Chúc Mừng Năm Mới

Văn Nghệ Quảng Trị kính chúc quý nhà thơ, nhà văn cọng tác viên và quý bạn đọc Năm mới 2017 Đinh Dậu VẠN SỰ AN LÀNH

Friday, June 30, 2017

CẢM NỖI NON TAN TRONG BÀI THƠ “TRÊN ĐỈNH CHON VON” CỦA HẠ THÁI TRẦN QUỐC PHIỆT - Châu Thạch



             Nhà thơ Châu Thạch



CẢM NỖI NON TAN TRONG BÀI THƠ  “TRÊN ĐỈNH CHON VON” CỦA HẠ THÁI TRẦN QUỐC PHIỆT

Tôi đã đọc hàng ngàn bài Đường thi và viết lời bình cũng gần trăm bài, nhưng có lẽ “Trên Đỉnh Chon Von” của Hạ Thái Trần Quốc Phiệt cho tôi có cảm tưởng đây là một bài thơ đột phá cái võ bọc cứng nhắc của thơ Đường. Cái võ bọc ấy khiến cho mỗi bài thơ Đường dường như một đoá hoa không nở hết. Bài thơ cho tôi nhớ đến “Qua Đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan. Ở đây Hạ Thái Trần Quốc Phiệt cũng mang tâm trạng ấy nhưng ông không đứng ở lưng đèo mà đứng tận trên đỉnh chon von của một ngọn núi nơi miền giá lạnh. Chỉ cái đầu đề “Trên Đỉnh Chon Von” đủ mở ra trước mắt ta một bầu trời bao la và một khung cảnh núi non hùng vĩ. Tự điển giải thích “chon von” là trơ trọi trên cao, không có chỗ dựa chắc chắn. Vậy thì người đứng trên đỉnh chon von chắc chắn sẽ cảm thấy cô đơn, và cô đơn ấy sẽ trở nên cùng tận nếu chỉ đứng một mình với đầy tâm trạng  trong lòng. 
Hạ Thái Trần Quốc Phiệt ngồi trên đỉnh chon von để làm gì? Hãy đọc hai câu thơ mở đầu sẽ hiểu:

Ngồi trên đỉnh núi ngắm vầng trăng
Đọc những dòng thơ tặng chị Hằng

Hai câu thơ mở đầu cho ta tất cả sự sảng khoái của tâm hồn. Ta sẽ thấy đẹp biết bao hình ảnh người thi sĩ ngồi giữa thiên nhiên hùng vĩ đọc thơ cho trăng nghe. Thi sĩ đời nầy thường đọc thơ bên bàn rượu, trong phòng trà, hay cùng lắm bên vỉa hè nào đó có xe cộ đi qua. Thi sĩ đời nầy mấy ai lên núi cao đọc thơ? Đến các nhà tu hành cũng xuống núi kiếm tiền huống chi là thi sĩ. Nhưng đọc hai câu thơ trên hồn ta quay lại với sự lãng mạn của một thời xa xưa, thời các đạo sĩ, ẩn sĩ còn trên núi cao, hay một thời “lên non tìm động hoa vàng’ của Phạm Thiên Thư ở thế kỷ trước. Đọc hai câu thơ trên ta cũng cảm ơn đời, vì sự xô bồ của đời nay chưa cuốn hút hết kẻ sĩ, vẫn còn nhà thơ lên đỉnh chon von đọc thơ cùng trăng gió, nghĩa là đời nay không hẳn chìm trong cõi tục, còn có kẻ muốn làm tiên.
Hạ Thái Trần Quốc Phiệt muốn làm tiên, mà cao hơn nữa không phải một thứ tiên biết biến hoá. Nhà thơ chỉ muốn làm một thứ tiên lạ kỳ, một thứ tiên chỉ đào tuyết vạch mây để nhặt thơ. Lạ lùng thay, nhà thơ tìm tài sản trong tuyết và mây, thứ tài sản quý giá mà nơi thấp không có, phải lên đỉnh chon von mới tìm thấy được:

