Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, September 18, 2017

CẢM TƯỞNG CỦA THẦY HỒ SĨ CHÂM KHI “ĐỌC ĐOÀN ĐỨC - HOÀI NIỆM THẦY CÔ GIÁO”


         

      CẢM TƯỞNG CỦA THẦY HỒ SĨ CHÂM KHI ĐỌC 
          “ĐOÀN ĐỨC - HOÀI NIỆM THẦY CÔ GIÁO”

       Tôi viết lên đây không phải chỉ cho cá nhân tôi mà xin phép được đại diện cho quý đồng nghiệp của tôi một thời cùng dạy ở trường Nguyễn Hoàng. Trước hết cảm ơn ngôi trường, cảm ơn tất cả học sinh và em Đoàn Đức đã cho chúng tôi trở lại tìm thấy “những bước chân tưởng đã tan, nhưng vẫn ghi những dấu ấn không thể nào tan được trong quá khứ.” (Nguyễn Lê Văn). Tôi tìm lại được không những bước chân thời đi dạy mà còn những bước chân thuở học trò, và nếu được đọc những lời tâm huyết trong tập sách này sớm, chắc các thầy cô chúng tôi phải giật mình suy nghĩ lại phương pháp đã giảng dạy, nhất là tình cảm thầy trò để biết rằng nghề thầy giáo không phải là một nghề bạc bẽo, chỉ là bến đợi, sân tàu chơ vơ, chờ những chuyến tàu đến và đi như lời thầy Lê Văn Sét trong tập lưu bút cho học trò Nguyễn Thắng “Học trò ví như con tàu, Thầy là bến tàu. Thuyền ghé bến rồi lặng lẽ xuôi đi để lại cho bến kia một nỗi buồn không bao giờ dứt.” Vui lên chứ sao lại buồn được. Nếu biết mỗi con tàu đi qua bến dừng lại một lát nhưng lại mang theo hình ảnh của bến đợi để làm chất liệu sống trong suốt hành trình cuộc đời.
       Tôi cùng một ý với cô Nguyễn Thị Thanh, cảm thấy may mắn đã dạy ở trường Nguyễn Hoàng, cảm thấy nghề thầy của mình có hậu vì có những người học trò còn nhớ những bài giảng ngày xưa và tiếp tục truyền thụ kiến thức cho lớp người kế tiếp để sống đẹp trong cuộc đời như Nguyễn Văn Quang đã viết trong lời Bạt cuối sách: “Lớp học trò chúng tôi không dám nghĩ đến những điều thấp hèn vì sợ tổn thương đến uy tín,thanh danh và công lao dạy dỗ của thầy cô mình”. Anh đã nhân bài viết của Đoàn Đức để tế nhị tỏ lòng tri ân thầy cô cũ chúng tôi và nhắn nhủ lớp học trò đã từng học với anh. Xin ghi nhận tấm lòng này. Rồi Nguyễn Lê Văn đã khéo léo bày tỏ cảm xúc sâu sắc của mình khi phân tích tính năng tác động của những phương pháp giảng dạy của các thầy cô đối với tâm trí học trò, để họ sau này lớn lên biết vận dụng sao cho đúng khi vào đời và có bản lãnh hòa nhập cuộc sống. Mà thật như anh đã nói: “Giáo dục là hành trang vào đời, giáo dục là biến cái vô thức thành hữu thức, vì nó trở thành trí huệ tưởng như hoằng viễn, với tình cảm phú dật, thênh thang của một tấm lòng đã đưa ta về đi trên con đường cổ tích”, nhưng vẫn yêu tận cùng và biết tận hưởng cuộc sống hiện tại.
       Tôi thưởng thức không chỉ bài viết hoài niệm thầy cô giáo mà ngay cả Lời Giới Thiệu, đến Lời Bạt và cả phần Hậu Ký. Đây là một bản hợp xướng Nguyễn Hoàng, mà phần hoài niệm là cung bậc chính (key note) trong dàn đồng ca của những người có chung một tâm tình, một tấm long tưởng nhớ đến ngôi trường nay không còn nữa ở vùng đất nắng gió Quảng Trị. Các em đã làm tôi thổn thức nhớ tới thời gian dạy ở trường Nguyễn Hoàng, nhớ đến thời học sinh đi học ở trường Khải Định, trường Quốc Học Huế và đi du học tại Hoa Kỳ. 
       Làm sao quên được cô Nguyễn Thị Nhã cùng học lớp đệ Nhất C2 (lớp 12C) tại trường Quốc Học. Cô ngồi một trong hai bàn đầu dành cho nữ sinh. Thuở ấy không biết có phải vì ảnh hưởng “nam nữ thụ thụ bất thân” không mà bọn con trai chúng tôi ngại giao tiếp với nữ sinh, “chỉ biết mặt mà không biết lời”. Qua bài viết của Đức, tôi nghĩ cô Nhã nhờ được học với các giáo sư đại học của Viện Đại Học Huế mới thành lập lúc bấy giờ, nên có kiến thức chuyên môn đầy đủ, sâu rộng và mới lạ như thế để truyền thụ cho các em học sinh một cách hấp dẫn, chính xác và sinh động bằng phương pháp riêng của mình. Tôi còn nhớ những năm đệ Tứ (lớp 9) và đệ Tam (lớp 10), chúng tôi không học được bao nhiêu về văn chương Việt Nam. Thầy dạy lớp chúng tôi kiến thức giới hạn, sách dạy hiếm hoi… Lên đệ Tam, thầy dạy Văn là một ông chủ garage sửa xe hơi, vì vậy chúng tôi chẳng tiếp thu được kiến thức sâu sắc và thú vị như các em được. Tuy dạy cùng trường Nguyễn Hoàng, nhưng ít khi gặp gỡ cô Nhã vì tôi dạy buổi sáng còn cô dạy buổi chiều. Nay cô không còn nữa, tôi xin đốt một nén tâm hương nghiêng mình cầu mong cô được về miền an lạc, và tin chắc rằng cô xứng đáng được đón nhận về nơi đó vì cô đã “cầm chính đạo để tịch tà cự bí” để hình thành cho các em một con đường trung dung của kẻ sĩ có nhân cách, tìm đến “minh minh đức”“chỉ ư chí thiện” qua các tác phẩm của Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Trần Tế Xương… trong chương trình học.
