Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, December 22, 2018

NỤ CƯỜI CỦA DƯỢNG - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Tác giả Lê Hứa Huyền Trân
NỤ CƯỜI CỦA DƯỢNG
Truyện ngắn
LÊ HỨA HUYỀN TRÂN

          Ngày tôi còn bé cứ mỗi hè về tôi lại về ngoại ở lì suốt mấy tháng, đứa cháu nhỏ nhất nhà luôn được ông bà cưng yêu và mấy cậu dì trân quý, nuông chiều. Má tôi lấy chồng xa xứ, nêu sau khi lấy ba tôi thì dọn ra Quy Nhơn lập nghiệp, bỏ lại sau lưng miền quê ngoại Phú Yên thân thương để cùng chồng tới vùng đất mới tìm kế sinh nhai. Cũng may hai nơi vốn chỉ cách dăm ba tiếng đi xe nên mỗi khi rảnh rỗi cứ độ vài tháng có khi non năm không bận rộn gì má lại chở tôi về ngoại.
     Tôi vô cùng thân thiết với nhà ngoại, chị em họ đã cùng tôi lớn lên suốt những mùa hè năm ấy, nhưng người mà tôi nghĩ là “hợp tính” tôi nhất lại là dượng Sáu, chồng dì Sáu tôi. Ban đầu tôi có cái tính hơi ích kỉ với lối suy nghĩ cố hữu: chồng của dì thì cũng chỉ là người lạ vốn không chung máu thịt với mình nên cũng tỏ ra xa cách. Hơn nữa, dượng lại là người có vóc dáng khá cao, làn da đen nhẻm, trong mắt một đứa bé tí xíu ngày ấy cứ như ông ba bị trong những câu chuyện kể.
     Tôi còn nhớ tôi bắt đâu “ thân” với dượng là khi tôi học lớp năm.  Dượng tôi vốn sống bằng nghề trồng bông trồng tắc để mùa Tết đem đi bán. Tôi vốn đặc biệt yêu thích tắc, thậm chí nhà tôi luôn có quan niệm mỗi mùa Tết đến mà có một chậu tắc trong nhà thể nào cũng may mắn cả năm, rồi hết Tết vặt trái pha nước uống cũng ngon đáo để. Biết tôi đặc biệt thích, ngày đó dượng nhỏ nhẹ hỏi tôi:
     “Thế có muốn ra vườn tắc chơi thử không?”
     Chẳng hiểu sao tôi lại gật đầu. Vườn tắc của dượng rộng lắm dễ đến mấy trăm cây, lần đầu tiên tôi thấy là khi chúng còn nhỏ, cao chừng ngang đầu tôi ( tôi vốn lùn), bên trong mỗi chậu dượng có cắm một cái cây tre nhỏ cao gần bằng mỗi cây tắc non để uốn chúng thành hình dượng muốn. Dượng bế tôi vô cái chòi tránh nắng giữa vườn tắc rồi vừa hì hục đắp đất, vừa dùng đôi bàn tay to bè uốn tỉ mẩn từng cái cành, vừa giải thích cho tôi tại sao phải làm vậy. Cái hình ảnh ấy mang lại cho tôi cảm xúc kì lạ lắm : một người đàn ông to lớn đang cong người dùng đôi bàn tay to bè đi nâng niu từng cái chồi non.
     “Dượng muốn có thể làm ra những cây tắc đẹp nhất, sai nhất lại đúng mùa để bất kì ai mua cây cũng sẽ có một cái cây chưng Tết thiệt là đẹp!”
     Dượng chẳng sáo lộ mà mỗi lời nói đều mộc mạc chân thành.  Kể từ đó mỗi khi tôi rảnh tôi vẫn hay lân la ra vườn cùng dượng, lâu dần tôi chẳng còn sợ dượng. Sau này tôi mới nghe má kể, dượng nói chuyện với má, hỏi tôi thích gì, biết tôi thích tắc thế là dượng mới dùng nó làm câu chuyện để thân thiết với tôi hơn, yêu thương tôi nghĩa là dượng cũng rất yêu thương gia đình dì tôi, yêu thương dì, chính vì thế tôi cũng dần mở lòng với dượng.
     Mỗi năm, cứ vào những ngày giáp Tết những xe tải tắc từ Phú Yên lại ùn ùn kéo vào Quy Nhơn, ngày đó thị trường Tết ở Quy Nhơn “ màu mỡ” hơn nên họ thường trồng ở quê rồi chở ra QuY Nhơn bán. Dượng cũng thế. Lần nào ghé Quy Nhơn dượng cũng tranh thủ ghé nhà tôi một chút dù rất bận rộn với quây rạp, nhận chỗ bán và xếp tắc… Có những năm tôi còn nhớ rõ bàn tay to bè của dượng vỗ vỗ đầu tôi khi tôi ngủ trưa vì dượng ghé lúc tôi ngủ, và đặc biệt năm nào trước khi đi dượng cũng để lại nhà tôi một chậu tắc dễ cao hơn đầu tôi có dòng chữ đỏ “ tặng cháu”. Má tôi thấy dượng bán buôn cũng khổ nên cũng muốn trả tiền, nhận tấm lòng là được nhưng dượng cứ một mực không nhận lại ra chiều giận:
     “Em thương cháu nên tặng cháu, chị làm vậy em thấy buồn.”
     Cứ thế, mỗi năm, khi giao thừa đến, khi trang trí cây tắc, và thấy dòng chữ ấm áp ấy, lại nhớ những gì ngày bé mình thấy dượng làm tôi đều thấy cả sự chân thành trong đó. Khi dượng ra bán tắc ở Quy Nhơn, tối tối gia đình tôi hay ghé chơi. Những người bán tắc và các cây cảnh ngày Tết tạo cho thành phố nơi tôi ở thành một khu phố tấp nập ngập tràn sắc hoa. Tối, họ thường ngủ lại tạm bợ bằng những cái võng mắc vội, ăn cơm hôp và hôm nào cũng bán tới tận khuya vì thời điểm này người ta đi mua cây về chưng không kể giờ giấc. Tôi rất thích theo dượng lẽo đẽo mời chào khách và nghe dượng tư vấn rồi gồng mình bế mấy chậu tắc nhỏ chưng trên bàn giùm dượng, chỉ thế cũng làm dượng vui. Dượng sẽ cứ bán như vậy cho đến sát giờ giao thừa khi không ai mua nữa thì sẽ “đập chậu” sau đó bắt đầu lên xe về quê. Có những hôm tôi ngồi chơi với dượng, thấy dượng đốt thuốc nhìn xa xăm, lẩm bẩm:
     “Không biết dì mày mua được dì chưa, năm nay tắc ế, không kịp đưa dì mua đồ cúng Tết. Hổng biết bả xoay đâu được…”
     Tôi chợt hiểu vì gánh nặng mưu sinh nên người đàn ông ấy phải đi xa nhà vào những ngày mà ai cũng hiểu Tết là phải “đoàn viên”.
     Khi tôi bước vào cấp ba thì dượng không còn ghé Quy Nhơn bán tắc nữa mà chuyển sang bán tại vườn, là trồng rồi để người ta tới mua bán và chở đi chỗ khác bán như dượng ngày xưa. Cái này ít tiền hơn nhưng không xa nhà nữa và đỡ lỗ hơn vì người ta đã đặt trồng. Tôi không còn được nhận những cây tắc đầy tình thương của dượng nữa, nhưng mỗi khi rảnh rỗi sau Tết dượng vẫn hay chở dì ra thăm gia đình tôi và cùng ăn Tết muộn. Mọi thứ chẳng khác đi, tôi vân hay theo dượng nghe những cây chuyện dượng kể, nghe dượng trầm ngâm và được dượng bày cho vun trồng mấy cây nhỏ trong vườn nhà. Truyền thống ghé nhà tôi mỗi khi Tết vẫn luôn được dượng gìn giữ vì dượng cho rằng:
     “Má mày ăn Tết xa quê hẳn là buồn lắm, chở dì mày ra cho chị em gặp lại, cho thấy gần gũi gia đình.”
     Tôi lên đại học bắt đầu học xa nhà, những năm tháng ấy dì sinh em ở tuổi hiếm muộn nên cũng ít ghé Nhà tôi hơn, nhưng dượng thì vẫn đúng giao thừa gọi điện chúc tết gia đình tôi như một thói quen. Những năm đại học vì học xa tận Hà Nội tôi cũng ít về nhà dip tết toàn khi về đã vào hè, vì xa xôi, và tiền bạc, cho đến năm cuối đại học, nghĩ sao tôi lại để dành tiền về quê ăn Tết. Đón tôi tại cổng là dượng, đang bế trên tay đứa nhỏ trạc ba bốn tuổi, mấy năm không gặp dượng vẫn thế, chỉ có mái tóc đã điểm bạc, thấy tôi dượng cả mừng:
     “Năm nay dượng đưa dì ghé Quy Nhơn đón giao thừa, ơ hay, sao trùng hợp năm nay mày về.”
     Tôi cũng bất ngờ khi gặp lại dượng, cả vui, vừa bước vào trong nhà tôi chợt khựng lại, trước mặt tôi là một cây tắc khá cao, trên cây có dòng chữ “ tặng cháu”, bên ngoài  tôi nghe tiếng dượng cười vang cả một góc sân…

Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân,
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định.

READ MORE - NỤ CƯỜI CỦA DƯỢNG - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

NHỮNG BÀI THƠ PHƯƠNG NAM - Hoàng Yên Linh


         
Tác giả Hoàng Yên Linh


         Về đây qua cuộc bể dâu
         Đò neo bến vắng chân cầu vẫn xanh
         Đời ta tiếc đã không thành 
         Mộng kia là khói hương quanh đất trời.

         Cuối cùng rồi tôi cũng trở về... Hành trang với tờ giấy ra trại là nỗi cay đắng và gánh nặng lý lịch mang theo suốt cuộc đời. Rồi ra cũng phải sống. Những năm tháng phiêu bạt, bước chân đã đưa tôi đến miền đất phương Nam, nơi vùng sông nước tận cùng, nơi có những cánh đồng trải dài ngút mắt, có những dòng kênh,những chiếc xuồng ba lá với những hàng dừa xanh rủ bóng.Nơi mảnh đất của những câu ca vọng cổ ngọt ngào làm nao lòng người xa xứ.Và những lúc hoàng hôn tím dần kéo theo tiếng chim bìm bịp kêu chiều thê thiết,tôi người miền Trung cuộc thế tai ương bước đời tha phương  mà không biết đường đời sẽ đi về đâu.

          Những tháng năm ở vùng U Minh xào xạc lá tràm trên căn chòi lá chênh vênh giữa mênh mông nước lũ với đàn vịt theo con nước ròng nước lớn. Những năm tháng oằn vai bốc vác kiếm sống nơi bến cảng Gành Hào. Những cây nước đá buốt lạnh trên vai và cũng có những lúc giọt mồ hôi thấm đẫm giọt nước mắt,ngậm ngùi số phận mà thương nhớ về cố quê.Chính nơi vùng đất này, tôi đã gặp những con người phương Nam hào sảng, chân tình... đã cưu mang đời tôi những tháng năm khốn khó. Đêm đêm nghe tiếng sóng vỗ hòa lẫn trong tiếng đàn bầu ai oán với câu Dạ cổ hoài lang tha thiết, những lúc ánh trăng vắt ngang khu rừng tràm, bên chiếu rượu cùng sẻ chia cảnh đời lưu lạc. Những năm tháng đó ngậm ngùi với nỗi cô đơn, tủi cực tôi mới thấm thía "Sông bên bồi bên lở, là phú quý giật lùi công danh lộn ngược...". Nhưng cũng chính nơi vùng đất này.những cô gái phương Nam chân chất,với nụ cười,ánh mắt,với tiếng ca cao vút tràn đầy với người thất cơ lỡ vận tôi đã thành người làm thơ bất đắc dĩ để có những bài thơ,những tâm sự với riêng mình làm hành trang đi hết quảng đời phiêu bạt.

