Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, September 30, 2018

MÙA ĐÔNG NĂM NGOÁI - Thơ - Nguyễn Hữu Minh Quân



MÙA ĐÔNG NĂM NGOÁI
Nguyễn Hữu Minh Quân

Da diết nhớ Hải lăng đi qua cầu Dài rất ngắn
buồn vui như cát tự xóa mình
người bỏ cuộc chơi về bên kia núi
ta về ngồi đợi gió sang canh
Một lần chợ Cạn thâu đêm nhớ bạn chợ Cầu
lẩn thẩn sờ râu
râu lởm chởm
ô hay trời đất phiêu bồng!
Bao nhiêu năm trời biển ngang tàng
đi về như gió
đến Gio an gặp em Cam lộ
mắt em thiêu đốt lòng người
đêm lạc lạ trái tim anh loạn nhịp
rung lắc dữ dội trong lồng ngực
…chở về đầy ắp tiếng chim
Tìm người bên bến sông xưa
Triệu Độ mùa này mưa phùn gió bấc
rét run cầm cập
đường về còn xa
có gì đau?
có gì đau!
Có gì?


28.4.2017
READ MORE - MÙA ĐÔNG NĂM NGOÁI - Thơ - Nguyễn Hữu Minh Quân

MÙA CHỚM VÀO ĐÔNG - Thơ - Mặc Phương Tử



Tác giả Mặc Phương Tử

MÙA CHỚM VÀO ĐÔNG

Bây giờ mùa đã chớm vào Đông
Mây trắng mù giăng, trắng ngõ lòng!
Thăm thẳm chiều xa buồn cánh nhạn
Hắt hiu đời quạnh nhớ mênh mông!


Đã bao lần gọi mây thu lại
Dặm khách chưa tròn bước lãng du
Cánh nhạn mù xa chiều dĩ vãng,
Thầm nghe tiếng lá dưới sương mờ.


Lòng ai muối xát, và ta nữa,
Những nỗi chiều hoang bốn phía trời!
Tiếng vạc canh thâu buồn quá đổi,
Như tuồng hận sử của muôn đời!


Con sông vẫn chảy, đục hay trong
Vẫn tự bao đời Sắc với Không,
Từ lẽ thịnh suy là thế đấy,
Cao bay gì, cũng luỵ theo dòng.


Thế thôi, như cuộc tuần lưu vậy,
Đông sẽ phai tàn, Xuân sẽ tươi!
Trời đất khai sơ từ buổi ấy,
Nước nguồn, cây cội, mộng ta người.


Cái lạnh mùa Đông chừng thế ấy,
Không gian tê tái tuyết sương rơi.
Sao bằng ác nghiệp từ nhân thế,
Gieo rắc niềm đau khắp mọi trời!


                     South Dakota (USA), cuối thu 2018.
                                                       MẶC PHƯƠNG TỬ










READ MORE - MÙA CHỚM VÀO ĐÔNG - Thơ - Mặc Phương Tử

Saturday, September 29, 2018

QUÊ HƯƠNG NGÀY THÁNG CŨ - Hồi ký của Chế Cẩm Đình

Cổ Thành Quảng Trị.
Ảnh Mai Lĩnh

         Việt Thành, một người con Quảng Trị, đang ngự chốn Sài thành đô hội, vẫn đau đáu niềm nhớ quê hương bằng cái dự định lớn lao là xuất bản một cuốn sách về đất mình, thật khâm phục em. Nhìn lại, mới đó cũng đã gần 9 năm xa xứ tha phương cầu thực. Đưa con trai đầu lòng ra đi lúc con mới 8 tháng, rồi sinh con gái thứ hai nay 7 tuổi. Thiệt lạ, con hai đứa, sinh trưởng ngoài xứ, vẫn đặc sệt cái giọng Quảng Trị nơi lỗ miệng, từ phương ngữ đến âm điệu, như chính mình. Là, yêu quê hương quá, nên sớm gửi vào trong con cái tình yêu thiêng liêng ấy, phải không? 

          Hồi tưởng lại những gì đã đọc, đã đi, đã thấy và đưa ra cảm nhận riêng của mình về nơi chôn rau cắt rốn. Tuổi thơ cho đến hết trung học cơ sở, chỉ loanh quanh luẩn quẩn Đông Hà, Quảng Trị. Lâu lâu mới được đi xa đến Cửa Tùng, Cồn Tiên, Cam Lộ. Mà chỉ đến đó, hoặc chơi, hoặc thăm thú bà con, chứ chưa có cảm nhận gì về đất, về người mỗi nơi.Khoảng thời gian năm 92 - 93 và sau này cuối 95 đến nữa đầu 96, có dịp đi lại nhiều, hầu hết các nơi trong tỉnh, mà cũng không khác lúc nhỏ, chỉ đi rồi về chứ không chủ đích lưu lại gì nhiều về từng nơi đã đến trong trí nhớ. Chừ mà có điều kiện lủi lại thì sẽ nhìn nhận ra nhiều cái mà viết mà nói. Tạm cóp nhặt những ký ức nhỏ nhoi còn sót lại cùng với những gì đã đọc về quê hương để viết ra dưới đây.


Bến sông Ô Lâu ở Hội Kỳ.
Ảnh Nguyễn Vỹ


Đoái từ Nam, Hải Lăng nằm trong cùng tỏ một vẻ rất riêng. Về văn hóa, về con người đều rất thâm sâu. Người ở đây giỏi các nghề nông gia lẫn buôn bán. Về phương diện âm ngữ nói ra tương tự người vùng Thừa Thiên từ Bắc Huế trở ra. Nhất là những người làm nghề buôn bán thì giống sệt ở đuôi “n” thành “ng”, có hơi khang khác chút ít chỗ ngữ điệu. Đầu đất là Mỹ (Hải) Chánh bên dòng Ô Lâu nước trong văn vắt, đẫm trong mình mấy trăm năm các lớp trầm tích văn hóa từ kể khi Huyền Trân Công Chúa trẩy Chiêm bồi giang san. Thị trấn huyện lị Diên Sanh gối đầu lên trảng cát đạp chân xuống đồng Hải Thọ, Hải Quế mênh mông nước mùa mưa. Gạo đồng này ngon không đâu bằng. Cơm nấu ra dẻo hạt, vị ngọt lại thơm mùi lúa làm đòng, thúc ăn thủng đáy nồi không thấy khẳm bụng. Cứ đến mùa gặt là xe tải của mấy người buôn xáo thuê vô chở đi Sài Gòn, Hà Nội bán đắt, mua lại gạo rẻ ngoài đó chở về. Ở Đà Nẵng giờ vẫn có mấy quán cơm người Huế gởi xe đò mua gạo chỗ ngã ba Diên Sanh chở vào từng bao, nấu gạo ngon cho được khách. Ai đến đất cổ Diên Sanh, ghé vào đình Hải Lăng ngó cái, mấy cột đình to cả người ôm không xuể, thì biết nơi đây từng thịnh lắm. Lùi ngược lên trên chun chút là Nhà thờ Diên Sanh, lui thêm chặng nữa có chùa Diên Bình, cho thấy tín ngưỡng thờ tổ tiên với các tôn giáo chung sống trong yên bình của người kẻ Diên. Chợ Diên ngày trước ngự ở ngã ba, nay được xây mới dưới một chặng, luôn tấp nập kẻ bán người mua. Hải Lăng có nhiều thắng địa như có tiếng như trằm Trà Lộc ở Hải Xuân là một khu sinh thái xanh giữa đồng bằng, nơi loài cây đước tưởng như chỉ có ở phương Nam xa xôi kết thành mảng rừng xanh ngăn ngắt, có chim chóc, có chồn, khỉ trú ngụ. Biển Mỹ Thủy bên dưới Hải An ngày càng đông những đoàn người đến tắm, đến chơi biển vào mùa hè, thưởng thức hải sản tươi sống được đánh bắt trong ngày, đặc thù của vùng biển bãi ngang. Nổi tiếng hơn cả là thánh địa La Vang, nơi được cho là Đức Mẹ đã hiện hình cứu giúp đoàn con Thiên Chúa chạy loạn vì bị truy đạo thời Tây Sơn. Hằng năm vào giữa tháng tám là có Kiệu Đức Mẹ, thêm mỗi 3 năm là Kiệu lớn, thu hút hàng chục ngàn tín đồ Công giáo khắp thế giới hành hương về. Nơi đây có quần thể tượng mô tả các tích cổ trong đạo của điêu khắc gia Lê Ngọc Huệ với giá trị nghệ thuật rất cao. Đất đầu Nam còn có rất nhiều làng cổ như Trà Trì, Câu Hoan, Đơn Quế được lập từ thế kỷ 16. Ai về Phương Lang, ai về Kim Long hôm nay vẫn thấy còn đó hương vị chợ quê ẩn sâu hàng trăm năm trong lòng vùng lúa nước. Chợ quầy quả họp từ tảng sáng đến độ mười giờ tan ráo, chỉ còn vài ba mẹt hàng của các cụ già bán mớ rau củ vườn nhà, gắng gỏi thêm ít đồng mua kẹo cho mấy đứa cháu, ngay dưới tán cây vong đồng choàm lên cả chợ.