Thử vạch mây xanh tìm ý mộng
Và đào tuyết trắng kiếm mầm văn

Vế luận của bài Đường thi cho ta thấy gì? Thấy nhà thơ lặn lội đi tìm cái đẹp, đi tìm cái niềm vui thư thái cho tâm hồn. Lên cao để nhìn thiên nhiên, tìm thơ trong thiên nhiên là tìm “nguồn trong trẻo vô biên” là tìm “sợi dây quyến luyến” của Hàn Mạc Tử để hoà nhập vào chân lý vô vi của Lão Tử. Trong mây có mộng, trong tuyết có mầm văn, phải vạch ra và đào lên để tìm là một tư duy nẩy mầm thơ đẹp. Tác giả đào cái ý đó , vạch cái tứ đó nằm tiềm tàn trong đầu mình cũng quý hiếm chẳng khác chi mộng trong mây và mầm văn trong tuyết mà nhà thơ đã khám phá tuyệt vời, đưa vào thơ tuyệt hảo.
Rồi thì nhà thơ đi ngược lại phương pháp sáng tác Đường thi mà đời xưa đã dạy cho thi sĩ đến đời nay. Đường thi ở câu luận là phải mở rộng ý thơ, bàn sâu vào cái đầu đề đã đặt ở trên, nghĩa là phải làm cho “Trên Đỉnh Chon Von” đầy thơ và đầy mộng hơn nữa như vế mở, vế trạng của bài thơ vừa đề cập đến. Không! Nhà thơ Hạ Thái Trần Quốc Phiệt không làm như thế, ông quay ngoắt 180 độ, đưa bài thơ từ sự an tịnh thư thái tâm hồn bước qua vực thẳm, vực thẳm của nỗi đau buồn, khóc than và rên xiết:  

Thấm niềm thác vỡ than nhân thế
Cảm nỗi non tan khóc đất bằng 

Ta thấy rằng bà Huyện Thanh Quan qua Đèo Ngang, nhìn thấy cảnh khô cằn của “cây chen đá/ Lá chen hoa/ Tiều vài chú/ rợ mấy nhà” thì chạnh lòng “ nhớ nước/ Thương nhà” là đúng quy luật Đường thi. Ở đây Hạ Thái đang “Ngắm vầng trăng” đọc thơ “tặng chị Hằng, đang “vạch mây tìm mộng”, “đào tuyết kiếm mầm văn” thì bỗng nhiên bi luy “than nhân thế” và “khóc đất bằng”. Như thế, bài thơ có nghịch lý hay chăng? Không. Bài thơ không nghịch lý mà còn độc đáo vô cùng, mở ra một chân trời mới cho phương pháp Đường thi với những ai cứ khư khư, câu nệ theo cái luật từ thời xa xưa để lại. Đọc tiểu sử bà Huyện Thanh Quan, ta biết bà có cái tâm trạng hoài Lê, nhưng cái tâm trạng của bà chỉ hướng về quá khứ của cha ông mà bà không tường tận mấy. Do đó nổi hoài cảm của bà nhẹ nhàng khơi dậy theo trình tự đối cảnh sinh tình. Hạ Thái Trần Quốc Phiệt không thế, nhà thơ là người trong thời cuộc, vết thương hằn sâu trong tim vỡ ra, rỉ máu bất kỳ lúc nào, kể cả khi đang vui hay lúc mình đang thụ hưởng. Đứng trước trời bao la, núi non hùng vĩ và sự cô đơn trên đỉnh chon von, tầm mắt nhà thơ phóng xa và quê nhà bỗng hiện lên trong tâm tưởng. Cơn đau vụt đến, đất trời hiện hữu không còn nữa, thay vào đó một đất trời xa xưa với thác vỡ, với non tan hiện ra làm quặn thắt tâm hồn. Ai đã từng bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ quê hương đi lưu lạc xứ người có lẽ không lạ gì những phút đau thương như thế. Hạ Thái Trần Quốc Phiệt làm thơ hiện thực, không phải thứ hiện thực phơi bày lộ liểu sự kiện xảy ra, mà là diễn tả thực tế biến chuyển hiện tại trong lòng mình, tài tình làm cho nỗi đau của chính mình, của thế hệ mình hiện hữu giữa đất trời cao rộng, nên cũng cao rộng như đất trời.  
Vế chót bài thơ tác giả cô đọng đất trời vào một điểm. Điểm ấy là điểm đứng của tác giả mà cũng là điểm đau trong lòng mình:

Nơi cõi chon von cao chất ngất 
Trời gần sao vẫn buốt hơn băng.