       Anh Trần Thương Bá là một người tài hoa mệnh bạc. Tôi biết anh là một giáo sư tốt nghiệp Đại học Văn khoa, giỏi tiếng Pháp, nhưng hiếm khi có dịp nói chuyện vì anh ít khi vào phòng giáo sư mà chỉ đến trường đúng giờ vào lớp để dạy. Sau gần một năm dạy ở Nguyễn Hoàng, anh bị gọi nhập ngũ. Nay đọc bài viết khá dài của Đoàn Đức về anh, tôi mới biết anh dạy văn chương hấp dẫn, lôi cuốn học sinh và có nhiều học sinh xem như “tri âm, tri kỷ” qua thầy trò thậ là đồng điệu. Tôi tiếc ngày xưa không được đàm đạo văn chương triết học với anh. Bài viết về anh rất cảm động, đặc biệt về cuộc đời thăng trầm, về đời sống khó khăn trong buổi giao thời và hoàn cảnh gia đình anh cho đến lúc qua đời. Rất tiếc anh ra đi quá sớm, để lại nỗi đau buồn thương tiếc cho con gái, người thân và những học sinh thân yêu cũng như bạn bè xa gần. Tôi thấy vui mừng vì các em may mắn được học với những thầy cô giáo dạy văn chương có tâm hồn và khả năng như các thầy cô của Đức.
       Tôi nhớ một cô giáo duyên dáng, có tài năng và phương pháp hấp dẫn học sinh học tập và yêu mến tiếng Pháp: Cô Nguyễn Thị Thanh. Cô ra dạy ở trường Nguyễn Hoàng sau tôi một năm. Lúc đó tôi chỉ biết cô là người Quảng Trị, bà con với anh Nguyễn Thiện, cũng là giáo sư Pháp văn tốt nghiệp Đại học Sư phạm. Mặc dù cô dạy cùng giờ, cùng một lớp Tam C, Nhị C (lớp 10C và 11C) mà chẳng gặp được vì tôi dạy Anh văn sinh ngữ I còn cô thì dạy Pháp văn sinh ngữ II và ngược lại, nên học sinh phải chia hai để học với hai thầy cô. Tuy chưa bao giờ quen biết trước đây nhưng tôi thấy cô rất sympathique.
      Qua bài viết, cô dạy Pháp văn rất rõ ràng chính xác, hấp dẫn và tạo phương pháp đưa các em tiếp cận với văn chương Pháp, với nhà văn Pháp nổi tiếng. Có điều những bài cô dạy cho học sinh lớp Nhị C sinh ngữ II tôi thấy trình độ khá cao. Tôi nhớ ngày xưa lúc học lớp 9 ở trường Khải Định dù môn Pháp văn sinh ngữ I, giáo sư cũng không bao giờ cho học các bài như La Rentrée des Classes hay Pensées d’Automne. Tôi phải tự tìm kiếm để học một mình vì vậy đến bây giờ, sau 60 năm, tôi còn có thể đọc trầm (thuộc lòng) các bài này một cách trôi chảy. Phải lên lớp 11, 12 tôi mới có thể đọc các tác phẩm như Graziella, La Symphonie Pastorale… vì môn Pháp văn là sinh ngữ I, mỗi tuần 8 giờ, trong khi các em học sinh ngữ II mỗi tuần 6 giờ mà cô đã khuyến khích đọc các tác phẩm trên dù bằng cách nào đi chăng nữa thì quả là giỏi, thật đáng phục. Thời gian trôi qua, cô vắng bóng ở trường Nguyễn Hoàng, không biết đổi về dạy ở đâu.
        Sau những năm 2000 gặp lại cô ở các buổi hội ngộ cựu HS Nguyễn Hoàng tôi muốn hỏi thăm chuyện nhưng cô bận hàn huyên với các cô khác nên đành thôi.
       Riêng anh Lê Mậu Tâm, là người cùng Huyện Triệu Phong, Quảng Trị với tôi, cùng học lớp đệ Tam, đệ Nhị C tại trường Quốc Học Huế, chỉ khi lên lớp đệ Nhất C thì anh chuyển đi trường khác. Mãi đến khi tôi về dạy tại trường Nguyễn Hoàng được ba năm thì anh được đổi về dạy môn Triết cho tất cả các lớp đệ Nhất (lớp 12) ở đây. Tôi với anh có vài duyên nợ. Tôi trước có kèm Anh văn cho con trai của anh; sau đó năm 1972 tôi vào tạm cư tại Nha Trang anh lại giúp lãnh lương và gửi vào cho tôi. Thời gian đi kinh tế mới ở Lâm Đồng, anh có xuống Nha Trang thăm tôi, lúc đó sức khỏe anh vẫn tốt. Trong lòng tôi thường nghĩ về anh, tiếc là chưa có cơ hội để lên Lâm Đồng thăm mộ phần của anh.
       Anh Lê Mậu Tâm là người mà Đoàn Đức trông đợi để được truyền đạt kiến thức triết học. Có anh, trường Nguyễn Hoàng mới mở lớp đệ Nhất C. Anh là người chân chất, thật thà nên lối truyền đạt của anh không văn hoa, bay bướm như các giáo sư vừa dạy Văn vừa dạy Triết. Anh như các thiền sư, trực chỉ vào vấn đề để người học hiểu rõ ý nghĩa chân thực của các triết gia, phân biệt đâu là căn nguyên của tư tưởng như Đoàn Đức đã nhận xét và tâm đắc. Cuộc đời thật biến ảo, nào ai biết ngày sau. Một giáo sư triết học làm sao mà đương đầu với cuộc đổi đời dâu bể can qua. Người cầm bút khó có thể cầm cuốc một cách thành thạo được dù “gặp thời thế, thế thời phải thế”. Âu cũng là số mệnh! Một người am hiểu triết học sâu sắc mà cuối cùng cũng chỉ để mà suy nghĩ về cái tính cách phi lý của cuộc đời và thân phận xót xa của mình, nên đành “ngày ngày lặng lẽ vác cuốc ra nương rẫy rồi cuối cùng lặng lẽ ra đi”, chẳng ai hiểu và cảm thông với mình. Nay chỉ còn nấm cỏ khâu xanh rì. Sao bỗng thay lòng nghẹn ngào và mắt nhòa lệ :