Đánh cả ở Hưng Nhơn. Ảnh Nguyễn Vỹ


Kề Hải Lăng về hướng Bắc là thị xã Quảng Trị nhỏ bé với 5 phường xã được Hải Lăng và Triệu Phong góp thêm đất vào. Vậy mà, bốn mươi năm trước đó đã oằn mình trong chiến trận tàn khốc nhất, để đến hôm nay, cứ đào hố móng làm nhà mới, thì hay gặp hài cốt của những người con các miền từng về tham chiến. Trong lòng thị xã có thành cổ trước mang tên thành Đinh Công Tráng, một lãnh tụ khởi nghĩa Ba Đình ngoài xứ Thanh. Được xây từ thời Gia Long với hệ thống thành lũy kiên cố nhằm bảo vệ từ xa kinh thành Huế về hướng Bắc. Nơi đây từng là tỉnh lị củ của tỉnh Quảng Trị dưới chính quyền miền Nam. Cũng phố xá, cũng nhà lầu, chùa chiền, chợ tỉnh một thời sầm uất. Lớp người trước, ai mà không biết trường Nguyễn Hoàng, với niềm tự hào rất lớn nếu từng học ở đó, học trò của trường từ Hải Lăng ra, từ Đông Hà (khi đó là chi khu) vào, bên Triệu Phong qua. Đi trên đường Trần Hưng Đạo từ ngoài đường Lê Duẩn vào một chặng bên tay trái, xác trường nay còn đó với chi chít những lỗ bom lỗ đạn trên tường, chứng tích của 81 ngày đêm chiến sự vào mùa hè đỏ lửa 1972. Sau này, trường PTTH Quảng Trị, kế thừa truyền thống ấy, được tiếng trường hay, thâu hút nhiều học sinh vùng dưới lên, mạn Ái Thượng qua, trên Trấm về. Những người Quảng Trị xưa dường như đi hết trong chiến tranh, sau có ít người lui về đất củ. Giải phóng, Quảng Trị sáp nhập và mang tên thị trấn Triệu Phong, huyện lỵ của huyện cùng tên. Đến năm 1981, huyện Triệu Phong sáp nhập tiếp với Hải Lăng thàng huyện Triệu Hải, Quảng Trị vẫn là trung tâm huyện lỵ của huyện mới và bắt đầu nên hình nên dạng trở lại dù không bằng xưa. Cư dân chủ yếu từ các xã thuộc Triệu Phong và Hải Lăng lên sinh sống, theo sau những cán bộ, những chủ nhiệm hợp tác được thăng chức lên huyện. Rồi dân các nơi tụ về buôn bán ở chợ, chủ yếu nông sản, huyện lị đông dần lên. Cũng do nguồn cơn tái sinh như vậy, mà nay thị xã vẫn mang trong mình cái chân chất bình dị từ nông thôn, chứ không xô bồ như những thị xã khác. Những cái tên Góc Bầu, Trí Bưu, Cầu Ga, Cầu Trắng gợi gì cho những người xa xứ từ mảnh đất này?


Làng quê ở Triệu Phong. Ảnh Mai Lĩnh


Cam Lộ, nơi giao thoa nhiều nhất về văn hóa miền xuôi miền ngược từ thủa lập đất. Sông Cam Lộ (Hiếu giang) bắt nguồn từ Đầu Mầu xuôi đến ngã ba Dã Độ (Gia Độ) mang trong mình các lớp áo trầm tích văn hóa vừa nông vừa thương. Những xóm Hạ, xóm Thượng (thuộc Cam Thanh) sát bên sông với các bờ tre chống lở đất ngâm chân dưới nước. Những Cam Thủy, Cam Tuyền còn đó những ngôi nhà gỗ ba hai, ba bảy hơn trăm năm, điển hình cho nhà cổ Quảng Trị. Nhà quay mặt hướng Nam đón gió “Lào” cho mát vào mùa hè, tránh bấc mùa đông, mái nhà thấp để hạn chế ảnh hưởng của bão. Những hàng cột nhất, cột nhì gối trên gối đá chống lún và chống nước ăn chân mùa lụt. Nhà thường làm từ gỗ mít (nài) hoặc thượng chua hạ mít, khác với nhà cổ vùng Lệ Thủy thường làm bằng sến, táu. Nhà giàu thì làm khổ nhà lớn hơn, thường gọi nhà bốn hai, còn gọi là nhà đại phú. Vùng Cùa trên đó có hạt tiêu cay xè, từ xưa gọi là tiêu Cam Lộ, nức tiếng khắp nơi. Cũng còn đó dấu tích thành Tân Sở, nơi Vua Hàm Nghi chạy loạn sau thất thủ kinh đô. Bên sông Cam Lộ chợ Phiên tháng họp sáu lần, mùng ba, mùng tám, mười ba, mười tám và hăm ba, hăm tám tháng âm. Vẫn góc chợ xưa, nón Huế đưa ra, trứng vịt Quảng Bình đưa vào, nhưng khác một điều là không có voi để đổi bạc trắng, đổi súng và không còn những phiên chợ có đến 300 con trâu… như nhà bác học Lê Quý Đôn từng chứng kiến. Khách từ trên Cùa xuống, người mạn Tân Lâm, Tân Định, Ba Thung về, lại bên Cồn Tiên, Cam Vũ băng qua, kẻ từ Cam Hiếu, Cam Thành lại, chợ phiên Cam Lộ vẫn nhộn nhịp, tấp nập người bán kẻ mua những sản vật trong vùng, hơn là một chợ dân sinh. Ai còn nhớ cầu Đuồi củ bắc bằng dầm thép, mặt cầu lót gỗ đạp xe qua lộc cộc trên từng miếng ván? Ai còn nhớ hai hàng xà cừ mát rượi kéo dài từ QL9 vào tận chợ chừng hơn cây số, nay bị đốn hạ để làm đường mất rồi!




Giếng cổ và ruộng rau xà lách xon ở Gio An.
Ảnh Mai Lĩnh


Gio Linh vùng hạ, khoảnh đất lọt giữa hai cửa biển, với nhiều địa danh Nhĩ Thượng, Nhĩ Hạ, Cát Sơn, Lâm Xuân đọc lên nghe lặng cả hồn những người con xa xứ. Nơi mỗi làng quê có xóm, có đình, lại có nhiều nhà thờ họ để con cháu tỏ lòng nhớ tiên tổ năm xưa. Điển hình nhất là làng Mai Xá, nay vẫn còn cây đa, bến nước, sân đình là những đặc trưng của một làng quê Việt Nam. Nơi đây còn có đầm Hà Côộc với một khoảng rừng ngập mặn nguyên sinh, có chim bay rợp trời khi chiều buông. Dọc theo sông Hiếu, bên này và bên kia ngã ba Gia (Dã) Độ, dân có nghề cào chắt chắt. Chắt chắt mà nấu canh rau muống thái nhỏ, thêm ớt tươi với gừng giã cùng muối sống lúc ăn, thì đừng hỏi! Trước năm 1995, muốn về Cửa Việt bằng đường bộ phải ra đến ngã ba Gio Linh rẽ xuống, qua Gio Mỹ, Gio Thành xuống Gio Việt. Sau đó đường Xuyên Á (QL9 nối dài) được đắp từ Sòng về tận cửa biển giúp cho vùng này phát triển rất nhanh. Nhớ lúc đường mới làm xong, người lớn lẫn trẻ con thi nhau tập xe đạp trúc lên trúc xuống, rồi xe máy chạy vù vù quên cái mỏi của những bắp chân to đùng vì lội cát. Trên trảng đất nóng như rang lửa ngày xưa giờ là thị trấn Cửa Việt đông đúc chỉ còn cách Đông Hà hơn 10 km đường bộ theo đường mới này. Ngày hè, người Đông Hà, Cam Lộ, người Gio Linh tấp nập về tắm trên bãi biển trắng tinh cát. Tắm xong lên ăn ghẹ ăn cháo cá ngon không tả được. Lại còn thưởng thức văn nghệ với những cu em nhỏ bán hàng rong, hát những bài hát tình yêu kèm thêm điệu nhún nhảy hồn nhiên nhại phong cách “bé Châu” để kiếm thêm khách mua hàng.
           