Phải hiểu rằng tác giả đứng một mình. Một mình nơi cõi chon von cao chất ngất để nghĩ về quê hương, về sơn hà thì cái chon von ấy, cái chất ngất ấy không còn biết tới cảnh vật quanh mình, nó gậm nhấm ở trong lòng mình. Trời gần mà không nóng, mà buốt hơn băng, chứng tỏ băng cũng ở trong lòng mình. Hai câu thơ ném con người lên đỉnh cao, đỉnh cao của cô đơn, đỉnh cao của bi thương, xoá trọn vầng trăng bàng bạc, xoá trọn mây xanh và tuyết trắng quanh mình. Tất cả khung cảnh nên thơ giờ đây đã biến đi đâu mất. Trong hồn tác giả hiện nay chỉ còn có quê hương, quê hương với “non tan” và “thác vỡ”. 
Người trong thơ thì thế nhưng người đọc thơ thì khác. Người đọc thơ sẽ thấy trăng, thấy mây, thấy núi và thấy một bóng người trên đỉnh chon von như người vọng phu hoá đá. Hình tượng trong thơ sầu biết bao mà đẹp biết bao. Hình tượng trong thơ là hình ảnh của triệu con người ra đi bỏ nước, lên cao để vọng về cố quốc, khóc âm thầm cùng gió cùng trăng cùng mây và nước mắt nuốt vào lòng sẽ buốt giá hơn băng.
Đây là một bài Đường thi có chủ đề chính mà người viết xin đặt tên là “Cảm nỗi non tan” (non là quê hương là xứ sở) mà nhà thơ đã mượn cảnh “Trên núi chon von” để bày tỏ lòng mình. Bài thơ ngắn như một miếng vải nhỏ nhưng lại có phép thuật trùm lên vạn vật, nơi có khung cảnh nên thơ hùng vĩ và nơi có quê hương xa xôi với cảnh điêu tàn. Bài thơ chính là nỗi lòng, là niềm đau có thực của tác giả được khéo léo đem khóc ở một khung trời lãng mạn làm cho tiếng thơ bay trong tuyết, bay trong trăng, bay trong bầu trời lồng lộng, làm cho nỗi đau đó long lanh ánh sáng  đẹp vô cùng./.

                                                                        Châu Thạch


              Nhà thơ Hạ Thái


TRÊN ĐỈNH CHON VON

Ngồi trên đỉnh núi ngắm vầng trăng
Đọc những dòng thơ tặng chị Hằng
Thử vạch mây xanh tìm ý mộng
Và đào tuyết trắng kiếm mầm văn
Thấm niềm thác vỡ than nhân thế
Cảm nỗi non tan khóc đất bằng
Nơi cõi chon von cao chất ngất 
Trời gần sao vẫn buốt hơn băng

        Hạ Thái Trần Quốc Phiệt

READ MORE - CẢM NỖI NON TAN TRONG BÀI THƠ “TRÊN ĐỈNH CHON VON” CỦA HẠ THÁI TRẦN QUỐC PHIỆT - Châu Thạch

CHÙM THƠ HUY UYÊN



                   Nhà thơ Huy Uyên


1-
NỤ HOA LAY TÍM DÁNG CHIỀU

Mới đó mà ngày đã hết
Đêm đen treo ngang cuối trời
Quay lại môi cười vội tắt
Đàn quạ bên sông cánh bay.

Chậm buồn quanh bóng hiên nhà
Trên bàn còn đầy ly rượu
Đợi ai từ buổi đi xa
Sầu vương đuổi từng hơi thở.

Tình em quay về dao cắt
Xẻ chia ngàn vạn cô-đơn
Vườn nhà người hoa thôi nỡ
Khép lại hai mắt nhung buồn.

Em rồi xót cuộc tình chung
Vết bầm dấu hoài khuôn mặt
Em sao quá đổi lạ lùng
Sóng xô đầy hai bờ ngực !

Xao lòng lời ru của gió
Vẳng lại tiếng chuông gọi hồn
Chôn con tim sầu bia mộ
Hát lời nghĩa-trang phố đêm.

