi biết bên VN Truyện Kiều nổi danh? Trước năm 1925 Văn học sử Trung quốc, không có tên Thanh Tâm Tài Nhân và Kim Vân Kiều truyện. Năm 1926 – đúng một năm sau ngày Nguyễn Duy Ngung in cuốn Kim Vân Kiều truyện bằng chữ quốc ngữ nói trên, 1925 – China  ghi Thanh Tâm Tài Nhân và Kim Vân Kiều vào sách văn học sử, không chú thích nguồn gốc tác giả.
Các ông Lý Chí Trung, Đổng Văn Thành và các người theo ông hay China có dám để các nhà khoa học thế giới dùng Đồng vị phóng xạ Carbon –  C* 14 để xác định niên đại mực in, giấy in của bản Kim Vân Kiều Truyện năm 1981 Lý Chí Trung phát hiện không? Và cả toàn bộ các bản khắc gỗ Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân? Thử xem chúng ở thời nào? Mạt Minh sơ Thanh hay là ở thời hiện đại. Chỉ khi nào bản này xuất hiện trước năm 1820, năm thi hào Nguyễn Du mất thì mới là “không ngụy”.

         
      (Hình KVK Thanh Tâm Tài Tử - Nguyễn Đình Diệm)

* Giáo sư Trần Đình Sử
GS.TS Trần Đình Sử sinh năm 1940, tốt nghiệp ĐHSP Hà Nội năm 1961, từng du học Trung Quốc, Liên Xô; từng dạy lý luận văn học ở ĐHSP Vinh, rồi ĐHSP Hà Nội. Ông nguyên là Trưởng khoa Ngữ Văn ĐHSP Hà Nội, nhận danh hiệu Nhà giáo Nhân dân , giải thưởng Nhà nước về nghiên cứu khoa học năm 2000.

Đây là những lời của ông về nguồn gốc truyện Kiều:

Có người nói Truyện Kiều của Nguyễn Du chỉ là diễn nôm một tác phẩm có sẵn của người Trung Quốc, cho nên phần sáng tạo không nhiều. Đúng là Truyện Kiều có vay mượn cốt truyện của cuốn tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của nhà văn Trung Quốc Thanh Tâm Tài nhân viết vào khoảng cuối Minh đầu Thanh, và Nguyễn Du phần nhiều theo sát cốt truyện đó. Chuyện vay mượn cốt truyện nước ngoài trong sáng tạo nghệ thuật là chuyện thường tình trong lịch sử văn học nhân loại, nhất là vào thời trung đại, vấn đề là sáng tạo lại như thế nào. Trước đây không ít người tiến hành so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện chỉ trên cấp độ sự kiện, cốt truyện và rút ra kết luận đáng buồn là Nguyễn Du ít sáng tạo. Nhưng đó là ngộ nhận về nghệ thuật. Trong nghệ thuật cốt truyện tuy quan trọng, song cách kể còn quan trọng hơn. Lí luận văn học hiện đại xác nhận, cùng một cốt truyện mà cách kể khác nhau sẽ cho ta những tác phẩm khác hẳn nhau về tư tưởng và nghệ thuật. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trường hợp tiêu biểu cho lí luận đó. Thực vậy, khi sử dụng cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã hình dung lại con người, từ chân dung đến tính cách, sáng tạo lại hoàn toàn về cách kể và lời kể. Nguyễn Du đã bỏ hình thức tiểu thuyết chương hồi của nguyên tác băng văn xuôi để tạo lại một truyện thơ bằng văn vần, một điều các tác giả trước Nguyễn Du đã làm.
       [Địa vị lịch sử của Nguyễn Du trong văn học VN][7]

Và đây, ông bàn về Sex trong Truyện Kiều:

Sex trong Truyện Kiều là một phần không tách rời của cô Kiều, người con gái bị buộc phải làm nghề thanh lâu trong nhiều năm. Tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân vốn thuộc vào một trong 115 tác phẩm có yếu tố tình dục của tiểu thuyết Trung Quốc. Khi tiếp nhận cốt truyện để sáng tạo lại, Nguyễn Du đã có ý thức tước bỏ nhiều chi tiết tục tỉu trong nguyên truyện, như “vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” khá trắng trợn trong nguyên tác, nhưng vì cuộc đời Kiều như vậy cho nên tính chất, màu sắc sex vẫn bàng bạc trong khá nhiều trang tác phẩm.
                  [Sex trong Truyện Kiều – Trần Đình Sử][8]

     @.  Ý kiến của tôi:

Giáo sư Trần Đình Sử nói: Tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân vốn thuộc vào một trong 115 tác phẩm có yếu tố tình dục của tiểu thuyết Trung Quốc. Khi tiếp nhận cốt truyện để sáng tạo lại, Nguyễn Du đã có ý thức tước bỏ nhiều chi tiết tục tĩu trong nguyên truyện”

Sao ông không nói “ngược lại” cho đúng?: – “Ai đó”đã mưu mẹo, có ý thức  khi kéo dài ra, thêm nhiều chi tiết tục tĩu, phong cách Kim Bình Mai truyện “dâm thư” của họ, cũng như  đoạn báo ân báo oán gớm ghê vào nguyên tác truyện thơ Nguyễn Du, thông qua việc dịch sách của Trương Minh Ký 1884.

Mời đọc đoạn báo ân báo oán  gớm ghê mà “Ai đó” đã thêm vào ngụy thư Kim Vân Kiều tiểu thuyết Thanh Tâm Tài Nhân, không có trong nguyên tác Truyện Kiều của Nguyễn Du:

[…  Phu nhân nói: Bạc bà đẩy người xuống giếng, Bạc Hạnh bán người lương thiện vào nhà xướng ca. Nay theo đúng lời thề trước của Bạc Hạnh, lấy dao vằm nát thân thể, rồi cho ngựa ăn, còn Bạc bà thì đem chặt đầu bêu lên cây. Đao phủ nghe lệnh dạ ran một tiếng, tức thì lôi Bạc bà ra chặt đầu, còn Bạc Hạnh thì dùng chiếu cỏ bó như bó củi, ngoài quấn dây thừng thật chặt, rồi hai người giữ, một người cầm dao (3), chặt từ chân lên đầu thành hơn trăm đoạn. Ghê thay một con người mới đó mà trong giây lát biến thành một đống thịt như bùn, người coi ai cũng hoảng hồn chết ngất. Bọn đao phủ vào bẩm đã thi hành xong, phu nhân truyền đem đống thịt trộn lẫn với cỏ để cho ngựa ăn
Bèn lệnh cho quân sĩ, lôi mụ Tú ra, lấy dầu bách tưới đẫm vào người, rồi dựng ngược cho đầu xuống đất, chân chổng lên trời, như ngọn đèn trời để làm tròn lời thề ngày trước. Còn tên Mã Bất Tiến thì kẹp chân tay vào mảnh gỗ cho thẳng căng ra, rồi rạch da và moi gân khiến cho tứ chi rời rạc, để ứng lời thề của nó. Lại nấu một nồi tùng hương trộn lẫn với vỏ cây gai, đun thật sôi và lấy chum nước lớn để bên, đem Sở Khanh ra, lột hết áo xiêm, một người thì múc dầu tùng hương đun sôi tưới vào mình hắn, một người thì lấy nước lạnh dội theo.Quân sĩ được lệnh lôi ba phạm nhân ra ngoài. Trong chốc lát, mụ Tú đã cuốn thành một cây sáp lớn, phía dưới chỉ lộ cái đầu. Mã Bất Tiến thì bị căng xác. Sở Khanh hóa thành một thỏi sắt nguội.

Đoạn rồi phu nhân hô to: “Đốt sáp”, quân sĩ đứng lên cao châm lửa vào chân mụ Tú. Mụ mới bị châm một mồi lửa đã kêu đau ầm ĩ. Phu nhân mắng rằng: Mi cũng biết đau ư? Cớ sao ngày trước mi nỡ lòng hủy hoại da thịt người khác? Mụ Tú chết ngất, không trả lời được nữa.