Thượng Gio Linh đất đỏ bazan từ trên Cồn Tiên, Nam Đông chuồi xuống đến Hà Thanh, Dốc Miếu. Nay còn đó những giếng nước cổ ở vùng Gio An, Gio Bình, còn gọi là giếng mội, dấu tích cộng đồng Chăm từng hiện diện ở đất này. Đất đỏ trồng cây công nghiệp dài ngày giúp cho dân nơi đây khấm khá hơn các vùng nông nghiệp khác trong tỉnh. Nhưng cũng đất này, chuyện cuốc phải bom mìn không ít, bởi ngày xưa đây chính là vùng hàng rào điện tử Mcnamara băng qua, nên tang thương vẫn còn khi chiến tranh đã lùi xa. Những gia đình sống trên các nông trường mới, di cư từ dưới Triệu Hải lên sau giải phóng. Cũng có nhiều người tập kết ra các nông trường ngoài Nghệ An trong chiến tranh nay quay về đây đem theo tiếng nói phổ thông chứ không dùng phương ngữ như các vùng khác. Mà dưới một chút, thiệt lạ, cái đất Gio Châu người ta thốt ra lời nghe thấy thích thú vô cùng: “đi chở tran, gặp con trâu, phan cấy đứng ngăt” (“đi chở tranh (cỏ tranh) gặp con trâu, phanh xe đứng ngắt” mà chữ ngắt phát âm “ngăt” không có dấu sắc lọt tai sướng chi lạ).

Giữa vùng hạ và vùng thượng Gio Linh có Ba Dốc, có chợ Cầu, đi vào câu hát ru:
           Ru em em théc cho muồi
           Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
           Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
           Mua cau chợ Sãi, mua trầu chợ Dinh… 



Một huyện bị rứt ra trong hiệp định Genève, Vĩnh Linh, ngay bên dòng Bến Hải. Truông nhà Hồ năm xưa ghi dấu vua Quý Li vào phá thảo khấu Tam Giang, nay là thị trấn huyện lỵ Hồ Xá khá sầm uất. Đặc trưng của thị trấn này là những ngôi nhà hai tầng mái tháp đỏ, “mô đen” nhà một thời được ưa chuộng. Còn đó bệnh viện A đầu tuyến lửa, còn đó Trường PTTH Vĩnh Linh là mái trường dưới miền Bắc XHCN từng dạy hệ 10 năm. Bên trên là cụm liên xã Lâm Sơn Thủy, xéo dưới một chút có Trung Nam Tú Thái đọc suôn vần như thể các xã ấy là một. Cũng trong vùng này, người các thôn thuộc hai xã Vĩnh Tú và Vĩnh Thái nói riêng một giọng so với các xã còn lại của Vĩnh Linh. Ai mà nghe đúng cái giọng ấy, kể chuyện trạng Vĩnh Hoàng, với âm điệu đi theo tiết tấu câu chuyện thì cười “đứt rọt” như chơi. Chầu chiến tranh có o nớ mược áo trắng đi dởi về qua cánh đồng. Gặp máy bay bổ tới, khôông có lộ mô trốn nên mọi người hét “cổi áo ra không hắn chộ hắn quăng bom chết cả lủ”. O nớ nghe rứa sợ quá cổi ra liền chứ chờ dị thì ngủm củ tỏi, cổi ra xong thì mọi người lại hét to “mược vô, mược vô khôông hắn quăng bom chết tươi, mau, mau!” Té ra o nớ có nác đa còn trắng hơn cả cấy áo o mược! Vĩnh Tú còn có bàu Thủy Ứ nhiều cá, có giống cá đô (đực tràu) bự chảng, dính câu là kéo cả thuyền câu chạy đuối mới chịu bắt. Bên kia bàu là Rú Lịnh nguyên sinh trên đất Vĩnh Hiền, Vĩnh Hòa. Còn đó những đại thụ với chim muông, thú vật phong phú. Địa đạo Vịnh Mốc cuối đất Vĩnh Thạch biểu hiện sức chịu đựng của con người trước bom đạn chiến tranh, ai từng đến thì không khỏi khâm phục tột cùng. Biển Cửa Tùng sóng vỗ trắng xóa, một thời là khu nghỉ mát được ưa thích, hằng năm đón rất nhiều đoàn đến an dưỡng. Những chiều mùa hè trời trong xanh nhìn ra thấy đảo Cồn Cỏ anh hùng tựa như một chiến hạm khổng lồ thách thức mọi kẻ thù xâm lược. Phía ngoài Hồ Xá là Vĩnh Chấp, giáp ranh với các xã thuộc huyện Lệ Thủy, Quảng Bình, nơi ngọn rau khoai bò qua hai tỉnh. Trên thượng nguồn sông Sa Lung có các xã Vĩnh Hà, Vĩnh Ô và Vĩnh Khê. Cũng như các xã vùng cao của hai huyện Cam Lộ và Gio Linh, bắt đầu tựa lưng vào dãy Trường Sơn. Chốn ấy, có bà con người Vân Kiều, Bru sinh sống. Mà thật giỏi, họ nói tiếng họ, lại nói thêm tiếng Kinh rất tốt. Và nay lớp trẻ được học hành đàng hoàng do các cô thầy dưới xuôi lên dạy, nên tiến bộ rất nhiều về văn hóa (chung) và đời sống kinh tế. Coi sách nhiều, và nghe chính họ phát âm, mới biết họ nói bằng ngôn ngữ của người Khơ Me bây giờ, cũng là ngôn ngữ của người Chăm xưa. Mới tự đặt câu hỏi, họ là ai? Chăm chạy loạn hay Khơ Me bị bức dọc theo rừng núi Trường Sơn mà ra?

Huyện miền cao Hướng Hóa, nơi tiêu biểu cho việc khai đất lập quê mới. Không khác gì thủa xưa khi mà lưu dân Thanh Nghệ theo Nguyễn Hoàng vào đất Quảng Trị bây giờ, đem theo tên làng tên xóm nơi chôn nhau cắt rốn để định danh cho mỗi vùng đất mới định cư. Tân Độ, Tân Thành, Tân Phước, Tân Long có người Triệu Phong trú ngụ, lại Lương Lễ cho người dưới hai xã (nay đã chuyển qua phường) thuộc Đông Hà, đến Tân Lập, Tân Liên, Tân Hợp gợi ra việc đất mới của những nhóm người khác quê dưới xuôi gộp lại.Tay trái đường 9 rẽ vào là 8 xã vùng Lìa từ ngã ba Tân Long men theo sông Sê Pôn chảy từ núi rừng Đakrong ra, bên Lào bên Việt, nơi mà bà con đồng bào dân tộc các bản hai bên qua lại như một nhà chứ không phân định Quốc tịch. Những Rào Quán, Tà Cơn, Làng Vây chiến địa đưa chúng ta hồi tưởng về các chiến dịch tàn khốc năm xưa. Khe Sanh nằm trong một thung lũng của dãy núi Trường Sơn, bây giờ là thị trấn huyện lỵ, khí hậu mát mẻ quanh năm. Nơi đây đồng bào các dân tộc chung sống với nhau an bình, cùng dựng xây quê hương đất nước. Các xã nhánh tây của huyện như Hướng Sơn, Hướng Linh, Hướng Phùng ngày nay rất phát triển kinh tế với cây cà phê và rừng trồng khai thác gỗ. Tây Trường Sơn từ cao điểm Làng Vây đổ về Lao Bảo xuôi qua cao nguyên Nam Lào có khí hậu trái ngược với Đông Trường Sơn, đúng như “bên nắng đốt bên mưa bay” trong câu thơ của Phạm Tiến Duật.

Lưng chừng QL9 là Krong Klang, thị trấn huyện lỵ huyện Đakrong nép ngay bên đường, chỗ ngày xưa gọi là “bốn mốt” (km 41). Xe đò trước khi leo đèo Rào Quán không khỏi dừng lại chỗ kiểm tra, đổ nước mui. Khi về thì khỏi tự giác cũng có tổ Kiểm soát liên ngành ngoắc lại kiểm tra. Thuốc lá Samit, Thạp Luông, mì chính Thái, dép Lào xổ tung tóe, người buôn lăn lộn khóc lóc, xin xỏ không ngớt khi xe “bị điểm”. Ngày nay, cũng phố xá, cũng chợ huyện tuy không đông bằng dưới xuôi nhưng đông đúc hơn xưa nhiều. Các dịp mùa màng trong năm, nào gùi, nào chóe nhấp nhô trên lưng theo từng bước đi của bà con đồng bào từ các bản làng ra chợ thật vui nhộn. Màu sẫm đen của trang phục với các đường diềm viền xanh đỏ vàng hết sức đặc trưng của người Tà Ôi, người Bru – Vân Kiều, chỉ còn những người lớn tuổi mặc. Tuổi trẻ bây giờ tóc xanh tóc vàng, áo pul quần ống chật, điện thoại di động như người thị thành. Không biết họ có còn đi Sim, còn giữ được hồn làng hồn bản thêm bao lâu nữa? Từ km 0 đường 14 ngay chân cầu treo Đakrong rẽ vào năm chục cây số, Tà Rụt bây giờ không còn xa xôi như lúc trước, đến độ trêu đùa nhau “ở Tà Rụt mới về à?” để ám chỉ ngưới nào đó chậm hiểu một vấn đề nêu ra. Nơi ấy, đã là một thị tứ đông đúc. Có trường học, có bưu điện, có bệnh viện đầy đủ, cũng tiện nghi lắm. Quên nói đến những đêm trăng sáng, đi xe từ Tà Rụt về, một bên suối, một bên sườn đồi tranh loang loáng, thật đẹp, thật hùng vĩ.