Ôi ! Bé bỏng một tấm thân người.
Một chiếc thuyền nan bồng bềnh giữa hai bờ sống chết.
Có nỗi thương của Jêsu, có nước mắt của Phật.
Và trên tay áo này,
Trên tay áo này
Những giọt đau!
Những giọt đau!
Của mẹ, của êm của những bọt bèo số phận.
….
Trên một bến bờ vực thẳm.
Đời sao có những say đắm
Trong cõi lạnh hư vô?

                          Lưu Trọng Lư
(Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi!)

      Với thầy Trương Ngọc Hội, cái hay của thầy là để lại cho các em một vài cảm xúc đơn sơ về thi ca Anh; cũng như về văn xuôi của Mark Twain trong The Adventures of Tom Sawyer (Những Cuộc Phiêu Lưu của Tom Sawyer) hay của O. Henry trong The Last Leaf (Chiếc Lá Cuối Cùng), và The Gift of the Magi (Món Quà Của Các Đạo Sĩ) đã nói lên tính nhân bản trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Mỹ.
      Riêng về tôi, như đã trao đổi với Đức khi em gởi bản thảo cho tôi đọc trước khi in. Tôi có điều chỉnh cho rõ ràng lời giảng của mình lúc phê bình câu tục ngữ “Out of Sight, Out of Mind” và tôi có hỏi Đức là “Are you sincere?” (Có trung thực không?) khi nhận xét bài giảng môn tiếng Anh của tôi minh họa cho môn Triết của thầy Tâm; và không quên cảm ơn Nguyễn Lê Văn đã nối kết thầy Gary Carkin vào với tôi trong khi cùng dạy tiếng Anh lớp đệ Nhất C, đó là một sự phối hợp tình cờ không hẹn trước.
Bài viết của Đức khi mail ra Nha Trang cho tôi hiệu đính, con gái tôi lại thừa dịp mail cho chị gái ở Mỹ, rồi biết được bài viết chưa đăng ở báo nào, cháu liền đăng trên báo của cộng đồng người Việt ở đó. Những độc giả và bạn của con tôi trầm trồ khen ngợi, sau 50 năm mà học trò còn nhớ những lời thầy giảng, lại bày tỏ tình cảm với lòng tri ân sâu sắc với thầy cô như thế thật là hiếm hoi, và như thế, những thầy cô trường Nguyễn Hoàng đã dạy như thế nào mới để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn của học trò.
       Tôi rất thích Robert Frost, người được xem là nhà thơ Mỹ vĩ đại nhất của thế kỷ 20, được mời đọc thơ trong lễ nhậm chức của Tổng Thống Kennedy năm 1961, khi Robert Frost 86 tuổi, chứng tỏ rằng một nước Mỹ dù độc lập hàng trăm năm, mãi đến lúc đó mới coi trọng giá trị của thi ca ngang bằng với thương mãi và kỹ nghệ. Tôi cũng không ngờ những gì tôi giảng về Frost vẫn còn lưu lại trong ký ức của Đức. Điều này minh chứng rằng một hành động đã làm không bao giờ mất cả, như Longfellow trong bài thơ “The Arrow and the Song” khi bắn mũi tên hay hát một bài ca trong không gian, tưởng đã mất nhưng vẫn còn :

THE ARROW AND THE SONG

Long, long afterward, in an oak
I found the arrow, still unbroke;
And the song, from beginning to end,
I found again in the heart of a friend.

                                  Longfellow

TÁI NGỘ

Mãi về sau mũi tên bay ngoài nội,
Vẫn vẹn nguyên trong một gốc sên già.
Và vẹn nguyên cả âm điệu lời ca,
Lại tìm thấy trong tim người bạn ngọc.

                                    Hải Minh dịch

      Cảm ơn các em đã vinh danh thầy cô cũ, dù rằng Đức khẳng định đó là những sự kiện chân thật chứ không phải hư cấu “không bột sao gột nên hồ”. Phải chăng vì thế mà cô Nhã đã nhận định bài viết của Đức là sâm Cao ly cho các thầy cô còn sống, là nén hương lòng đối với thầy cô đã qua đời…
       Tôi không coi đây là tập hoài niệm tường thuật bằng trí nhớ về các bài giảng của thầy cô ngày xưa mà là một tác phẩm, vì tác giả đã đem tâm tình làm sống lại tình thầy trò, bạn bè và sự học tập giảng dạy dưới mái trường Nguyễn Hoàng xưa, đã để lại chút gì trong lòng không chỉ một mà nhiều thế hệ học sinh Quảng Trị.
Sau khi đọc tác phẩm, gấp sách lại, tôi như nghe được một tiếng vang, tiếng vang của một viên đá cuội rơi vào mặt nước giếng tĩnh lặng của lòng mình. Tôi tin chắc các thầy cô giáo cũ cũng như những thầy cô giáo và học sinh ngày nay sẽ cùng chung cảm nhận nếu có cơ hội đọc tập sách nhỏ bé này.
… Tôi chợt thấy lòng rộn lên và mỉm cười khi có một người học trò như thế!

                                  Nha Trang, ngày 27 tháng 08 năm 2017
                                                          Hồ Sĩ Châm

READ MORE - CẢM TƯỞNG CỦA THẦY HỒ SĨ CHÂM KHI “ĐỌC ĐOÀN ĐỨC - HOÀI NIỆM THẦY CÔ GIÁO”

ĐỌC "ĐOÀN ĐỨC - HOÀI NIỆM THẦY CÔ GIÁO" - Nguyễn Lê Văn


         