Nắng chiều hình như ngả màu
Mây về đậu hoài trong mắt
Thấm đẫm hương xưa phai mau
Em còn vỡ òa hạnh-phúc.

Em trăm lối về xuôi ngược
Nụ hoa lay tím dáng chiều
Nhớ hoài mối tình đi lạc
Bên trời mây bay lảng-phiêu !

2-
TRONG VƯỜN MÙA THU VÀNG LÁ

Chợ quê sáng chiều quạnh-hiu
Bên sông trơ vơ vạt cỏ
Lung linh giọt nắng cuối chiều
Con đường dài thêm thương nhớ.

Những mái nhà tranh rêu phủ
Xám lạnh giăng quanh màu mây
Người đi lâu rồi ngày đó
Lặng lẽ gió lùa ngọn cây.

Trên cao mây bỗng quay về
Hiên nhà ai chùm vạn thọ
Thấp thoáng trên môi giọng cười
Trong vườn mùa thu vàng lá.

Ngỡ ngày thoáng qua quá vội
Rượu say tình mãi chưa đầy
Sao em đi mà không nói
Quê nhà hiu-hắt riêng tôi.

Chợ quê nỗi buồn tháng năm
Liêu xiêu dăm ba hàng quán
Bóng nhỏ đơn côi cuối đường
Tóc thả đuôi gà quang gánh.

Ai chờ em ngoài lộ vắng
Muộn rồi buổi chợ chiều trôi
Người đi, người đi quên hẳn
Ngập ngừng thoáng gió tôi ơi !

Thôi em sợi chỉ mong manh
Ngày về bỏ quên áo mới
Lòng anh tơ sợi đầu cành
Cả đời mai chiều ngóng đợi.

Giáo-đường đầu hôm chuông đổ
Khuất bờ ruộng mía nương dâu
Chừng ai quay qua xóm nhỏ
Khói vương sợi cỏ dàu-dàu. 

                      Huy Uyên                                                                  (7-17)
         
READ MORE - CHÙM THƠ HUY UYÊN

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN 13; 14



   Nhà thơ Chu Vương Miện


CHÙM THƠ CVM 13

chém cha nó kiếp đào hoa
nào là con ghế đàn bà mắt xanh
quay đi thì lại thay quần
quay về thì lại mặc quần ngồi chơi
gẫm đời mà sướng cho đời
hết xe tới ngựa đến voi tà tà
hết đào nương đến đào chùa
hết sen đến nhí cứ là là say ?

vòng vo đọc lại dòng thơ cũ
ao sâu thuyền nhỏ lướt trên bèo
dăm con cá ngạnh chìm trong lá
mắt mờ lơ đễnh mải trông theo
người ở nơi xa mùa tuyết trắng
lửng lơ rơi giữa đất đang đào
thì thôi Huy Cận sầu bao ngả
mấy cành củi  mục dạt nơi nao ?
em như dòng nước khô trên thác
anh giống rừng cây ngủ rạt rào


CHÙM THƠ CVM 14

bây giờ vẫn giống ngàn năm trước
trâu bò đi trước với ngọn roi
hết quan kiểu này quan kiểu khác
mà dân cuốc ruộng vẫn xanh người
nay xâu mai thuế mốt lính thú
thực dân phong kiến dân chủ (một bộ bài)
chia ra thì cái vơ hết trọi
mất quần cùng áo với mồ hôi
quanh đi quẩn lại dăm con chó
bàn độc ngồi chơi đủ mọi thời
gâu gâu ẳng ẳng dăm ba tiếng
nước non còn mất ánh trăng soi 

lên thác xuống ghềnh
ba chìm bảy nổi
chín lênh đênh
từ lúc sinh ra
đến lúc lớn lên
té cái đụi
té lăn kềnh
khổ vì chiến tranh
vì áo cơm ?
đủ mọi miền
cùng chung hoạn nạn
cùng chung một nỗi buồn

CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN 13; 14

QUÊ TÔI - Thơ Đặng Xuân Xuyến





QUÊ TÔI 

Quê hương tôi bên dòng sông sắc đỏ, 
tháng tám lo nước lũ tràn về. 
Tôi thương lắm vùng quê chiêm trũng ấy 
màu áo nâu mưa nắng dãi dầu. 
Thương hạt gạo lặn lội mưa bão, 
tắm mồ hôi kẻ khuya sớm tảo tần.