Đông Hà, tên một ngôi làng nhỏ bên bờ Nam sông Hiếu nằm chỗ cầu tàu (phường 3) bây giờ, đã trở thành tên của một thành phố tỉnh lỵ. Sau giải phóng, từ một chi khu trước đây được nâng cấp thành thị xã thay thế cho thị xã Quảng Trị đã điêu tàn trong chiến tranh. Rồi nhập tỉnh Bình Trị Thiên, đến 1981, Đông Hà kéo về mình cả huyện Cam Lộ, rộng vô cùng. Đội Vệ Sinh Phòng Dịch của thị xã Đông Hà năm nào cũng đi chống sốt rét với chống ghẻ cho bà con Vân Kiều chỗ Cam Tuyền, Cam Chính và Cam Nghĩa. Nhớ lại hơn hai chục năm trước, cái thời nhà máy đèn chỗ hồ Khe Mây đêm chạy đêm không, nhà khá giả thì trữ bình ắc quy thắp đèn đêm, mấy cụ hưu trí thì cứ pin Con Thỏ bốn cục cặp lại bằng hai thanh tre, quấn săm xe đạp để nghe radio phát thời sự. Nhà giàu có sắm tivi National hoặc tivi Liên Xô, đều là hình đen trắng kiểu như bây giờ chơi ảnh nghệ thuật. Tivi phải để ở phòng lớn nhất trong nhà, hôm trời nóng thì quay ra sân mới đủ chỗ cho cả xóm, chứ xem một mình thì nhà đó bị đặt vè liền, không ai chơi cái đồ nhà giàu. Cứ đúng 7 giờ bật lên xem được có mỗi đài Phát thanh truyền hình Bình Trị Thiên phát từ Huế, chương trình bắt đầu là Những bông hoa nhỏ, sau mới đến thời sự, cuối là chiếu phim hoặc cải lương, hết. Nhiều khi đang xem chương trình hay sóng nhiễu mè hết cả màn hình, thằng con nhà chủ chạy ra ngoài quay tới quay lui cái cột ăng ten trời, người trong nhà thấy rõ thì hô “được rồi”, lại xem tiếp trong tiếng xuýt xoa vừa mất đi đoạn hấp dẫn. Những gia đình cán bộ công nhân viên hoặc hưu trí thì có báo đọc, báo Nhân dân, báo Thiếu Niên Tiền Phong, báo Nhi Đồng. Thỉnh thoảng có tờ Họa báo Liên Xô giấy bóng khổ lớn, vừa đọc vừa xem hình đủ màu sướng cả mắt, đọc xong cất lại bao vở đầu năm học, rồi năm sau lật mặt trong ra cho mới để bao lại lần nữa. Vùng trung tâm thị xã lúc đó bụi đỏ mù mùa nắng và nhão nhoét mùa mưa. Có 3 con đường trải nhựa là QL1A ngang qua thị xã, cùng đường 9A, 9B. Đường Hùng Vương to rộng bây giờ, khi xưa là con đường đỏ nối từ lô cốt cũ vòng ra sau nhà Việt Thành đến đoạn bên hông trường Đảng (giờ là nhà VHTN) ẹo qua trước mặt Xí nghiệp 8 cũ rồi đổ dốc xuống đường 9B, chấm hết. Kiến trúc bên con đường này còn sót lại là trường tiểu học Hùng Vương bây giờ, hồi xưa gọi là trường 1B (phường 1) để phân biệt với trường 1A giờ là trường THCS Nguyễn Trãi. Quanh cái lô cốt là xác mấy chiếc xe tăng, tuổi thơ của thế hệ mình ai chẳng leo trèo ở đó. Mặt trước lô cốt có cái pano to đùng ghi mấy câu thơ cổ động của bác Thọ, chẳng còn nhớ nội dung. Sau khi đăng bài lên Facebook thì anh Lê Đức Dục, một nhà báo lớn, mới nhắc cho nhớ lại: “Xuân về trên đồi củ/Phấp phới ngọn cờ hồng/Cả hai tên xâm lược/Chôn một nấm mồ chung”, anh còn nhắc thêm một chi tiết là sợ người ta không biết hai tên xâm lược là ai nên thêm mấy chữ ở bên dưới: “Lô cốt Pháp, xe tăng Mỹ”…
            
Thưởng thức văn hóa nghệ thuật lúc đó, chỉ những ngày không mưa rét. Bởi rạp phim và nhà hát đều lộ thiên. Phim thì, từ khối XHCN hoặc hãng phim Giải phóng. Nhà hát thì chủ yếu là xem cải lương, thỉnh thoảng có xiếc từ trung ương về, cũng hay đáo để. Chuyện, ngồi xem phim bãi, buồn ngủ nằm lăn lóc ra, hết phim không ai gọi, sực tỉnh về nhà nữa khuya, vừa chạy vừa sợ ma đến khiếp. Lại có trò vui, lấy cái dây một đầu buộc vào kim băng, đầu kia cột cục đá, mò đến chỗ khán giả nữ nào hăng say coi trên màn ảnh, găm kim băng vô quần dây chun. Chờ hết phim, coi người ta đứng dậy bị cục đá rị tuột quần là cười ầm rồi bỏ chạy, hoang tợn.
          
May mà quên một chuyện, quan trọng lắm. Chỗ bên Bưu điện là cửa hàng lương thực. Xuân hạ thu đông, cứ sáng chủ nhật định kỳ trong tháng là đến đó đặt sổ gạo xếp hàng. Khi đến lượt, không quên giới thiệu mình có quen người này, biết người nọ, đại khái người ấy có làm chức chi đó quan trọng, để mấy chị mậu dịch viên vén cho phần gạo ngon. Gạo nhận về, khi vo để nấu, sạn cả vốc, lại còn mọt gạo nữa, hâm hẩm. Bên chùa Đông Hà là nhà sách, đối diện xéo nhà sách (chỗ khách sạn Ngân Hà bây giờ) là quầy kem mậu dịch, ngon lắm, có lẽ do thiếu thốn nên thấy thế. Sát đó là cửa hàng bách hóa tổng hợp, bán đủ thứ hàng, theo chế độ tem phiếu.

Chợ Đông Hà, trên bến dưới thuyền, tấp nập. Đò lên từ Cửa Việt, Mai Xá, đò về từ Cam Lộ, Phường 4, ken kín một đoạn. Những ai sống gần sông, thì đều dùng tiếng đò máy để xác định mốc thời gian, ví dụ như đò chạy ngược lên chuyến nhất là mười, chuyến thứ hai mười rưỡi, cứ nghe bạch bạch tiếng máy đò, canh theo đó mà bắc cơm trưa. Chợ có đến mấy cổng, ngõ vào phía đường Phan Bội Châu, ngõ vào phía Phan Chu Trinh bây giờ, còn cổng chính ngay ngã ba đường 9A đi vào. Những bà con bên Cam Thanh, Cam Giang gánh bộ hoặc thồ hàng qua thì tắt từ ngay đầu cầu Đông Hà rẽ xuống dốc, đến cái triền đất nghiêng, chỗ mấy gánh Sơn Đông mãi võ hay bán thuốc trị thương, trị bịnh đủ thứ, tự quảng cáo bằng các chiêu lấy giáo đâm cổ, nuốt kiếm, chặt vào tay cho bị thương, lấy thuốc gia truyền ra bôi bôi xoa xoa mấy cái lành ngay tức thì, cho bà con thấy hiệu nghiệm, xin mời “mại dzô mại dzô”. Xuống thêm lần dốc ngắn nữa là vào ngay cổng chính, chỗ có mấy ông của Ban quản lý chợ đứng chờ sẵn dán cái tem giấy lên nón của mấy o mấy mệ gánh hàng, thu hai đồng phí. Từ cổng lui ra hai bên là những hàng dán áo mưa với dán dép nhựa, kê cái bàn nho nhỏ với cái ghế đẩu, bên cạnh bàn là mấy cái cơi hàn bằng sắt cắm vào ống than bằng cái phích nhưng thấp hơn, có quai xách để lâu lâu cầm lên quay vù vù hâm than cho rực để tăng nhiệt cơi hàn, dán lại mấy chỗ rách cho khách. Cái dép tổ ông màu vàng đục hoặc màu xám sậm, nhiều khi không có nhựa cùng màu, phải vá lên mấy miếng xanh có, đen có, thật tội. Bây giờ mà ai còn chiếc dép đó sót lại trong nhà, không chừng bán đấu giá được nhiều bạc lắm, người mua để lưu lại cái thời khó nhọc cơm áo của quê mình. Trong chợ, từ cổng vào bên trái là hàng bánh kẹo, những mấy chục quày nối nhau dài đến chỗ cổng số hai. Họa hoằn lắm mới được mẹ mua cho mấy cái kẹo gừng, kẹo chanh, còn bánh thì đắt hơn, chỉ Tết mới được ăn. Đối diện hàng bánh kẹo là hàng tạp hóa. Kế đó có đình chợ nằm ngang ra bến sông, trong đình là hàng ăn. Cũng chè cháo, cũng cơm bún nhưng đơn món, phục vụ cho người buôn bán, người đi chợ. Khách lỡ đường lỡ bữa cũng ăn ở đây chứ ngoài đường không mấy quán ăn như bây giờ. Cả thị xã chỉ có mấy hàng trên ngã ba bến xe, thêm một cửa hàng ăn uống Quốc doanh chỗ Coop Mart ngày nay, với đầu chợ cũng có thêm một chi nhánh Cửa hàng ăn uống Quốc doanh đó, nhưng sợ đắt nên người ta không dám vô.
           