      ĐỌC "ĐOÀN ĐỨC - HOÀI NIỆM THẦY CÔ GIÁO"
                                                            Nguyễn Lê Văn
         Thầy cô giáo là những người gần gũi trong quãng đầu đời mà ta đã kính trọng, thương mến như ruột thịt, như tri kỷ, thậm chí như người bạn đường thủy chung, như chiếc bóng dẫn đường mà ta không thể nào vượt qua được. Nhưng khi trưởng thành, có lúc phút chốc nào đó, ta cảm thấy thầy cô trở nên xa lạ chỉ còn là những kỷ niệm “quên đi trong nỗi nhớ”.
         Với Đoàn Đức thì không thế, anh viết “Hoài niệm thầy cô giáo” ở cái tuổi “Thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ” (Luận ngữ - Khổng Tử) trong tâm thế tịch chiếu, với tâm thần lặng yên, tự nhiên soi tỏ nên hầu như không sai sót một thứ gì. Bằng trí huệ tưởng như hoằng viễn, với tình cảm phú dật, thênh thang của một tấm lòng, anh đã đưa ta về, đi trên con đường cổ tích, tìm lại những bước chân xưa dù đã tan nhưng vẫn ghi những dấu ấn không thể nào tan được. Những tầng tầng, lớp lớp, những mảng khối ký ức của một thời dĩ vãng, của thầy cô bạn bè “mất còn – còn mất” và cả của chính bản thân anh đã để lại cho chúng ta niềm tự hào nhưng cũng không thiếu những xót xa. Với anh, thầy cô, bản thân, bạn bè, thời dĩ vãng là một thể thống nhất biện chứng không thể tách rời được, “không chỉ khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà ngay cả lúc vào đời”.
         Sinh ra trong một gia đình danh gia thế tộc ở vùng đất Quảng Trị giàu truyền thống “mỉm cười khi thương đau, trăn trở khi hạnh phúc” (Pujarniscle), Đoàn Đức đã thừa hưởng tinh thần hiếu học của cha anh, tính cách dịu dàng, đằm thắm, khôn ngoan, tế nhị của mẹ. Ở tuổi “Thập hữu ngũ nhi chí vu học”, trường trung học Nguyễn Hoàng - Quảng Trị là mảnh đất lành để anh rèn luyện, học tập và “cày xới” trong môi trường giáo dục “Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng”, kế thừa tinh hoa của giáo dục Pháp, cải tiến để phát huy văn hóa của dân tộc, tiếp cận dần nền giáo dục Anh - Mỹ với trách nhiệm quan trọng: Dạy cho con người biết tư duy, có đầy đủ lòng yêu thương, nhân cách và tri thức để làm con người lương thiện, con người tử tế trong xã hội văn minh.
         Khi viết về thầy cô giáo, Đoàn Đức viết theo dòng tư tưởng sôi nổi, không đi theo đường lối có sẵn, ý văn có lúc xô đẩy, khuôn khổ câu văn có lúc tưởng như lung lay. Anh đã “nhớ như thế nào thì viết thế ấy. Nếu chần chừ, ngần ngại e rằng sẽ quên” nên đã khắc họa được chân dung của các thầy cô một cách sắc nét, tự nhiên... giỏi về chuyên môn, bén nhạy trong phương pháp, chuẩn mực trong lối sống, sôi nổi nhưng vẫn đằm thắm trong từng nét riêng chung. Thầy cô đã thực sự trở thành những thần tượng không phải để nhìn ngắm, lễ bái mà để kính trọng, gần gũi, yêu thương và ước mơ...
         Thầy Trương Ngọc Hội, “Người thầy kỳ lạ”, dạy Anh văn lớp Đệ Ngũ 2, Thầy dạy không theo sách dùng trong nhà trường “Practice your English – Book 1” mà dạy theo ý mình.“Thầy chọn thơ và các đoạn trích của chuyện dài hay ngắn viết bằng tiếng Anh như To the moon của Shelley, In the Highlands của Robert Burns...” để giảng dạy. Từ những đoạn trích, ngoài việc dạy kiến thức cơ bản về từ vựng, ngữ âm, văn phạm, kỹ năng dịch thuật thầy đã gián tiếp cho học sinh  biết tình yêu lứa đôi, tình yêu thiên nhiên, cuộc sống đằm thắm, trong sáng, tha thiết, thủy chung... Lý do những giờ cấm túc, thầy phê “Ném đóa hoa hồng muộn”, “hành lang học vấn”, “hành lang sự thiện”... như muốn chuyển đến cho học sinh tư duy hình tượng, làm quen dần với những ẩn ngữ. Thầy Hội không phải là “người thầy kỳ lạ” mà là một nghệ sĩ tự do, ươm mầm cho cái đẹp tri thức, khai mở những khoảng lặng tình yêu đang âm ỉ, nhen nhóm trong tâm hồn của lứa tuổi 15 – 16. Thầy Hội ra đi, để lại một khoảng trống trong dòng hoài niệm của Đoàn Đức, chỉ còn lại vọng âm của nỗi nhớ: Tom – No answer! Tom – No answer!
         Cô Nguyễn Thị Nhã, dạy Văn năm Đệ Lục, dạy Văn và Chủ nhiệm năm Đệ Tứ, là cô giáo mà Đoàn Đức “đã quý mến nhất”. Một cô giáo mẫu mực, giàu lòng yêu thương.
         Như một “kỹ sư tâm hồn”, cô dạy cho học sinh biết sắp xếp “những viên gạch” của luật bằng trắc, cách gieo vần đơn giản, “Nhất tam ngũ bất luận - Nhị tứ lục phân minh”, đến việc lắp ghép các khối sắt thép, “đối trên - dưới”, “đối liên châu”; biết phân tích, tổng hợp của một kết cấu chi tiết và tổng thể các công trình thơ Lục bát, thơ Đường... Như một “kiến trúc sư tâm hồn”, cô hướng dẫn cho học sinh của những “bản vẽ thiết kế” khác nhau về truyện Kiều của Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim và của Tản Đà đã gây nhiều tranh cãi. “Kín cổng” hay “Kín cống”, hiểu thế nào về “Sắc đành đòi một, tài đành họa hai” của Thúy Kiều. Cô đã chuyển đến cho học sinh biết tư duy độc lập, giá trị của các công trình phải luôn mới lạ, có tính sáng tạo cao: “Nhà phê bình không thể đi trên lối mòn mà phải biết đứng trên vai của người khổng lồ để thấy xa hơn”.