Kế đến Phu nhân hạ lệnh rút gân, xẻ thịt Mã Bất Tiến, lại lệnh cho quân sĩ lột da Sở Khanh.

Nghe lệnh, quân sĩ tìm chỗ chùm gân, lấy mũi dao nhọn khoét da, rồi dùng lưỡi câu móc vào đầu gân, dùng sức lôi mạnh một cái. Mã Bất Tiến lập tức chết tươi. Quân sĩ rút thêm ba bốn cái gân nữa làm cho thi thể Bất Tiến rời ra từng mảnh. Phu nhân bèn sai quẳng xác ra biển cho cá ăn để đền tội bạc tình…]
[Trích từ Thanh tâm tài nhân, Kim Vân Kiều truyện, hồi thứ 18: “Vương Thúy Kiều kiếm tru vô nghĩa hán; Từ Minh Sơn kim tặng hữu ân nhân”  Khai phóng văn học; Kim Vân Kiều truyện]

Khiếp chưa cái ác. Nhưng nếu không thêm vào thì nhân bản quá, đâu đúng tiểu thuyết China để kết tội người khác “dịch” sách nước mình.

* Huệ Thiên / An Chi:
Ông ta là một người Chinese 100% học đến vừa hết bằng Brevet, tức đệ tứ của ta, tại một trường tư dạy tiếng Pháp như Bác Ái chả hạn. Sau đó ông ra Bắc tập kết. Hà Nội không dùng và cũng không đì. Sau 75 ông ta quay về Sàigòn sống với mẹ. Năm 1992, ông được Hàn Tấn Quang, là người bỏ tiền ra lập tạp chí Kiến Thức Ngày Nay thuê Anh Đức làm chủ bút, y giao cho giữ mục “Chuyện đông, Chuyện tây” thường xuyên, từ trang 48 đến trang 58 hàng tuần. Do báo chí lề phải trong tay nhà nước, nhiều người dùng tờ này làm nơi gởi bài có tính học thuật trung bình. Năm 2004 do vì hỗn láo với độc giả trong vụ Nguyễn Du – như tôi đã phê phán [*]-  và vì vấn đề tài chánh, Hàn Tấn Quang cho nghỉ việc, ông ta đầu quân cho tờ tuần san Năng Lượng để tiếp tục dổi trá. Ngay ngày nay, tờ báo Thanh Niên nhờ ông làm nhà Từ nguyên học để ông ta tiếp tục đem học thuyết của mình vào ngôn ngữ Việt, “lái” mọi từ tiếng Việt cho rằng đều từ tiếng Hán mà ra.
                                                                   (Laiquangnam)
………
Mời “học giả” An Chi phản biện bài viết này trước khi về “chầu thiên triều”
[*] “Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu.”- Laiquangnam giải mã
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_demdemhanthuc.htm
……….

Đây là lời của báo Thanhnien vn:

Năm 1990, học giả Huệ Thiên An Chi bắt đầu cộng tác với Tạp chí Kiến thức Ngày nay cho đến năm 2007. Ròng rã gần 15 năm ông phụ trách mục Chuyện Đông, chuyện Tây rất hấp dẫn của tạp chí này cùng nhà thơ Phan Hoàng, nhà báo Lê Khắc Cường. Việc ông dám đụng chạm tới các tượng đài ngôn ngữ thời đó: Đào Duy Anh, Lê Ngọc Trụ, Đặng Thai Mai cũng gây dậy sóng dư luận. Ông nhớ mãi cố GS Nguyễn Lân từng chửi ông rất nặng lời 3 lần. Căng thẳng đến mức Hội Nhà văn TP.HCM phải đứng ra tổ chức họp giữa nhà văn Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Phạm Sĩ Sáu và… đương sự Huệ Thiên buộc ngưng chuyên mục do ông phụ trách 5 kỳ. Trong thời gian đó, nhà văn Nguyễn Quang Sáng hiến kế cho ông tiếp tục viết nhưng phải ký tên khác để tránh rắc rối. Nhà văn Hàn Tấn Quang chủ biên Kiến thức Ngày nay đặt bút danh mới là Lão Ngoan Đồng (tên một nhân vật trong Anh hùng Xạ Điêu) nhưng ông không thích lắm. Cuối cùng Huệ Thiên mới tự chọn cho mình tên mới là An Chi như sự an nhiên tự tại, không muốn sinh sự với ai nữa.
                                                                [Thanhnien vn]