Trên dốc cầu, đối diện chợ nhìn xuống qua bên kia là nhà kho Cảng vụ, dưới một chút là cảng sông, tàu thủy vài trăm tấn chở than đá vô và ăn thạch cao ra lại Bắc, chứ chẳng thêm hàng gì khác. Qua hết cầu Đông Hà, bên phải dưới bờ sông là Xí nghiệp sửa chữa tàu thủy, suốt ngày lóc cóc ầm ĩ tiếng búa gõ cho rụng rỉ hà, hàn lại những chổ hỏng của tàu, rồi sơn mới cho hạ thủy trở lại. Chuyện có thật, ngay dưới dạ cầu là những tụm người sống vương vãi, làm đủ thứ nghề bóc vác, xe thồ, móc túi, và cả đĩ. Khi có khách là trèo ngang qua thành cầu, chui vô cái dầm thép giữa hai nhịp, làm bãi đáp. Trẻ con đi học về cứ thấy có người trèo xuống dưới là đứng chờ để lò đầu xuống rình, cho vui. Lại có mụ Tận, một người tâm thần cứ sáng là đi vào từ phía Sòng, áo quần rách rưới, vừa đi vừa lẩm bẩm. Đến chợ, đi lang thang ai cho gì ăn nấy, quá trưa lững thững đi bộ trở về, ngày hạ như ngày đông. Thầy Thanh, người Cam Thanh, lúc trước nghe nói học rất giỏi, sau làm thầy giáo dạy ở trường 1A, chợt hóa điên, cũng năng qua về trên cây cầu này, tay cứ cầm cục phấn quẹt những đường ngoằn ngoèo trên thành cầu bằng thép vê, thỉnh thoảng đứng lại giữa cầu làm bộ như đang giảng bài, cầm phấn vẽ vào không khí những vòng tròn vô định.

Đổ xuống hết dốc cầu, bên phải là làng An Lạc, chuyên trồng hoa cúng hằng tháng và hoa Tết. Làng này có món bánh ướt rất ngon, giờ vẫn còn quán bán bên đó. Bên trái là kho Cung ứng xi măng, kế đến là Trung tâm Y tế Đông Hà, có chức năng như một bệnh viện hơn là công tác y tế, khám chữa bệnh cho cả thị xã Đông Hà, chỉ những ca nặng mới đưa vào bệnh viện Hà Lan cũ tuốt trong Triệu Lương. Cũng phía bên này thời ấy, chuyện bom bi nỗ thường xãy ra, chết người, đui mắt, què tay què chân không tránh khỏi. Mà trẻ con rất hay nghịch, đi học về cứ thấy có cục sắt lăn lóc bên bụi là lượm lên ném, nổ tan tành mọi thứ.

Ngược vô lại, từ cầu chợ về bến xe ngang qua cơ quan Tài chính thị xã Đông Hà có dãy nhà hai tầng, xéo trước mặt là hồ cá phường 2, sau này bị lấp phía trước xây lên dãy nhà phố rồi. Tết gần đến, chỗ khách sạn Đông Hà sát bên bến xe củ, là nơi có hội chợ. Đủ trò mua vui, chuột chui lỗ, ném phi tiêu, ném vòng, bắn súng nhựa. Từ khoảng 27 tháng chạp kéo đến mùng 4 là hết chơi. Được cái ngày xưa, pháo nỗ đì đùng, xác pháo Hà Sơn Bình đỏ tươi, xác pháo Nam Ô sẩm màu nhưng nổ đanh hơn hẳn. Từ ngã ba bến xe theo đường 9B đi lên đến Nhà hát mới, bên phải là nhà dân, xóm khá sung túc nhờ buôn bán. Bên trái là sân bay Đông Hà trong chiến tranh. Đến những năm tám mấy vẫn mấy đoạn còn nền bê tông đường băng, đoạn cuối gần đường tàu là hầm rác cũ của sân bay, sau được xăm lên tất, moi lấy bất cứ cái gì có thể bán được thì bán, dùng được thì dùng, kể cả thịt hộp đã mười mấy năm nằm dưới đất, chỉ hơi rỉ bên ngoài, khui ra vẫn còn thơm. Đồ phế liệu đào được, vô cân trong khóm 1, chỗ đường Tôn Thất Thuyết bây giờ. Từ ngoài đường 9B theo đường Hải Thượng Lãn Ông bây giờ băng qua cống tràn hồ Đại An hoặc theo đường Hàm Nghi lội bộ lên hết đường là vô tới đồi Cọ Dầu, trèo hái trộm cọ về ăn, nhiều khi bị bảo vệ đuổi bắn chỉ thiên hồn bay phách lạc, mà vui.

Ngày nay, người ta dùng số nhà, tên đường và khu phố để xác định địa chỉ cho tương đồng với tầm vóc của một thành phố thay cho cái thị xã nghèo những năm củ. Những tên Nhà Vòm, xóm Choi, xóm Chó, xóm Vạn, những làng Điếu, Dốc Sỏi, xóm Heo, Tây Trì, Chùa Tám Mái, bãi C15 để định chốn lúc xưa ngày càng ít người nhắc đến, từ từ tan theo con tuổi của thời gian…

Viết về quê hương, những dòng chữ như tự trào ra từ ngăn tim buồng phổi. Những điều thu nhặt, có mắt thấy tai nghe, có sự võ đoán, đều không khỏi thiếu sót. Mong được anh chị em chỉ dạy tường tỏ, sau có cái mà kể lại cho con cháu mình.

Cuối cùng, xin được nói về Triệu Phong. Trãi rộng và dài theo hai bờ sông Thạch Hãn, từ Ba Lòng - Triệu Nguyên (nay cắt về Đakrong) về Giang Ái Thượng bờ tây. Dinh Ái Tử, nơi chúa Tiên Nguyễn Hoàng đặt thủ phủ đầu tiên trong cuộc nam di vĩ đại của dân tộc, giờ là thị trấn huyện lỵ sau ngày lập lại huyện. Mé ngoài là Triệu Giang có làng Trà Liên chia làm hai bên bờ sông Thạch Hãn gọi là Trà Liên Tây và Trà Liên Đông. Nguyên do đất lỡ bên tây bồi sang bên đông, lệ cũ, dân bên lỡ được sang đó trồng tỉa, sau lập thôn mới. Đình làng Trà Liên Tây có thờ pho tượng đồng hơn năm trăm tuổi, tạc Thái phó Nguyễn Ư Dĩ, cậu ruột và cũng là người dạy dỗ Chúa Tiên từ lúc 2 tuổi, khi tể tướng Nguyễn Kim còn chạy loạn trên Ai Lao. Qua khỏi Ái Tử vào phía trong là Triệu Thượng với các thôn chánh Nhan Biều, Trung Kiên, An Đôn (chuyển qua phường thuộc thị xã Quảng Trị) và Thượng Phước kề đập Trấm. Các thôn Nại Cữu phường và Tả Hữu phường là những thôn mà dân bên làng chánh phía Triệu Đông, Triệu Tài qua lập, lấy tên làng cũ. Ngay ngã tư Nhan Biều trên QL1A có cột cờ dựng năm 73 cao chót vót, tận Mỹ Chánh, Phong Điền (Huế) có thể thấy cờ giải phóng bay phấp phới vào ngày nắng để dân ta chạy loạn vào trong ấy biết đã giải phóng đồn nhau mà về.