         Điều đáng trân trọng, cô thường xuyên có mặt kịp thời để chia sẻ, động viên học sinh của mình trong những lúc vui cũng như những khi gặp khó khăn. Dẫu rằng, hôm nay cô đã đi xa nhưng chắc chắn các học trò thân yêu của cô vẫn mãi mãi yêu kính, nhớ thương, trân trọng những lời căn dặn về lẽ sống: “Cô tin chắc các em sẽ thành công tốt đẹp trước những thử thách của cuộc đời. Bởi dụng Đức và dụng Nghĩa thì bao giờ cũng Thắng”. Lời nhắc nhủ ân tình ấy, chắc sẽ theo Đức, Nghĩa và Thắng suốt cả cuộc đời.
         Lên Đệ Nhị Cấp, anh học Pháp văn với cô Nguyễn Thị Thanh, Anh văn với thầy Hồ Sĩ Châm và thầy Gary Carkin. Cô Nguyễn Thị Thanh, cô giáo rất trẻ - đẹp mới ra trường, có nhiều hoài bão nhưng không thoát khỏi tâm trạng hồi hộp, lo lắng, “run sợ” trước các trò nghịch ngợm, trêu phá của những học sinh “hai phần là trẻ con, một phần là người lớn”. Rồi những trò “tinh nghịch ghê gớm nhưng lại rất dễ thương” của đám “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” ấy bắt đầu xuất hiện: “Thưa cô, Je t’aime!”, rồi “Je vous aime!” và kết thúc: “Thưa cô, Je t’aime và Je vous aime khác nhau thế nào?” đã làm cô ngạc nhiên, “kinh sợ” tưởng như học sinh “vượt ngưỡng”. Cô lắng nghe, giải thích thỏa đáng “cùng với nụ cười hiền, chất giọng ấm áp rất hay” đã để lại trong tâm hồn của học sinh thông minh tinh nghịch niềm cảm phục và hình ảnh đẹp của cô giáo. Những giờ dạy, cũng từ đó, như có ma lực hấp dẫn và cuốn hút, giúp học sinh tự nguyện đi vào cõi tri thức bằng những bước thênh thang vững chắc.
         Sau khi tốt nghiệp Tú Tài bán phần, hai phần ba đứa trẻ trong các anh đã chuyển hóa, các học sinh đã thực sự trở thành người lớn. Ở lớp Đệ Nhất, môn Anh văn do thầy Hồ Sĩ Châm, tốt nghiệp B.A. ở Mỹ cùng với thầy Gary Carkin giảng dạy. Thầy Hồ Sĩ Châm truyền thụ kiến thức văn học Anh - Mỹ chính thống. Qua bài kiểm tra đầu tiên: “Education is a preparation for life” (Giáo dục là chuẩn bị cho cuộc sống) như một lời căn dặn: Những ước mơ mà không nghị lực cũng trở thành vô dụng. Chỉ có học hành chăm chỉ, giỏi giang mới biến được những ước mơ thành hiện thực. Thầy xem việc dạy kiến thức cho học sinh cũng là phương tiện, biện pháp truyền thụ tư duy độc lập: Điểm số chỉ là nấc thang cho học sinh tự đánh giá chính bản thân mình. Đúng hay sai, tốt hay xấu là tùy cách nhận định của mỗi người. Nếu ta nghĩ như vậy thì sẽ là như vậy... Chân lý không nằm bên kia dãy Pyrénée mà nằm ngay trước mắt, có thể nắm bắt và sờ mó được. Có như thế mới hội nhập được với cuộc sống.
         Thầy Gary Carkin, song hành, phối hợp công việc của thầy Hồ Sĩ Châm. Thầy đã chắp thêm đôi cánh cho học sinh thường xuyên tiếp cận với đời sống xã hội hiện thực bên ngoài. Thầy xem việc rèn luyện kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết; hiểu rõ tính chất xã hội của ngôn ngữ là những yếu tố quyết định. Thầy đã cho học sinh thể nghiệm trong các buổi sinh hoạt Câu lạc bộ để học sinh tập xoay xở trong giao tiếp. Những câu chuyện Đoàn Đức kể về ngày Tết, việc giúp học sinh tìm kiếm việc làm thêm... Thầy không chỉ thể hiện tình cảm chu đáo mà đã giúp cho học sinh tập dần với cách sống tự lập, biết bươn chải, tiếp cận với xã hội văn minh. Nếu xem thầy Hồ Sĩ Châm như huấn luyện viên trưởng thì thầy Gary Carkin là huấn luyện viên kỹ thuật tài ba giúp cho học sinh của mình “chân cứng đá mềm” chuẩn bị bước vào sân cỏ của cuộc đời.
         Hai người thầy có nhiều tác động đến Đoàn Đức là Thầy Trần Thương Bá và Thầy Lê Mậu Tâm. Thầy Trần Thương Bá, dạy Văn lớp Đệ Tam C, không chỉ là một nhà giáo tâm huyết mà còn là một nghệ sĩ tài hoa thổi hồn vào những tri thức khô cứng. Trong giảng dạy, thầy thường sử dụng lối nói “Chi ngôn” (Chi ngôn nhật xuất – Hòa dĩ thiên nghê – Trang Tử). Khi giảng ngôn ngữ qua cấu trúc của ca dao, với hình ảnh “Cành hoa sen”; dạy chinh phụ ngâm với ngữ nghĩa “Thanh thanh hữu lưu thủy... Thanh thanh hữu phương thảo...”, dạy những ẩn ngữ “ngôn chi ngôn”, “ý tại ngôn ngoại”, “huyền ngoại chi âm”... thầy muốn cho học sinh hiểu: “Trong thơ còn có thơ, khi dịch hành đến cuối con đường tư tưởng, triết học sẽ biến thành thơ nhạc mênh mông”. Khi cùng thầy mở ra cuộc Hội thoại với tư tưởng Đông Tây, anh và thầy cùng lúc sử dụng cả chi ngôn, ngụ ngôn, trùng ngôn, phản ngữ hầu mong đạt đến cõi vô ngôn trong lời. Có lúc nghe ra cũng “bất khả tư nghì”.
         Thầy Lê Mậu Tâm dạy Triết Đệ Nhất C. Thầy không là triết gia nhưng tâm hồn, tư tưởng, lối sống, tình cảm... là của một thức giả. Thầy muốn cho học sinh của mình nghe ra “ẩn ngữ trong những lời vô ngôn” của những bài học Siêu hình, Tâm lý, Luận lý, Đạo đức học. Hình ảnh của Sisyphe bị thần Zeus trừng phạt, lăn đá và đá lăn, một vòng đời mệt nhoài, nghiệt ngã đã cho anh cảm nhận: Thầy “nhằm lôi kéo ta ra khỏi đời sống vô thức của những sinh hoạt hàng ngày, bắt buộc ta phải thức tỉnh, vấn đề cấp bách nhất là sống để làm gì?”. Chứng kiến năm tháng cuối đời thầy Trần Thương Bá cứ quẩn quanh trong “... Tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày” (Lê Tuyên); Thầy Lê Mậu Tâm đã hóa thân thành Sisyphe, suốt ngày chẳng cười nói, “sáng chiều chỉ với cái cuốc và bình nước trên vai, lên nương hay ra ruộng rồi về nhà”, anh cũng chỉ biết dằn vặt và xót thương. Bạn bè, có người bảo anh sao lại không đem trần gian dấu vào hạt bụi mà đem trần gian dấu vào trần gian bụi bặm để cho mọi người thống thiết! Nhưng thôi, cánh cổng Đoạn trường vô thanh mở ra nay cũng đã khép lại rồi!