* Giáo sư Đoàn Lê Giang
Về tiến sĩ giáo sư này, mời các bạn đọc những lời sau đây:

 [Giáo sư tiến sĩ trưởng khoa ngữ văn trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố HCM tên là Đoàn Lê Giang công bố rằng đã có thông tin về “truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân” trong tàng thư của Nhật Bản vào Thế kỷ thứ 17. Lỗi công bố của ông là cố tình bẻ lái, với nhiều “mưu mẹo” nhằm thuyết phục chúng ta tin rằng đã có câu chuyện Kim Vân Kiều truyện do Thanh Tâm Tài Nhân sáng tác xuất hiện và nay còn lưu giữ tại Nhật. Ông Đoàn Lê Giang đã viết trên tạp chí Kiến thức ngày nay, số 200, Xuân 1995, tr.57-59.Tạp chí Văn học, số 12-1999, tr.47-50.  Các bạn muốn biết ông Giang “đã bẻ cong một cách có ý đồ ra sao”, xin mời đọc link này “Tryện Kiều và Kim Vân Kiều truyện ở Nhật Bản- Đoàn Lê Giang” [6]. Bài này xuất hiện trên trang của trường Đại học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG thành phố HCM vào năm 2008. Đừng quên rằng năm 2009 thì vấn đề đã rất sáng tỏ, khi có một giáo sư người Taiwan được đặc trách quan sát thơ văn chữ Hán do người Việt trước tác tham gia. Và ông Charles De Benoir, tiến sĩ Havard về đề tài Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du xuất hiện. Lẽ nào ông Đoàn Lê Giang và trường Đại học Xã hội và Nhân văn ĐHQG thành phố HCM lại không hề hay biết?. Tại sao các giáo sư không hướng dẫn sinh viên mình đi tìm sự thật qua các cuộc seminar?

Sau đó Đoàn Lê Giang chủ trì cuộc hội thảo rất lớn toàn quốc về đề tài “Vai trò của Hán Nôm trong văn hóa đương đại”. Hội nghị quy tụ toàn là giới giáo sư tiến sĩ của làng Đại học Khoa ngữ văn Toàn quốc dự. Ông Giang nhấn mạnh “Trước đây chúng ta cứ nói rằng không dùng chữ Hán để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt nhưng hiện nay phải nói ngược lại, phải học chữ Hán để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” – Hội thảo kết luận là NÊN MANG CHỮ HÁN VỀ DẠY TẠI BẬC PHỔ THÔNG VIỆT NAM, như là một áp lực tham mưu cho Chính quyền. Ông Giang có mời thầy ông là giáo sư Lê Lộc chống lưng. Trong một bài tham luận, ông giáo sư Lê Lộc nói “hùng hổ” rằng: Trong tiếng VIỆT có đến 78% , tôi lặp lại 78% là từ Hán Việt. Đó là lý do chính quyền cần giúp cho học sinh Việt Nam hiểu rõ từ Hán Việt, ví dụ như học sinh chúng ta lầm điểm yếu với yếu điểm …

Bạn hãy thử đọc những gì mà ông Đoàn Lê Giang viết về Kim Vân Kiều truyện, ông cố chèn Thanh Tâm Tài Nhân vào, cho dù trong bài viết gốc các tác giả không nêu tên, hay nêu một tên khác. Nên đọc những gì mà Đoàn Lê Giang thông tin về Truyện Kiều ở Nhật…]
                                                               [Laiquangnam]

Link: Đoàn Lê Giang cổ võ việc dạy chữ Hán tại bậc học phổ thông:
https://baomoi.com/de-xuat-dua-chu-han-chu…/c/20227335.epi

* Tiến sĩ Phạm Trọng Chánh
Tiến sĩ Phạm Trọng Chánh tin và thuật rằng giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, khi bị tê thấp nửa người vẫn còn có nói với ông: “Nguyễn Du đi giang hồ sang Tàu lúc 24 tuổi ( 1790) Nguyễn Du đã nghe chuyện Từ Hải và có được Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân viết từ đời Khang Hy, được khắc in vào đời Càn Long, đang được bán và nổi tiếng tại Hàng Châu năm 1790”

Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn và TS có tận mắt thấy quyển Kim Vân Kiều Truyện này không?
Phạm Trọng Chánh là ai ?