Giữ biên thùy tôi nhớ không quên 
những đoàn xe hướng nhanh biên giới. 
Các cháu ơi ở nhà ngoan học giỏi. 
Những lời chào nghẹn đắng đầu môi. 
Tuổi mười bốn tôi ngây thơ lắm, 
mãi bần thần nhìn hút bánh xe lăn.

Mẹ nuôi tôi bằng khuya sớm nhọc nhằn, 
bằng câu hát gánh cuộc đời tần tảo. 
Nơi biên giới giữa ấm tình đồng đội, 
tôi ngỡ mình ngon giấc trong nôi.

Dẫu một thời thơ trẻ nhanh trôi, 
với quê mẹ tôi còn nhỏ dại. 
Bạn bè ơi có về qua nơi ấy 
cho gửi lời về ĐỖ HẠ quê tôi.

Viết lại, ngày 09.08.2013
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - QUÊ TÔI - Thơ Đặng Xuân Xuyến

SAY THƠ, CHUYỆN MÌNH - Thơ Tịnh Đàm


                   Tác giả Tịnh Đàm



SAY THƠ

Là khi rượu ngấm vào thơ,
Lời say thấm giọng đâu ngờ nghe hay.
Chén đầy tình đẫm trao tay,
Ngả nghiêng mình giữa chốn này bên nhau.


CHUYỆN MÌNH...
(Gửi bác G.T.Điệp)

Vẫn cà-phê ,vẫn chúng mình ,
Cùng niềm thương cảm chân tình cho nhau.
Đời buồn cứ mặc trước,sau
Nỗi đau rồi sẽ như màu nắng phai.!

                               TỊNH ĐÀM
                               (TP. HCM)

READ MORE - SAY THƠ, CHUYỆN MÌNH - Thơ Tịnh Đàm

Thursday, June 29, 2017

ĐÀ NẴNG CỦA EM - Thơ Ngô Hồng Trung





ĐÀ NẴNG CỦA EM

Ngây ngất trong tôi ngày về Đà Nẵng
Thành phố thân thương từ thuở yêu người
Thời gian chôn vùi mỗi đứa một nơi
Duy cát trắng giữ bước chân sâu nặng

Ngày ấy bên nhau vai còn nhẹ mỏng
Cạn nhìn đời theo hướng mặt trời lên
Tay trong tay, hẹn ước buổi hoàng hôn
Hiếm hoi ví bằng trăng kia "nguyệt thực"

Tình lên ngôi tuổi đôi mươi hơn chút
Thời cuộc đổi thay hoa mắt, tay chùn...
Nay trở về tóc phếu bạc gió tung
Biển Mỹ Khê rưng rưng niềm mộng ước!

Đà Nẵng ơi, phải chi ai hiểu được
Biển xôn xao lại thiếu bóng hình em
Tôi lang thang lạc bước nhỏ gọi tìm
Hồn bay bổng hợp tan như sóng nước

Và hôm nay cuối cùng cầu Ô thước
Nối tâm tình xa cách em và tôi
Vọng thênh thang tiếng sấm biển ngàn khơi
Chim về tổ ngập ngừng vàng... tha thiết!
                 

Ngô Hồng Trung

ngo
hngtrung2015@yahoo.com
READ MORE - ĐÀ NẴNG CỦA EM - Thơ Ngô Hồng Trung

HOA TÍM - Chùm ảnh của Chu Vương Miện













READ MORE - HOA TÍM - Chùm ảnh của Chu Vương Miện

EM CẦN ANH - Thơ Trần Mai Ngân



                               Tác giả Trần Mai Ngân

EM CẦN ANH 

Em cần anh đến lạ

Không chỉ để nói yêu

Mà hơn thế rất nhiều

Là diệu kỳ cuộc sống...


Em cần anh mọi lúc

Trong khúc chiết cuộc đời

Lúc xanh khi tím biếc

Ở cạnh em đừng rời...


Em cần anh cả đời

Dù mình xa cách lắm

Hai nhịp điệu khác màu

Biết làm sao làm sao...