         “Hoài niệm về thầy cô giáo” cũng đã thấp thoáng những khuôn mặt bạn bè chí cốt của Đoàn Đức. Họ là những học sinh hồn nhiên, thông minh, nghịch ngợm với những trò “nghịch ngợm-thông minh”. Nguyễn Đình Hạnh, một người trong nhóm bạn thân của anh, trong “Thương quá Nguyễn Hoàng ơi!”, đã phác thảo những bức ký họa chân dung tuyệt vời: “Với Nghĩa triết gia – thi sĩ... Cứ một lần tâm sự là luôn hỗn mang theo William Faulkner, John Updike, J.P. Sartre... với bao suy tư khắc khoải... Với Quang bách khoa toàn thư, môn nào cũng “sơ-mi”, chỉ môn tán gái là không ra gì cứ bị mấy em mượn vở, mượn bài mà không chịu trả... Với Thắng tài hoa, chững chạc, bản lĩnh cao cường... Với Lê Mậu Minh trầm tư suy tưởng theo Aristote, Platon, Socrate... Với Hạnh chỉ biết tơ tưởng suốt ngày theo Hoài Khanh cùng Appolinaire, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng...” Dù mỗi người một hoàn cảnh khác nhau, tính cách khác nhau, khát vọng khác nhau nhưng có cùng chung mục đích là chăm chỉ, học hành giỏi giang vì họ biết đó là con đường ngắn nhất, đúng nhất để chiếm lĩnh tri thức. Họ như những hòn đá ném xuống nước thì sẽ tự tìm con đường ngắn nhất để rơi xuống đáy.
         Với Đoàn Đức ngày ấy, Nguyễn Đình Hạnh đã khắc họa một chân dung thật chính xác “Đoàn Đức savant, chải chuốt, lịch duyệt, điệu đàng, thông thái, sắc sảo, khôn ngoan...”. Chân dung ấy cũng đã tỏa sáng và xuyên suốt tập “Hoài niệm thầy cô giáo”. Anh là phiên bản của Trương Vô Kỵ trong “Ỷ Thiên Đồ Long Ký” của Kim Dung với tài hoa tuyệt đỉnh, khoác bên ngoài tấm áo “Hình dong chải chuốt – áo khăn dịu dàng” (Kiều) nên có nhiều bạn bè cậy nhờ anh làm “chim xanh” với những thấp thỏm trông tin. Nhưng mười lần như một, anh chỉ mang về cái lắc đầu kèm theo lời khuyên “thôi, quên đi!”, vì ... không nói được. Anh đã phải chịu bao nhiêu “oan trái ngọt ngào” với Ân Ly, Bất Hối, Tiểu Chiêu... để trọn vẹn một tấm lòng khắc cốt minh tâm với Triệu Mẫn.
         Ở tuổi “Tam thập nhi lập”, rời trường Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa Huế, anh về giảng dạy tại các trường Trung học Triệu Phong (Hòa Khánh), Nguyễn Hoàng (Non Nước) tại Đà Nẳng... rồi sau đó theo đoàn lưu dân Quảng Trị vào dạy học ở Bình Tuy, Bình Thuận. Yêu nghề, yêu người, yêu học sinh, anh đã đem hết “sở tồn làm sở dụng”, anh đã sớm xây dựng được “tượng thần” trong tâm hồn học sinh như thầy cô giáo cũ.
         Thế rồi gặp lúc “Cơ trời dâu bể đa đoan”, trong giai đoạn khó khăn chung của đất nước, thầy giáo cũng phải tham gia lao động sản xuất để “tự cứu” nên  “ngày thường mặt úp xuống đất, lưng trông trên trời, chỉ trừ những lúc cầm phấn lên bục giảng mới được thẳng lưng”. Có lúc anh đã băn khoăn với nhiều trăn trở: Mình sống hay chỉ là tồn tại!
         Đến tuổi “Tứ thập nhi bất hoặc”, nhìn lại bạn bè, người chuyển ngành, người đổi nghề; chứng kiến mười lăm năm gió bụi của thầy Trần Thương Bá, đứng trước mộ phần của thầy Lê Mậu Tâm, anh như nghe được tiếng rạn nứt, những tiếng rơi loảng xoảng cuả những tượng thần ... Anh đã quyết chí “dứt áo ra đi”, gửi lại sáu con thơ cùng với trăm ngàn lo toan cho người vợ hiền chân yếu tay mềm, tảo tần, bươn chải nơi vùng nắng gió Bình Tuy với niềm tin “Après la pluie vient le beau temps”.
         Thành phố Sài Gòn thời mở cửa, các công ty nước ngoài Hàn Quốc, Nhật Bản đã tiếp nhận muộn một tài năng, sẵn sàng hòa nhập với nền kinh tế thị trường. Ở tuổi “Ngũ thập tri thiên mệnh - Lục thập nhi nhĩ thuận”, như có chiếc đũa thần của tri thức và vốn liếng dạn dày kinh nghiệm, anh chị và bảy đứa con, trong hai mươi năm, đã dựng lên những cửa hàng, nhà máy, công ty ... ở Tánh Linh, Đức Linh, Đại Ninh, Sài Gòn... còn vươn xa đến Hàn Quốc, Nhật Bản... Anh không tự ngắm mình trước những thành quả, bởi vì anh biết, trong đó có sự đóng góp trí tuệ, tài năng của những đứa con anh và nhất là của người bạn - người yêu - người vợ đảm đang Cao Thị Thanh Nhàn. Chị đã giúp anh biết được mục đích của cuộc sống, cùng anh đi đến hạnh phúc của một đời người.
         Viết “Hoài niệm thầy cô giáo”, nhìn lại mình, chắc anh đã cảm nhận được con đường trở về quá khứ, càng đi càng xa. Có lúc, anh chắc đã cảm nhận được tứ bề vắng lặng mênh mông như nghe được hơi gió lạnh buốt từ vô cùng đưa đến! Khi giao tập bản thảo cho tôi, anh băn khoăn vì không viết hết thầy cô giáo, bạn bè của một thuở... Tôi mỉm cười, đọc cho anh nghe “Tứ cú kệ đẳng” trong kinh Kim Cương: “Nói để mà nói – Viết để mà viết - Phật đông, Phật tây - Phật nào cũng là Phật” và tâm sự cùng anh rằng, tất cả thầy cô của chúng ta, dù đã ra đi hay còn ở lại sẽ sống mãi trong trái tim, trong ký ức của chúng ta như mảnh trăng lưỡi liềm trôi trong bầu trời xanh thẳm. Anh nắm chặt tay tôi rồi bước đi như chiếc bóng lênh đênh bên trời!
         Tôi tin, “Hoài niệm thầy cô giáo” sẽ ở lại lâu dài trong tâm hồn thầy cô, bạn bè và độc giả
   