Ông là tiến sĩ giáo dục tại Pháp, vốn là một du học sinh tại Belgique, đâu vào năm tú tài 1968 -1970 gì đó. Ông có viết một loạt bài “Về 10 năm gió bụi của Nguyễn Du” và đã biết tận dụng các trang mạng để đăng tải các bài viết của mình, nhằm cũng cố cho luận cứ là Nguyễn Du đã có mua được quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân tại Tàu; có nghĩa là “nhờ đó Nguyễn Du mới lần theo dàn bài có sẵn mà làm truyện thơ Kiều”. Đó là kiểu mà TS Phạm Đan Quế viết quyển đối chiếu:  Phạm Đan Quế đã viết quyển so sánh Kim Vân Kiều truyện và Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, in đối chiếu song song làm như là Nguyễn Du dựa vào quyển sách Nguỵ thư Kim Vân Kiều China để chuyển từng đoạn ra văn vần. Khiến con em chúng ta có thể nghĩ rằng: “Nguyễn Du đã làm “văn vần” trên nền tảng có sẵn từ văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân”
                                                                 [Laiquangnam]

Qua trên, tôi đã lược sơ qua các nhân vật có liên quan đến vụ “đạo văn”. Ai “phù nước lạ hơn phù Việt” thì tùy các bạn nhận xét, còn riêng các nhà nghiên cứu China thì “khỏi cần bàn”.

(Còn tiếp phần 2:
KIM VÂN KIỀU TRUYỆN VÀ THANH TÂM TÀI NHÂN)

                                                                      Nguyên Lạc

……………..

Ghi Chú:

[1] Về Nguồn Gốc Của Thơ Lục Bát – Nguyên Lạc
http://t-van.net/?p=40044

[2] Chữ Quốc Ngữ và Hội Chứng Nhảy Cừu – Thiếu Khanh
http://www.art2all.net/tho/tho_tk/chuquocnguvahoichungnhaycuu.htm

Sao lại nói chữ quốc ngữ VN ‘rất nực cười’? – Nguyễn Hải Hoành
http://nghiencuuquocte.org/2017/12/11/sao-lai-noi-chu-quoc-ngu-vn-rat-nuc-cuoi/

[3] – Đại Án Đạo Văn-Lê Nghi
https://www.facebook.com/linghe.li.7/posts/484577818965640

Đề Từ Đoạn Trường Tân Thanh – Tiên phong Mộng Liên Đường Nguyễn Đăng Tuyển
https://www.facebook.com/linghe.li.7/posts/486930425397046

[4] Cũng là một kiểu so sánh văn học- Hoàng Văn Lâu
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6059&rb=0102

[5] Nguyễn Huệ Chi -Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5941&rb=0102

[6] “Tryện Kiều và Kim Vân Kiều truyện ở Nhật Bản- Đoàn Lê Giang”
http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-ung-xu-voi-moi-truong-xa-hoi/222-doan-le-giang-truyen-kieu-va-kim-van-kieu-truyen-o-nhat-ban.html

[7] Địa vị lịch sử của Nguyễn Du trong văn học VN
https://trandinhsu.wordpress.com/2015/08/01/dia-vi-lich-su-cua-nguyen-du-trong-van-hoc-viet-nam/

[8] Sex trong Truyện Kiều – Trần Đình Sử
https://trandinhsu.wordpress.com/2016/01/10/sex-trong-truyen-kieu/

READ MORE - TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG – ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN - Nguyên Lạc