Em đau, trái tim đau

Sao cần anh đến vậy

Mà mình vẫn mất nhau

Ngày tình là chiêm bao!


            Trần Mai Ngân

READ MORE - EM CẦN ANH - Thơ Trần Mai Ngân

Wednesday, June 28, 2017

CÂU CHUYỆN HAI DÒNG SÔNG - Nguyên Lạc






         CÂU CHUYỆN HAI DÒNG SÔNG


Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông  (Heraclitus)


DÒNG SÔNG SEINE (PARIS)


Tính cờ đọc được bài bút ký của một người bạn thời niên thiếu viết từ Paris (France)
"...Từ thời thanh niên, tôi đã bị ám ảnh bởi bài thơ của Nguyên Sa, Ngô Thụy Miên phổ nhạc:  
Paris có gì lạ không em?
Mai anh về giữa bến sông Seine
Anh về giữa một dòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em? (1)
Một lần nữa phải bái phục tài làm thơ tình của Nguyên Sa. Hình ảnh tháp Eiffel hiện rõ trên bầu trời, sau những dãy nhà và các hàng cây khi ngồi du thuyền trên sông Seine, độc đáo và thi vị vô cùng. . Nhìn những cây cầu yểu điệu và sang trọng bắt qua sông Seine lại nhớ đến Phạm Công Thiện, một quái kiệt trong thi đàn Nam VN, ông đang học Đại Học tại Mỹ (theo các bài viết của Ông) nhưng chán ghét nền văn minh vật chất, quá thiên về thực dụng của lối sống Mỹ, nên sau khi gặp được thần tượng của mình là Henry Miller chỉ để nói : I’ll kill you (Phùng Phật Sát Phật), ông bỏ Mỹ sang Paris , ngủ dưới gầm cầu sông Seine, hút thuốc lá Gaulois, uống cà phê ở khu Mont Martre và sáng tác thơ văn, khảo luận triết học, cho đến khi được Thượng Toạ Thích Minh Châu mời về VN làm khoa trưởng Văn Khoa Đại Học Vạn Hạnh. "   (XYZ)


Đọc xong những dòng chữ trên, Nguyên Lạc tôi cảm thấy ngậm ngùi ... rồi  buồn!
- Ngậm ngùi?!
Đúng là chúng tôi có một thời như thế, ngưỡng vọng Paris (France). Paris của một thời từng được coi là kinh đô ánh sáng, là trung tâm văn hoá thế giới. Paris của biết bao nhiêu huyền thoại trong thơ, nhạc, hoạ, triết học ... của nhiều thế hệ Việt Nam.
Paris với Rimbaud và Verlaine, với Apollinaire. Thời tuổi trẻ sinh viên chúng tôi trước 1975, ở miền Nam, đã từng mê mẫn với bao điều được nghe, đọc về Paris. Paris được coi như là thánh địa của văn học. Những Jean Paul Sartre, Albert Camus ...  đã ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ thời tuổi trẻ. Thanh niên tôi đã bị ám ảnh bởi bài thơ của Nguyên Sa viết về dòng  sông Seine!
Bước vào ngưỡng của đại học, tôi đã từng say mê Phạm Công Thiện, từng gối đầu sách Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ Và Triết Học, Hố Thẳm Tư Tưởng ... của ông.  Say mê ông, cho những gì ông nói đều là chân lý. Theo ông, cùng chê bai sách học làm người của Nguyễn Hiến Lê.
Thời gian là câu trả lời hay nhất. Những gì cụ Nguyễn đã làm và để lại cho tuổi trẻ thì ai cũng biết. Bằng chứng là BS Đỗ Hồng Ngọc (Đang sống ở Sài Gòn) , người đã học theo những hướng dẫn của cụ. Còn ông Phạm đã làm và để lại gì cho tuổi trẻ, ngoài hai chữ HỐ THẲM mà tới giờ tôi cũng vẫn còn chưa biết rõ?!  Xin các cao nhân vui lòng giải thích và hãy tha lỗi  cho sự ngu dốt của tôi!
- Buồn?!
Sự ca tụng sông Seine trong thơ ca Việt: "Mai anh về giữa bến sông Seine" làm tôi buồn nhớ đến những con sông quê hương tội tình của mình, nhớ đến những kỷ niên trên dòng Hậu Giang yêu dấu thuở nào!