Bên kia sông là những tên làng tên chợ kêu lên nghe tự hào lắm. Bích La, Hậu Kiên, chợ Đình, chợ Sãi tiếng còn vang mãi với thời gian. Bác Duẫn, sinh năm nhuận tháng nhuận gì đấy nên bố mẹ lấy mốc đó đặt tên cho con để dễ nhớ. Lại quê mình, âm Nhuận gọi là Duận, Dụn rồi chuyển sang Duẫn. Cũng nơi đây, họa sĩ Lê Bá Đảng lừng danh đã sinh ra. Kế đó có làng Bích Khê thuộcTriệu Long góp cho đời nhạc sĩ trữ tình Hoàng Thi Thơ. Vùng Triệu Thành trước là quận lỵ quân Triệu Phong, sau bom đạn chiến tranh phá nát cả, dân ly tán rồi về lại. Chợ Sãi là chợ huyện, ngày xưa nổi tiếng nem ngon, giờ chỉ còn làm chả đi bỏ khắp nơi. Chợ Đình thì còn vang câu hò:

“Bà con sinh sống gần xa
Nhớ về họp chợ mồng ba đình làng”


hoặc:
"Tháng giêng giờ tý - mồng ba
Rủ nhau đi hội Bích La chợ Đình”

Đã trải qua hàng trăm năm, đến nay, lễ hội truyền thống chợ Đình làng Bích La vẫn được tổ chức chỉ một lần duy nhất trong năm: Vào đúng lúc “gà gáy canh tư”, bắt đầu khoảng 2 giờ khuya ngày mồng 2, rạng sáng ngày mồng 3 Tết Nguyên đán hàng năm.
Vùng dưới, Thuận Hòa Đại Độ với đồng lúa rộng cò bay mỏi cánh. Sát biển có An Vân Lăng kéo dài từ nam Cửa Việt vào giáp Hải Lăng. Mé ngoài sông có Triệu Phước với những tên làng Lưỡng Kim, An Cư có nhiều họ lớn, nơi danh ca Duy Khánh chào đời. Cái thời nghe băng cối bằng máy Sáp (Sharp là tên một nhãn hiệu điện tử, dân mình gọi bất cứ thứ máy nghe nhạc nào cũng đều là máy Sáp hết, như xe máy nào cũng là xe Hon Đa hết), tai chỏng lên, mà mắt cứ chăm nhìn vào cái máy như sợ không nhìn thấy cái tiếng nó bay ra. Thì đi đâu cũng Duy Khánh, số một, rồi mới đến Chế Linh, Thanh Tuyền..

        Từ Quảng Trị thẳng về theo tỉnh lộ 64 chừng hơn 10 cây số là thị tứ Bồ Bản, nơi trung tâm của các xã vùng dưới. Ở đó có Trường PTTH Triệu Phong, để con em vào cấp 3 khỏi lên tới Quảng Trị hoặc Ái Tử xa xôi. Quanh vùng có chợ Thuận, còn đặc sắc lắm nét chợ quê với những sạp hàng trải ra trên nền đất để họp. Dưới một chút có làng Lệ Xuyên thuộc Triệu Trạch giỏi nghề ăn nói và buôn bán. Chuyện có người lái heo, đến làng ấy coi heo đã muộn, nhìn vào chuồng thấy đàn heo con trắng đốp, sướng mắt hỏi thõng mấy đực mấy cái? Chủ nhà đáp “đực hết” gỏn lọn. Lái ta như mở cờ trong bụng bởi phen này chắc trúng to, nhanh chóng làm giá, đặt tiền và dặn sáng ngày xúc sớm cho kịp chợ. Tờ mờ sáng, qua bắt hết đàn heo con cho vô rọ, chở lên chợ tỉnh bán. Trời sáng dần ra, nhìn vào đàn heo thấy toàn heo cái mà muốn xỉu. Bởi heo cái thì lười ăn chậm lớn hơn heo đực, ai mà mua. Đến trưa không bán được con nào, tức mình chở về lại bắt đền lão chủ. “Ai vẹ mua không dòm, tui nói đực hết là hết đực”, lão vặn. Lái ta tiu nghỉu quay về.


Mạn tay phải Cổ thành đổ xuống, cắt qua đập Trấm là Triệu Tài, Triệu Trung và đất cuối Triệu Sơn. Vùng này có làng An Trú mà dân gian còn gọi là U trán, Đau đầu, khác với làng Đạo Đầu cũng gần đấy, nói một phương ngữ rất riêng, giàu tính ngữ điệu. Ngang qua chút có Ngô Xá Đông, Ngô Xá Tây được lập từ thời Hồng Đức, đổi tên mấy lần do chữ (hán tự) xấu, dân làm ăn khó, rồi do húy kỵ thời Gia Long. Dọc theo làng này có con sông Vĩnh Định lươn rất nhiều. Dân trong làng lấy cái sào dài hơn đầu người gắn cái ngoéo thép một đầu vừa lội vừa thọc, cảm nhận có lươn vùng bên dưới là rút lên, túm chú lươn béo tròn, vàng hượm quăng vô cái thau để nổi trên mặt nước đến hả tay.

Quanh bờ Thạch Hãn cũng là nơi giàu văn hóa tôn giáo, tự xưa. Chùa Tịnh Quang ở Ái Tử được sắc phong Tổ đình Sắc Tứ, nơi linh nghiêm của phái phật giáo Bắc Tông trên đất Quảng Trị. Bên dưới Xuân An sát bờ sông, có chùa Long An, ngày trước gọi là chùa Sư Nữ dành cho nữ tu. Bên kia sông có chùa Tỉnh Hội là chùa lớn, có nhiều người đến tu và học tập. Trong các làng xã khắp vùng, các chùa An Lợi, chùa Dương Lệ Văn, chùa Hữu Liêm, chùa Kim Sơn được dựng ra giúp cho bà con nông dân có chỗ trú ngụ tinh thần, cầu mong cuộc sống tốt đẹp. Công giáo cũng thịnh ở đất này với các xứ đạo, làng đạo Đại Lộc, Dương Lệ Đông, Đồng Giám, Mỹ Lộc, Bố Liêu và Phan Xá bên dưới. Bên trên chuông nhà thờ ngân vang suốt ngày lễ các xứ An Đôn, Ngô Xá, Thạch Hãn, và Trí Bưu...

“Chẳng thơm cũng thể hương dàn
Chẳng trong cũng nước nguồn Hàn* chảy ra”

(*Nguồn Hàn, tên dân gian gọi sông Thạch Hãn)

21/12/2014

Chế Cẩm Đình

READ MORE - QUÊ HƯƠNG NGÀY THÁNG CŨ - Hồi ký của Chế Cẩm Đình

Friday, September 28, 2018

CHÙM TRANH 3 - Ngô Vô Hướng






READ MORE - CHÙM TRANH 3 - Ngô Vô Hướng

NHỚ THỊ XÃ XƯA - Thơ: Tuyết Mai - Nhạc: Nguyễn Tất Vịnh








NHỚ THỊ XÃ XƯA
              Tuyết Mai

Ai có về thăm dòng sông Thạch
Nhớ mang cho tôi chút nắng vàng      
Có thấy cầu ga phơi trong gió
Thương bãi Nhan Biều áng mây vương.

Ai có  về thăm đất Thành Cổ
Nhớ mang cho tôi chút bụi đường
Ngắm nhìn trường Nam loang nắng đổ
Qua Trần Hưng Đạo phố thân thương.

Ai đã đi qua ngã tư thị tứ
Có nhớ Tùng Sơn, Thành Tín, Mỹ Hương
Nhà thờ Thạch Hãn nằm im ắng
Phố nhỏ Quang Trung  dạo thấy buồn.

Ai đã đi qua bến xe Thạch Hãn
Nỗi nhớ trường xưa có vấn vương
Nguyễn Hoàng vắng bóng thầy cô cũ
Gợi nhớ trong tôi thuở đến trường.

Tỉnh Hội chùa xưa nay còn đó
Đường về chợ Sãi vẫn thương thương
Ngày xưa tôi vẫn thường qua đấy
Tìm bóng em về trong phấn hương.

Chợ Quảng Trị ơi ngày tôi đến
Lang thang đi khắp bốn phố phường
Văn Hóa, Vĩnh Xương đâu còn nữa
Chỉ thấy em ngồi bên cánh gương.

Thị xã tôi  yêu thời xưa ấy
Còn lại trong tôi chút nắng buồn
Ai có về thăm cho tôi gửi
 Một chút tin yêu một nụ hồng.
                                         TM
READ MORE - NHỚ THỊ XÃ XƯA - Thơ: Tuyết Mai - Nhạc: Nguyễn Tất Vịnh

TRÚC THANH VÀ BÀI THƠ MÙA THU RỚM LỆ - Phạm Ngọc Thái

  
Nữ thi sĩ Trúc Thanh

TRÚC THANH VÀ BÀI THƠ MÙA THU RỚM LỆ
                                                          Phạm Ngọc Thái



             THÁNG TÁM

Tháng tám có hẹn đâu. Tự thu về chứ bộ
Giọt nắng ngang tàng làm khổ lá trên cây
Năm tháng mòn vơi cho cái tuổi thêm đầy
Tài sản của ta là tấm thân gầy mang nỗi đau tròn trịa

Thu lãng mạn gì đâu? Tại hàng cây ru khúc sầu thấm thía
Kỷ niệm quật mồ lao trở về mai mỉa tiếng thời gian
Tình thu cướp nỗi nhớ trong ta chỉ để lại chiếc lá vàng
Ta bảo với hàng cây. Thôi bỏ đi! Thở than gì cho mệt

Người Thi Sĩ rầu rầu với vần thơ bê bết
Tranh thủ đứng lên nhặt tình Thu xâu kết tặng cho đời
Mùa Thu ơi!
Ta cạn lời xin lỗi

Chầm chậm bước đi, cảm nhận nỗi đau như một người nhàn rỗi
Ai biết cuộc đời còn bao lần nông nổi phía ta đi
Cũng muốn được như ai, đứng nhìn thu từ phía kẻ nhu mì
Nhặt lá vàng rơi lấp dư âm những gì trong quá khứ