                                                          Huế, tháng 6/2017
                                                            Nguyễn Lê Văn

READ MORE - ĐỌC "ĐOÀN ĐỨC - HOÀI NIỆM THẦY CÔ GIÁO" - Nguyễn Lê Văn

GIÁ NHƯ… GIÁ NHƯ - Thơ Quang Tuyết


                           Tác giả Đinh Quang Tuyết



GIÁ NHƯ… GIÁ NHƯ

Nếu tình là viên kẹo nhỏ 
Ngọt ngào trên môi đắm say 
Mỗi lần vắng nhau thì nhớ
Thì đâu lần lửa đêm ngày

Giá như Hạnh Phúc trong tay
Nợ duyên se thành chỉ thắm
Cột đời đôi mình đầm ấm
Vôi hồng cau ngọt trầu cay

Dù chỉ là duyên rách nát 
Hay hoa úa rụng bên trời 
Dù chỉ tàn tro bếp lạnh
Cũng ân ái mộng rạng ngời

Giá như ta của riêng nhau.
Một trời hoa mộng tình sâu
Thì đêm là hương huyền diệu
Để ngày khúc nhạc bay cao

Giá như tình mãi là xuân
Trái tim như thỏi kẹo hồng
Mềm ngọt môi em mãi mãi
Thuyền anh neo bến xuân nồng

                         Quang Tuyết

READ MORE - GIÁ NHƯ… GIÁ NHƯ - Thơ Quang Tuyết

HOA NGỌC LAN - Ảnh của Chu Vương Miện


READ MORE - HOA NGỌC LAN - Ảnh của Chu Vương Miện

CHÙM THƠ TỊNH ĐÀM


            Tịnh Đàm


HẸN...

Tôi ngồi như hẹn chốn này
Nhiều khi nắng bụi làm cay mắt người
Biết đâu một thoáng môi cười
Cũng nghe xao động góc trời tôi quen
Tôi ngồi như hẹn cùng em
Buồn.Tay gõ nhịp leng keng thay lời
Phút giây đợi đến dài hơi
Vẫn là tôi... chút bồi hồi trong im.


CHIỀU

Anh đem chiều gởi vào thơ
Cũng mùa thu cũ tím mờ bóng ai
Sầu đong bao nỗi u hoài
Trăm năm đời có đủ dài nhớ thương ?!?


RU MÃI ĐỜI NHAU

Ru là ru...
Mối tình son
Ru em
Thiếu phụ
Vẫn còn hồn nhiên
Ru là ru...
Nỗi muộn phiền
Ru tôi đầu bạc
Trắng miền ước mơ
Ru là ru...
Đến bao giờ
Ru em cùng với tôi
Chờ chiêm bao .
Ru là ru...
Mãi đời nhau
Ru quên số phận
Mai sau
Cũng đành !

Tịnh Đàm
(Hóc Môn, TP. HCM)

READ MORE - CHÙM THƠ TỊNH ĐÀM

TRĂNG LÊN - Thơ Lệ Hoa Trần





TRĂNG LÊN

Đã bao mùa- mùa đã đi qua
Rồi lại đến, thay nhau trình tự
Đã bao lần chôn vùi quá khứ
Bảo rằng quên, nhưng có quên đâu

Mỗi trăng lên là nhớ ngày đầu
Ngày hai đứa hẹn hò trước bãi
Nhớ bàn tay, nhớ vòng ân ái
Người đã dành suốt trọn thâu đêm 

Giờ chia xa góc núi, đầu ghềnh
Tình ngày ấy đi vào quên lãng
Anh có lẽ! Và, em đang....gắng
Muốn quên dần những kỷ niệm xưa

Nhưng không biết bao lần tự hứa
Rồi cuối cùng cũng nhớ anh ơi
Bởi, vì trăng cứ mãi lả lơi
Khoe sắc thắm trên dòng nước bạc.

                               Lệ Hoa Trần
                               17-09-2017

READ MORE - TRĂNG LÊN - Thơ Lệ Hoa Trần

TÌNH KHÚC THÁNG 9 - Thơ Nhật Quang




TÌNH KHÚC THÁNG 9

Hạ còn vương bên thềm giọt nắng
Hoàng hôn rơi, mây tím chiều phai
Qua đêm dài bình minh gọi ban mai 
Có hương gió Thu về man mác

Bên hiên lá úa nhàu lác đác
Gọi Thu vàng, đóa cúc lao xao
Nghe bâng khuâng kỷ niệm hôm nào
Ta bên nhau, đêm mộng đầy vương vấn

Quán khuya, ly Cà phê nồng ấm
Ngọt môi mềm, ánh mắt thầm trao...
Phút bồi hồi, lòng anh chợt xuyến xao
Yêu em lắm, nhưng nào đâu dám ngỏ...

Lời yêu thương anh ướp nồng trong gió
Gởi về em hương tình thắm lung linh
Đôi má hồng em rạng rỡ cười xinh
Anh bỗng nghe rưng rưng niềm hạnh phúc

Em ơi! Vườn Thu vẫn vàng hoa cúc
Hương tình vẫn ngan ngát thiết tha
Mùa Thu đến ươm vạt nắng chan hòa
Anh nhớ mãi khúc tình ca tháng 9.

                                Nhật Quang
                                 (Sài Gòn)

READ MORE - TÌNH KHÚC THÁNG 9 - Thơ Nhật Quang

TIẾNG CHIM TRÊN DÒNG SÊ-RÊ-PỐK - Thơ Nguyễn An Bình





TIẾNG CHIM TRÊN DÒNG SÊ-RÊ-PỐK

Có tiếng chim lạ quá
Hót vang cả đôi bờ
Trên dòng Sê-rê-pốk*
Khúc tình ca trong mơ.
Gọi em về bên suối
Ché rượu cần say nồng
Bếp lửa hồng mở hội
Tiếng cồng chiêng mênh mông.
Ai đi trên độc mộc
Thuyền trôi trong sương mờ
Cánh pơ lang cháy đỏ
Chim hót hòa sóng xô.
Bao thác ghềnh hùng vĩ
Dray Sáp, Đray Nur**
Cầu treo mang huyền thoại
Cuồn cuộn tình anh trao.
Đàn T’rưng rộn rã
Cánh chim của đại ngàn
Mùi cơm lam ấm lửa
Chảy qua bao buôn làng.
Em địu gùi lên rẩy
Chân qua ngàn suối khe
Hương bay tràn lên tóc
Thơm suốt mùa cà phê.
Vút cao trên triền sóng
Nắng gọi bình minh lên.
Anh thành chim bay mãi
Hát tình ca Tây Nguyên.

          Nguyễn An Bình


*Sông Sê-rê-pốk: Bắt nguồn từ phía nam Trường Sơn, hợp lưu từ hai dòng Krông Ana(Sông Cái) và Krông Knô(Sông Đực)hình thành hoàn toàn trên Đắk Lắk, dòng chảy ngược về phía Campuchia.
**Đray Sáp: thác chồng, thuộc tỉnh Đăk Nông; Đray Nur: thác vợ, thuộc tỉnh Đắk Lắk.