DÒNG SÔNG HẬU QUÊ TÔI


Bài thơ nói về dòng sông Seine với những cây cầu yểu điệu và sang trọng bắt qua; ánh đèn điện sáng làm trắng cả dòng sông, độc đáo và đầy thi vị (chữ bạn tôi!). Dòng sống của quê hương tôi bình dị, mộc mạc quá; không biết có thi vị đối với các bậc tri thức "tót vời" hay không?
Tôi xin mạo muội dựa theo các câu thơ trên của Nguyên Sa  làm tiếp bài thơ, có câu hò miền nam trong đó.


Quê mình có gì lạ không em?
Mai anh về giữa bến sông xưa
Anh về giữa một dòng yên lắng
Giữa hai bờ cồn bãi Đóm sao!


Anh tìm lại dòng đời xa vắng
Đêm êm đềm thuyền thả mái xuôi dòng


Hò ơ ớ ơ ơ ...
Đâu đây cá đớp bông bần
Nhặt thưa câu hò đối
Bạn đành xa tôi!
Bạn ơi hãy nhớ quay về (ơ ờ)
Trời trong trăng tỏ ...
Lời thề chớ quên! (ơ ơ)


Bạn đã từng ngắm triệu triệu đóm sáng chớp tắt, nhấp nháy nhịp nhàng của Đom đóm cái gọi tình trong đêm vắng, trên hai hàng bần rũ (cây thúy liễu) ở ven cồn chưa? Ánh đèn Noel Phuơng Tây có chắc rực rỡ hơn ánh Đóm sao này không? Tôi bảo đảm với các bạn nó rực rỡ lắm, sáng vàng lấp lóe cả dòng sông!
Vàm Tấn (Đại Ngãi) quê tôi ở cạnh bờ sông Hậu. (Vàm là  đất tại ngã ba sông.)


- Hò ơ ớ ơ ơ ...
Đất Sóc Trăng khô cằn nước mặn
Anh ra Vàm Tấn chở nước về xài
Về nhà sau trước không ai (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ ơ ...
Hỏi ra em đã ... theo trai mất rồi  (ơ ơ)


Đối diện giữa sông, bên phải là cù lao Dung chạy dài tới cửa biển Đông, bên trái là nhiều cồn nhỏ nổi song song nhau  (với những bờ cây bần chạy dọc theo bãi) giữa là khe nước chảy êm đềm. (Dải đất nổi giữa giòng sông, lớn gọi là Cù Lao, nhỏ gọi là Cồn).
Những đêm không trăng, trời mờ ảo, triệu triệu đóm sáng chớp tắt,  nhịp nhàng của Đom đóm cái gọi tình trong đêm trên những hàng bần rũ.  Thả thuyền xuôi giòng, trong khe nước giữa hai hàng bần; cùng bạn tri âm, tri kỷ nâng ly lặng ngắm cảnh trời. Dường như thuyền lạc vào cõi thiên thai!  
Vẳng đâu đây tiếng cá đớp bông, trái bần chín rụng,.
Vẳng nghe tiếng hò đáp nhặt khoan:
1.
- Hò ơ ớ ơ ơ ...
Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi,
Kẻo giông gió đến rồi (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ ơ ...
Kẻo giông gió đến rồi ... bờ bụi tối tăm (ơ ơ)


- Hò ơ ớ ơ ơ ...
Bờ bụi tối tăm anh quơ nhằm cái tộ bể,
Cưới vợ có chửa về (ơ ờ)
- Hò ơ ớ ơ ơ ...
Cưới vợ có chửa về ... thổi lửa queo râu (ơ ơ)
(Sơn Nam)


2.
- Hò ơ ớ ơ ơ ...
Ghế mất một chân nên gọi là ghế gẫy
Người lạc tâm hồn ... bạn hỡi gọi sao?
Ngẩng đầu ngắm những vì sao
Cái lu cái tỏ (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ ơ ...
Cái lu cái tỏ ... cái nao riêng mình? (ơ ơ)