Lối thu xưa chẳng níu chân người khách lữ
Tim mệt nhoài sao giữ nổi tình ai
Ta bước giữa đời, gánh thơ sầu mòn nhói cả đôi vai
Trả nợ yêu đương ngày qua ngày gục đầu lên số phận

Tháng tám về đây, ta đứng lại nhìn Thu như chú nai vàng ngơ ngẩn
                                           Thơ TRÚC THANH



LỜI BÌNH:   “Tháng tám” là bài thơ mùa thu ôm bọc nhiều tâm cảm của một cô thôn nữ về cuộc sống, đường đời – Đó chính là những mảnh tình vỡ vụn, đan xen trong suốt bài theo lối thu đi. Ta hãy đọc đoạn thơ mở đầu:
 Tháng tám có hẹn đâu. Tự thu về chứ bộ
  Giọt nắng ngang tàng làm khổ lá trên cây
  Năm tháng mòn vơi cho cái tuổi thêm đầy
  Tài sản của ta là tấm thân gầy mang nỗi đau tròn trịa
     Thoạt vào thơ thấy cái giọng ngọt ngào đáng yêu, thật nữ nhi: Tháng tám có hẹn đâu. Tự thu về chứ bộ /-  Cách giới thiệu mùa thu rất khéo. Đoạn thơ tả cảnh nhưng in cả khoảng không gian, hình bóng người trong đó. Ý nói: Năm tháng mang mùa thu đi qua, tuổi xuân ngày một mòn phai - Giờ em chỉ còn lại một tấm thân khô héo? Phải, Trúc Thanh nói thế! Nhưng đọc thơ ta lại cảm nhận tình thu và người nhi nữ trong ấy, không khô héo chút nào. Mùa thu êm ái và bóng dáng em trước mắt ta cũng rất nên thơ! Mùa thu chính là một nhân chứng cho sự mất mát, xa xót của đời em - vì thế thu “rớm lệ”.

     Tôi bình sang đoạn hai:
     Thu lãng mạn gì đâu? Tại hàng cây ru khúc sầu thấm thía
     Kỷ niệm quật mồ lao trở về mai mỉa tiếng thời gian
     Em nói “thu” không lãng mạn ư? Không phải vậy, nếu tâm hồn nàng thi sĩ không lãng mạn cùng thu, thì sao lại nghe được cả tiếng của hàng cây kia đang ru “khúc sầu thấm thía…”? Trúc Thanh đã đi sâu vào “khai quật mồ lao” về những kỉ niệm đau của đời mình. Đó là những kí ức tình yêu và cuộc sống, mà thu để lại trong em một chuỗi buồn “mai mỉa tiếng thời gian”. Ngôn ngữ thơ mang tính dân gian gần gũi, nhưng thần sắc thi ca vẫn thật mới mẻ. Tình thơ tinh tế, thân thương… ta thêm thấy yêu thu và yêu em.
     Từ biểu tượng được khắc họa của câu thơ dưới: Kỷ niệm quật mồ lao trở về mai mỉa tiếng thời gian / - Trở lại với hình ảnh câu trên, mà em từng chất vấn: Thu lãng mạn gì đâu?... /-  Bởi em yêu thu nhưng thu qua đi, chỉ để lại cho cuộc đời em toàn những nỗi “sầu thấm thía” - tựa như lưỡi dao trích vào trái tim em chảy máu. Đọc sâu trong thơ, ta sẽ cảm nhận được sự khắc khoải của người thôn nữ, mà hỏi rằng: “Tháng tám” về với em, sao lại xa xót đến thế ư?    Ngôn từ diễn đạt tình thực mà hình ảnh thì ảo – Phải chăng như Chế Lan Viên từng định nghĩa về thi ca:
            Bên kia bờ hư ảo – bờ thơ
                                (trích Di cảo)

    Suốt dọc bài Tháng Tám này của Trúc Thanh đều diễn theo một bản sắc thơ như vậy. Ta đi tiếp vào hai câu sau của đoạn:
    Tình thu cướp nỗi nhớ trong ta chỉ để lại chiếc lá vàng
    Ta bảo với hàng cây. Thôi bỏ đi! Thở than gì cho mệt
     Thu đến thì lá vàng rơi, đó là mùa thu của thiên nhiên theo qui luật đất trời – Nhưng hình ảnh “chiếc lá vàng” ở đây lại để nói về sự úa héo của tuổi xuân em, đã trôi theo cái mùa thu đau đang rơi rụng. Em muốn quên, muốn rũ bỏ tất cả những quá khứ buồn bã ấy, chỉ nghĩ về một ngày mai tươi đẹp hơn? nên mới khuyên nhủ các hàng cây rằng: Thôi quên đi! “Bỏ đi, thở than gì cho mệt” – Nhưng khổ nỗi, mùa thu ấy không chịu nghe lời em nói, kí ức đau không để cho em có những giây phút thảnh thơi. Dĩ vãng cứ theo thu về làm cho lòng em khắc khoải, khoáy mãi vết thương tình của trái tim em. Với một tâm hồn đa cảm, Trúc Thanh dồn nén vào những trang thơ:
        Người Thi Sĩ rầu rầu với vần thơ bê bết
        Tranh thủ đứng lên nhặt tình Thu xâu kết tặng cho đời
         Mùa Thu ơi!
         Ta cạn lời xin lỗi

    Em có nỗi gì đâu! Nguyễn Du từng viết trong Kiều:
            Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
     Em buồn đến thế thì làm sao có mùa thu chan chứa niềm vui? Tuy vậy, Trúc Thanh đã sáng tác được một bài thơ mùa thu có sầu thương song rất đẹp! Tiếng thơ em thầm thì ru ta vào trong sự sâu thẳm của đất trời và nỗi người. Em có than, nhưng tiếng than ấy lại bay ra từ trong cõi mộng… làm cho thu càng thêm thấm thía. Em nói: Người Thi Sĩ rầu rầu với vần thơ bê bết /- Vậy mà đọc thơ em chẳng bê bết tí nào. Ngôn ngữ thi ca còn lấp lánh màu hoa mỹ.    
     Trúc Thanh đã “xâu kết tặng cho đời” một bài thơ mùa thu với cảm xúc thật thăng hoa, khôn xiết tình đời. Sau những dòng thơ chảy tràn ra theo kí ức, nàng thi sĩ mới:
            Chầm chậm bước đi, cảm nhận nỗi đau như một người nhàn rỗi
            Ai biết cuộc đời còn bao lần nông nổi phía ta đi   
     Ý nói rằng: nỗi đau cứ gậm nhấm, ăn mòn trong trái tim và cuộc sống -  Em không khỏi hết bàng hoàng khi nghĩ về ngày mai, sự buồn tủi của thu qua sẽ còn đến trong các mùa thu sau? Bởi vậy, lòng em khao khát:
            Cũng muốn được như ai, đứng nhìn thu từ phía kẻ nhu mì
             Nhặt lá vàng rơi lấp dư âm những gì trong quá khứ

    Hình ảnh “nhặt lá vàng rơi” để lấp những dư âm buồn quá khứ, là biểu tượng đẹp. Nó diễn tả nỗi lòng sâu lắng và khát vọng sống trong em!
     Trước khi bình vào đoạn cuối, tôi nói qua đôi nét xung quanh thân thế Trúc Thanh: Em sinh ra ở một miền quê sông nước. Từ nhỏ, mười ba tuổi đã thích làm thơ. Một cô gái luôn cầu thị, ham đọc tất cả những loại sách báo văn học nào mà em có được. có lẽ vì thế nên thơ Trúc Thanh rất giàu vốn ngôn từ, hình tượng phong phú. Nó vừa mang tính dân gian lại ánh chất mỹ học trong câu chữ. Dòng thi ca Trúc Thanh đọc lên thấy đẹp và dễ yêu. Thơ bình dị mà không kém sự mới lạ - “Tháng tám” cũng là một trong số những bài đó! Tôi không biết mấy về cuộc đời em? Không hiểu trình độ văn hóa của em đến cung bậc nào? Song đọc thơ thì cảm nhận, đó là trí tuệ của một nữ sĩ như đã từng kinh qua một trường hoặc khóa đào tạo sáng tác văn học có đẳng cấp nào đó !? rất bài bản và nghệ thuật. Được biết hiện nay Trúc Thanh đang sinh sống bằng nghề kinh doanh nhỏ tại quê nhà ở tỉnh Tiền Giang - Nghĩa là, em đã phải sớm vật lộn trên đường đời để mưu sinh. Tất cả sự thăng trầm, mất mát và hạnh phúc trong tình yêu và cuộc sống đều được dội vào trong thơ. Trúc Thanh mang dòng thơ tình buồn, nhưng chứa chất niềm yêu thương.