          Những bài thơ này được viết trong những tháng năm nhọc nhằn nhưng cũng đầy ân tình, ngập tràn tình người phương Nam, xin được gởi đến người xưa như nén hương lòng với bao ngậm ngùi thương nhớ.Một ly rượu ân tình,ánh mắt đong đưa theo chiều nắng đổ,tiếng ca vang vọng khúc Hoài lang hòa trong tiếng đàn bầu dưới ánh trăng vàng tỏa bên cánh rừng tràm xào xạc gió đưa ... Và câu hỏi của người con gái mà tôi vẫn nhớ mãi trong đời "Anh Tư sao chỉ mình ên ..." để rồi suốt cuộc đời tôi không bao giờ trả lời được.

Cảnh cũ - người xưa. Lời thơ này xin mãi là tâm tình, là món nợ với đất, người phương Nam.
Hoàng Yên Linh


           
KHÚC DẠ CỔ HOÀI LANG                               
BÊN KÊNH VĨNH TẾ
                                           Hoàng Yên Linh

Một xị rồi khảy khúc Nam ai
Ngọt ngào Dạ cổ gió hương bay
Trời phương Nam lao xao con nước
Chiều nắng nghiêng ...
Vành nón nghiêng ...
Dáng em nghiêng bên dòng kênh Vĩnh Tế
Tình tôi nghiêng hương nồng men rượu đế.

Đàn ngân nga em xuống câu Dạ cổ
Hồn tôi say lưu lạc bước sông hồ
" ... Vào ra luống trông tin chàng
Năm canh mơ màng ...
Cho gan vàng ruột đau í a ... "

Thân giang hồ vùi dập cuối trời Nam
Đêm gối trăng sao
Ngày bồng bềnh sông nước
Thôi rồi ... một trời mơ ước


Hết rồi ... khúc mộng tình ca
Xừ xang hồ xê cóng
Em ca lời thương nhớ tình lang
Nhớ ra đời còn mãi lang thang.

Rượu tràn nghiêng bát
Nướng khô lên
Đêm nay trời trong cao bát ngát
Đưa tôi về chốn cũ ngàn dâu
Phương Nam hề ! đời thân ly khách
Văn chương hề ! Viết chẳng thành câu .

Nghe câu Dạ cổ em ca
Giọt thương giọt nhớ vở òa trong tôi
Đêm nay chẳng có mưa rơi
Lời ca buồn cả đất trời phương Nam
Quê hương xa ngái dặm ngàn
Còn tôi gió bụi nhọc nhằn cơn say.

Trăng đã nhòa trong rượu
Em hát nữa ... Hoài lang .


             
VỌNG CỔ BUỒN
                             Hoàng Yên Linh

Hát đi em vọng cổ buồn
Đàn lên câu nhớ câu hờn câu thương
U Minh bông tràm tỏa hương
Nước ròng nước lớn nhịp buông mái chèo
Hát đi em đời gieo neo
Sáng qua Tắc Cẩu đêm neo Tháp Mười
Phách đàn gõ nhịp buông lơi
Đôi câu vọng cổ rối bời đêm thâu
Về đâu sông nước về đâu
Mà sao điệu lý qua cầu xót xa
Buồn đi buồn lại mình ta
Buồn sao vọng cổ em ca ngậm ngùi 
                    &
Ngày mai vạn dặm nỗi trôi
Có con chim lạc cuối trời phương Nam
Ầu ơi chim sáo lạc đàn
"Vào ra trông luống tin chàng ... chàng ơi "
Lời ca gởi gió mây trôi
Gởi người phiêu bạt quê người biết không
U Minh hương tràm mênh mông
Chim chiều gọi bạn não lòng tha phương
Để rồi bạc tóc pha sương
Hoài lang da diết nặng vương cuối trời
Ra đi ... là hết một đời
Mang theo khúc vọng cổ buồn phương Nam .


                   
ĐÊM U MINH                       
NGHE ĐIỆP CA VỌNG CỖ.
                                         Hoàng Yên Linh
* Gởi Ph Th Ngọc Điệp
U Minh.