READ MORE - TIẾNG CHIM TRÊN DÒNG SÊ-RÊ-PỐK - Thơ Nguyễn An Bình

QUY NHƠN - Thơ Nguyễn Ngọc Kiên


          Nguyễn Ngọc Kiên



QUY NHƠN
(Tặng PGS – TS Phạm Văn Tình)

Anh mang Hà Nội tới Quy Nhơn (1)
Gió bão ngoài khơi giật từng cơn
Tha thiết hẹn anh ngày trở lại
“Phong ba bão táp” (2) cũng gần hơn!

                        Nguyễn Ngọc Kiên
                   Quy Nhơn, 16 / 9 / 2017

(1) Ngày 16 / 9 / 2017 Hội nghị Ngôn ngữ học toàn quốc do PGS – TS Phạm Văn Tình, Tổng thư kí Hội Ngôn ngữ học VN   đồng tổ chức đã diễn ra tại Trường Đại học Quy Nhơn, Bình Định. Trước đó BTC đã chuyển bằng ô tô hơn chục kiện hàng (400 kg) gồm 2 tập kỉ yếu dày gần 2000 trang vượt qua bão tố trong đêm tới Quy Nhơn cho kịp giờ Hội thảo.
(2) Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam, tục ngữ tiếng Việt.

READ MORE - QUY NHƠN - Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

BÂNG KHUÂNG... - Thơ Hiệp Kim Áo Tím



           Tác giả Hiệp Kim Áo Tím



BÂNG KHUÂNG...

Thu vàng qua ngõ nhà ai
Để cho hoa cúc nhạt phai bên thềm
Hoa rơi cánh mỏng êm đềm
Bên đồi hoa trắng hòa thêm sắc hồng

Nhẹ nhàng những chiếc lá thông
Bay trong gió thoảng buồn trông người về
Bao mùa lá rụng bên tê
Bâng khuâng một thoáng mơ về... chốn nao.

Sương buông nhẹ khói lên cao
Hồ thu gợn sóng lòng sao vương buồn
Con đường xưa cũ thân thương
Ngày xưa sóng bước bên đường cùng ai...

                               Hiệp Kim Áo Tím
                                Dalat,19/9/2014

READ MORE - BÂNG KHUÂNG... - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

BÃI TRIỀU TRONG PHỐ BIỂN - Chùm thơ Lê Thanh Hùng


Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Bãi triều trong phố biển

Góc phố cong cong, mòn sợi nắng
Đưa chiều trong, giăng mắc tình em
Treo lơi lả mười năm đằng đẵng
Một vụng tình buông đẫm bên thềm ...
                    *
Chiều trôi êm êm, ngày thơ dại
Tuổi rong chơi, ngã bảy, ngã ba
Đưa em qua đầu bờ, cuối bãi
Phố biển xưa, đậm nhạt, mờ xa ...
                    *
Anh, con cá thòi lòi bên phố
Thao láu nhìn từng bước em qua
Ngúc ngoác bãi triều rơi lổ chổ
Giọt đời chìm, trôi nổi phù hoa
                      *
Thôi buông thả tháng ngày xanh mướt
Kỷ niệm xưa đằm thắm trong chiều
Đâu hình bóng mi cong cổ mượt
Quẩn nơi này cả một đời yêu ...
                                L.T.H.


Nhớ

Vòng tay đắm đuối rã rời
Chìm trong tiếng nấc, rối bời đếm đong
Mười năm tình, có còn không?
Tan trong đêm vỡ, ngày mong ngóng người
                                     L.T.H.

Lỡ hẹn

Trời trở gió
Quẩn bờ
Lạc sóng
Em đánh rơi
Thảng thốt
Lời yêu
Con sóng chạy
Trôi điều ảo vọng
Quặn thắt treo
Bến vắng, chợ chiều
                L.T.H.


Em về cùng nắng vàng thu

Em đến, nắng thu vàng vội vã
Hong làn mây xám, rực hồng lên
Chợt vướng trâm cài bên kẻ lá
Buông thả rơi bóng nắng quanh thềm
                      *
Một khoảng lặng, mờ cong bức bối
Vung vãi rơi, lá đổ nghiêng chiều
Có một chút gì như giận dỗi
Bước âm thầm trong gió, liêu xiêu ...
                      *
Chợt quay quắt, xoay tà áo mỏng
Bung biêng rơi, ký ức nhạt nhòa
Gió bấc trở, mùa thu căng mọng
Dấu đường xưa, tràn ngập cỏ hoa
                      *
Em đến, mùa thu còn để ngỏ
Một sắc vàng, thương nhớ ngày xưa
Bờ cỏ non tơ, chiều quẩn gió
Rối lòng ai, dịu ngọt đẩy đưa ...
                       *
Còn không? Khúc hoan tình năm cũ
Trong chiều giăng ráng đỏ thắm tươi
Hây hẩy gió bấc ru dẫn dụ
Chợt vang lên, tiếng trẻ con cười ...
                 VII/17
                Lê Thanh Hùng

                Bình Thuận
READ MORE - BÃI TRIỀU TRONG PHỐ BIỂN - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

BỨC TRANH QUÊ - Thơ Cao Minh Lục


Tác giả Cao Minh Lục

BỨC TRANH QUÊ
Cao Minh Lục


Vui thú điền viên cảnh nước mây
Dưới sông, hồ, rạch cá tôm đầy
Chim về hót rộn vườn hoa trái
Ếch nhái ềnh oàng kêu đó đây...!
* * *
Lúa trổ hương đồng gió nội xa
Không đâu êm đẹp bằng quê nhà!
Gió nồm rào rạt bờ tre ruộng
Gà gáy ban trưa nghe thiết tha...
* * *
Khói tỏa lam chiều mùi rạ rơm
Trăng lên, mùa gặt, bên mâm cơm
Trâu về chuồng ngủ nằm nhai lại
Hoa bưởi, cau vườn hương tỏa thơm...
* * *
Lãnh lót đầu đình tiếng hát ai?
Hai cô thôn nữ tát gàu đai !
Cụ già ngồi quạt vo ve muỗi
Bát nước chè xanh ngon, uống hoài...!
* * *
Thấm thoát thời gian thay đổi thôi
Sáng trưa chiều tối..., nắng phai rồi!
Tha hương, trắc ẩn hoài hương nỗi
Khung cảnh thanh bình quê cũ tôi...!

(ĐN 23/09/17.CML)
READ MORE - BỨC TRANH QUÊ - Thơ Cao Minh Lục