   Năm vừa qua Nàng cho ra mắt tập thơ “Tình yêu và nỗi nhớ” với hơn một trăm bài, tại NXB Thanh niên 2017. Tập sách đầu đời đã được đông đảo bạn đọc gần xa vẫn hằng ái mộ thơ em đón nhận. Ta hãy nghe những lời em tâm tình:
     “Có ai đó đã nói với tôi rằng: Sự cô đơn khủng khiếp nhất là cô đơn trong chính ngôi nhà của họ, bên cạnh người thân của họ, có lẽ tôi đã nhiều lần cảm nghĩ như vậy. Ai cũng có những suy tư, những trăn trở, nhiều khi họ tìm cho mình một người để tâm sự, đơn giản họ chỉ muốn được ai đó thấu hiểu họ, sẻ chia và cảm thông cùng họ. Mỗi người đều có một cách để bày giãi tâm tư của mình, còn tôi thì những suy tư ấy được để vào một ngăn thật kín đáo trong tâm hồn… Tôi đã mở những ngăn kín của tâm hồn bằng những vần thơ và vô cùng hạnh phúc vì được trải lòng mình… nhiều lúc thấy như con tim đang dần hấp hối bỗng lại hồi sinh. Tôi thả hồn mình bay bổng, lả lướt, trôi nổi, bồng bềnh trên những dòng thơ… người bạn tri kỷ của tôi. Ở đó, tôi có thể nói hết tâm sự của mình mà không sợ phiền ai cả…”.
                                              (trích tự sự của Trúc Thanh –
                                                Tác giả Tập “Tình yêu & nỗi nhớ”)

   Thơ đối với em gần gũi và thân thiết vậy. Ta hãy nghe thêm lời của một nữ tác giả, bình về tác phẩm đầu tay ấy của em:
          “…Nếu biển tình là khoảng trống mênh mông
           Em sẽ vẽ mây hồng trên sóng bạc
           Nếu cuộc sống quanh ta toàn sa mạc
           Em sẽ trồng lên cát những vần thơ
     Chỉ với 4 câu thơ lãng mạn đã thấy bức tranh sinh động về cuộc sống, tư duy và tâm hồn tác giả thật dồi dào cảm xúc, cũng đầy nghị lực và khát vọng - nhà thơ Trúc Thanh…
     Thơ của chị đa dạng về thể loại, đề cập nhiều lĩnh vực được đúc kết từ cuộc sống xã hội, đời thường cũng như từ tâm thức góp lại viết thành thơ… Trúc Thanh là ai? “Tình yêu & nỗi nhớ” - Có lẽ, đây là dấu ấn và bước ngoặt lớn trong cuộc đời người thi nữ trẻ quê miền sông nước Tiền Giang.
     … Nội dung sâu sắc, truyền cảm, vốn từ phong phú, sử dụng linh hoạt minh chứng cho sự tìm tòi không ngừng. Thơ mang tính nghệ thuật, nhân văn cao, sử dụng và tận dụng triệt để mọi khía cạnh cuộc sống và góc khuất trong tâm hồn… Mỗi bài thơ là một câu chuyện mà ở đó biểu lộ cả nghĩa đen và bóng, tượng thanh… tượng hình… có pha tính triết học, nên thơ chị luôn để lại trong người đọc sự đồng cảm, ấn tượng khó phai.
            …Khi hạnh phúc chênh vênh bờ gãy đổ
            Hỏi cuộc đời duyên số phũ phàng sao?
            Ngó vào tim nghìn gai nhọn cấu cào
            Nhìn phía trước nỗi đau chờ xâu xé
                                 (Lời của tim em)
 
   … Chị cho rằng: "Duyên của trời, phận số của gió mây" - Một ý nghĩ tích cực, tự tạo cho mình niềm an ủi động viên.
     Đêm đêm nước mắt dầm khăn. Với chị, đêm cũng trở thành bạn tri kỉ, người bạn vô hình, sẵn sàng tiếp nhận và lưu giữ những tâm tư thầm kín để bày tỏ nỗi lòng:
  Đêm ôm hết tình ta và ảo mộng
  Những khi buồn đêm bỗng hóa nàng tiên
  Lặng im nghe...nghe hết những ưu phiền
  Ôm ấp nỗi niềm riêng còn nặng trĩu

  Lòng ta đó chỉ màn đêm mới hiểu
  Ban phép mầu xoa dịu những suy tư
  Nụ cười đêm sao chan chứa hiền từ
  Lòng đêm rộng, ví như lòng của mẹ

  Khi tâm sự không còn ai chia sẻ
  Ta trở về thỏ thẻ với đêm đen.....
                               (Lòng đêm)

     Thật nhân hóa - Cái hay nữa trong thơ chị là ở chỗ, mỗi bài thơ vừa là nỗi lòng, vừa là chuyện kể mang tính nhân văn sâu sắc, vừa cảnh tỉnh những người con gái sẽ, đang và đã làm dâu. Em thật sự cảm động và chạnh lòng khi đọc bài thơ này:
  Con thèm được trở về thời tấm bé
  Giọng ru buồn đưa nhẹ giấc mơ trưa
  Ba chiều con làm chong chóng tàu dừa
  Ôm con chạy sợ mưa chiều ướt tóc…

  Con sẽ thả hồn thơ trải dài trên quê mình nhé mẹ...
  Từ cái bến sông con nước êm đềm vỗ nhẹ chiếc xuồng câu
  Đến những âm thanh giao hưởng của các "bạn" nhái bầu
  Và khúc ca dao mà thuở còn thơ con gãi đầu suy nghĩ

     Thế đó, dù không thể nhưng vẫn ước ao và khát vọng, trở về tuổi thơ để được bao bọc bởi vòng tay ấm của ba và mẹ… Thời gian cứ dần trôi như dòng sông không ngừng chảy, đời người cũng vậy…
     Cám ơn chị đã cho bạn đọc những bản tự tình thật hay và xúc động.”.
                           (trích bài bình của Trần Châu về
                                 “Tình yêu & nỗi nhớ”)
     Độc giả nào muốn thưởng lãm thơ và giao tiếp với nữ thi sĩ Trúc Thanh, thì mở qua facebook sau:
https://www.facebook.com/truc.thanh.180410/about?lst=100009464691043%3A100013197031151%3A1537872243

      Thơ Trúc Thanh đã được giới thiệu nhiều trên báo, nhất là báo Áo Trắng và Tạp chí Văn nghệ Tiền Giang, em thường xuyên có bài đăng ở đó. Tiếng tăm về thơ hay Trúc Thanh cũng lan khá rộng, ra tận thủ đô - Hồi tháng 8/2018 vừa qua, báo Người Hà Nội đã giới thiệu một chùm thơ và chân dung tác giả Trúc Thanh. Thơ em còn được một số nhạc sĩ như Giao Tiên, Hà Phương và vài nhạc sĩ nữa phổ nhạc thành bài hát. Có thể nói: trên lĩnh vực thi ca, Trúc Thanh đã gặt hái được sự thành công không nhỏ khi tuổi đời còn rất trẻ.

     Giờ tôi xin trở lại với bài “Tháng tám”, bình tiếp vào đoạn thơ cuối cùng:
  Lối thu xưa chẳng níu chân người khách lữ
  Tim mệt nhoài sao giữ nổi tình ai
  Ta bước giữa đời, gánh thơ sầu mòn nhói cả đôi vai
  Trả nợ yêu đương ngày qua ngày gục đầu lên số phận
     Em nói “thu xưa” chẳng còn níu nổi chân em nữa ư? Nếu em không còn hoài niệm, vương vẫn về thu… thì sao “người khách lữ” Trúc Thanh lại có thể viết được một bài thơ mùa thu dẫu buồn nhưng đẹp như ni!? Dù rằng bước giữa đời, thơ em vẫn còn phải gánh nặng cả một khối tình sầu. Em than:
  Trả nợ yêu đương ngày qua ngày gục đầu lên số phận

    Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm cũng từng than trong “Chinh phụ ngâm” rằng:
            Thưở trời đất nổi cơn gió bụi,
            Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
     Thôi thì… âu rằng, đó là kiếp số do con tạo hóa xoay vần trớ trêu? Nhưng không phải chỉ mình em buồn, thu cũng buồn cùng em đó nghe! Đọc thơ buồn của em, lại thêm thấy thương người?
     Tóm lại, đoạn thơ cuối đã tóm bắt nỗi tình thu và người trong cả bài, để rồi tác giả hạ một câu kết… tuyệt bút:
  Tháng tám về đây,
                ta đứng lại nhìn Thu như chú nai vàng ngơ ngẩn
     Ôi, em còn yêu thu đến thế cơ mà? Dẫu ôm một khối buồn mà tâm hồn Trúc Thanh, vẫn như “con nai vàng ngơ ngẩn”, lạc trong một rừng thu đầy mộng của cố thi nhân Lưu Trọng Lư. Câu thơ ảo, đẹp và ẩn chứa nỗi lòng.
     “Tháng tám” là một bài tình thu hay và lạ!
     Phạm Ngọc Thái, một nhà thơ trong đương đại thuộc hàng bậc cha anh… cũng xin ngả mũ chào em – Nàng thi sĩ Trúc Thanh!

                                                          Hà Nội, cuối thu 2018
READ MORE - TRÚC THANH VÀ BÀI THƠ MÙA THU RỚM LỆ - Phạm Ngọc Thái