Hát nữa tình em đôi câu vọng cổ
Ta bước sông hồ áo vãi túi thơ
Còn có em có tóc dài mắt biếc
Để có một lần ta lại ngẫn ngơ.

Hát nữa em con nước ròng nước lớn
Đời bôn ba ta vui ít hơn buồn
Trời đất rộng ta không nơi để sống
Ở với người mà lạc bóng cô đơn .

Hát nữa em đám lục bình trôi dạt
Đi về đâu năm tháng đã mỏi mòn
Một lối về mà đời mãi lang thang
Ta lê bước trên đường đời quạnh vắng.

Hát nữa em thêm đôi câu vọng cổ
Đêm U Minh trăng sáng cả đôi bờ
Trong cuộc đời có một lần tương ngộ
Cám ơn người ta còn biết yêu thương.

Hoàng Yên Linh

READ MORE - NHỮNG BÀI THƠ PHƯƠNG NAM - Hoàng Yên Linh

NHŨ ĐỘNG TRÀNG AN - Chùm thơ Tăng Tấn Tài

Tacs giả Tăng Tấn Tài


Chùm thơ Tăng Tấn Tài

NHŨ  ĐỘNG  TRÀNG  AN

Mây treo lộng đỉnh non ngàn ngàn xưa 
Tiếng chèo khua nước thuyền đưa
Bao hang động mở gió lùa tầng không.

Sậy lau nghiêng dáng bâng khuâng 
Tháp cao đàn vọng trăm lần thuyền qua 
Thoáng gần vòng rộng bao la 
Tình xanh sông núi lật ra tiếng cười.

Lòng vui duyên với mùa tươi 
Chim bay về núi cuối trời tình say 
Ngàn mây gói sóng mưa bay 
Đêm sâu vạn tuổi giọt ngày mãi rơi ...

Động thiên thai, nhũ tuyệt vời 
Trần gian tay vói, cõi trời lắm xa!

                           
25.11.2018
TTT


DỌC  DÀI  MIỀN  TRUNG
      
Nắng chảy vàng hoang sơ màu cát trắng 
Dọc hành trình một chuyến tận cùng quê 
Bờ bến thả hồn, xanh ngắt cỏ triền đê 
chút mưa đầu mùa đan nhau hạt mỏng 

màu đậm vàng xa cuối mùa mong ngóng 
Thương lắm bàn tay vội vã nắng mưa 
Mơ giấc trắng trong rêu phủ tình xưa 
Bầu trời xa vòng mờ sao cách trở ...

Đâu đã chạm tay nhau mà ngọt ngào nỗi nhớ 
Có lúc nhói đau vật vờ hơi thở 
Lục bình trôi theo sóng cũ xa mùa 
Chiếc khăn sô thơm hơi thở còn khua ...

Bóng tháp ngày đêm trở mình thức giấc 
Cánh áo lụa mềm một thời yêu còn, mất ?
Thoáng hiện về mờ khuất cuối chân mây 
Còn thoảng hương thơm từng ngón bàn tay 

Mùa lá rụng chẳng còn tên đường nhỏ !
Chông chênh bóng tàu, vọng tiếng còi theo gió 
Em cứ mãi xa, sóng xô dội trăm chiều 
Heo may nhẹ dìu bờ lau dòng chảy 
Yêu quá Tràng An, bóng núi lặng cuối ngày .

                             
23-11-2018
TTT
  

NHỚ!     
            
Khom lưng, mặn giọt mồ hôi 
Thuở xưa, gần lắm 
bồi hồi ... như in
Nếp nhăn đau cõi vô hình 
Rêu xanh cỏ ngọt bình minh xuân kề.

Nhọc nhằn mưa nắng lê thê 
Mo cau còn ấm lời thề áo cơm 
Bóng gà quẩn bóng cây rơm 
Nhen lên vòng khói, 
mùi thơm mãi còn 
Mẹ ơi! Hơi ấm ngày con ...
Cùng trời cuối đất 
mỏi mòn ngàn xa! ...

 19.12.2018                   
Tăng Tấn Tài  

READ MORE - NHŨ ĐỘNG TRÀNG AN - Chùm thơ Tăng Tấn Tài