- Hò ơ ớ ơ ơ ...
Trách ai quên hai chữ nghĩa tình
Quên câu thề hẹn ... đôi mình trăm năm
Chống chèo theo nước lớn ròng
Dò tìm bóng bạn (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ ơ ...
Dò tìm bóng bạn ...cõi lòng nát tan (ơ ơ)


- Hò ơ ớ ơ ơ ...
Bìm bịp kêu con nước giọng khàn
Rạch sông mù lối, khói sương mù trời
Biết tìm đâu hỡi bạn ơi
Bóng chiều dần xuống (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ ơ ...
Bóng chiều dần xuống, mưa rơi mịt mùng (ơ ơ)


- Hò ơ ớ ơ ơ ...
Tìm người như thể tìm chim
Chim bay biển Bắc (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ ơ ...
Chim bay biển Bắc tôi tìm biển Nam (ơ ơ) *
(Nguyen Lac) (2)


Vẳng nghe tiếng  vọng cổ mơ màng xa vắng:


Hò ơ!
Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm
Công tới cực lắm mưa nắng dãi dầu
Chiếu nầy tôi chẳng bán đâu
Tim cô không gặp...Hò ơ!
Tim cô không gặp tôi gối đầu mỗi đêm.
(Tình Anh Bán Chiếu)(3)


Hoặc cùng với người tri kỷ ca đôi câu tân nhạc du dương:


Đêm nay trăng sáng quá anh ơi
Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu
Lênh đênh trên sóng nước mênh mông
Bao đêm lạnh lẽo em chờ mong gặp bóng chàng ...
(Chuyến Đò Vĩ Tuyến - Lam Phương) (4)


KẾT
Đẹp quá, tình quá và an bình quá phải không các bạn? Ôi quê hương gấm hoa!  
Sẽ còn không sông Hậu quê tôi, khi thượng nguồn đã bị ngăn chặn?! (5)
Người Việt hay vọng ngoại chăng? Cái của mình có không bằng cái của người?! Sao không trân trọng, bảo vệ và làm đẹp thêm cái mình có, lại so bì với cái của người chi?!
Dòng Cửu Long êm đềm, dòng Hương Giang mơ màng ... không đẹp hơn dòng sông "lạ hoắc lạ huơ " nào sao? Hay vì chúng bình dị mộc mạc quá, không cao sang tri thức tót vời nên không thi vị. Do đó các nhà trí thức mới ít làm thơ, nhạc nhắc đến?
Nhạc thơ cũng có cao - thấp, trí thức - mộc mạc, sang - sến sao?
Theo tôi, bất cứ người nào, triết lý nào, văn chương nào ... phục vụ cho đa số, đại chúng đều đáng trân trọng hơn những gì phục vụ cho một nhóm thiểu số đặc quyền! (6)


Nguyên Lạc   2017
---
* Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển Bắc, anh tìm biển Nam (ca dao)
Phụ chú:
(1) Paris có gì lạ không em?/ Mai anh về giữa bến sông Seine/
(2) Hò Miền Nam – Chí Tâm & Ngọc Đan Thanh:
(3) TÌNH ANH BÁN CHIẾU - Giọng Ca Út Trà Ôn
(4) Huong Lan - Chuyến Đò Vĩ Tuyền 1980s
(5) Nhà văn Ngô Thế Vinh: Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng
(6) Xin đọc những dòng này!
"có điều lần lần mới thấy cuồng tín tôn giáo, cuồng tín học thuyết, chủ nghĩa này nọ nếu không nhiều ít mắc chứng tâm thần thì cũng cố tình lợi dụng, chỉ tổ gây thảm kịch cho nhân loại, lợi ích chăng chỉ là cho nhóm người ít ỏi hoặc cá nhân ma mảnh, gian xảo khai thác lòng tin mù quáng hạng nông nổi mà thôi. "...
"...các bậc đế vương, các vĩ nhân nổi danh yêu nước. Cũng chỉ vì họ yêu nước quá đâm ra không còn chỗ để yêu con người nên gây bao nhiêu thảm cảnh bất tận cho dân nghèo ít học." (Ký Ức Sơ Sài 36 -  Nguyễn Anh Khiêm)
KÝ ỨC SƠ SÀI - Nguyễn Anh Khiêm

READ MORE - CÂU CHUYỆN HAI DÒNG SÔNG - Nguyên Lạc