Chúc Mừng Năm Mới

Văn Nghệ Quảng Trị kính chúc quý nhà thơ, nhà văn cọng tác viên và quý bạn đọc Năm mới 2017 Đinh Dậu VẠN SỰ AN LÀNH

Saturday, December 31, 2016

CHÙM THƠ TỨ TUYỆT YẾN LAN


                   Nhà thơ Yến Lan


Theo Evan.com.vn Tứ tuyệt Yến Lan đã được nâng niu, được chưng cất từ cuộc sống trọn vẹn với tư cách một nhà thơ chân chính. Không thể nói khác hơn, thơ tứ tuyệt Yến Lan lấp lánh vẻ đẹp một con người.

   “Trong số lưa thưa bậc hảo hán của thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại, Yến Lan thuộc loại “bố già”. Một “Bố già” hiền lành, không cân quắc, ngang tàng, vang động. Nhưng vẫn đầy cốt cách trong cung cách âm thầm - (Trúc Thông)

Trong tứ tuyệt Yến Lan một nông nỗi thở dài. Có khá nhiều cảm cảnh. Nhưng cốt cách nghệ sĩ, cốt cách tứ tuyệt đã gây cho người đọc một sự kính trọng. Như kính trọng nỗi thiếu hụt mà ông đã diễn đạt xuất thần trong câu thứ tư bài Tàu ngang quê cũ:    
            Khói quyện đầu ô, nữa xóm nhòa
    Tàu dừng đỗ khách, sắp rời ga
    Đồng hương kẻ xuống người ra đón
            Mình suốt đời đi chửa tới nhà
                                                             Lê Thiếu Nhơn


Cảm nhận về những bài thơ cuối đời của nhà thơ Yến Lan          

    Là người sống hết mình với quê hương và thơ, tới cuối đời nhà thơ Yến Lan vẫn làm nhiều thơ, mỗi bài thơ là một mảng tâm hồn ông mang ước vọng tiếp tục dâng hiến nghệ thuật thơ ca cho đời và cả tâm trạng nuối tiếc tuổi thanh xuân
    Những vần “thơ lưu” của ông là cuộc sống được chắt lọc qua tim, qua tâm hồn thi sĩ, là nghệ thuật điêu luyện về ngôn từ, hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu…là thế giới tình cảm bao la, là tiếng thơ của những cảm xúc chân thành”
                                                                     Thanh Hải VNBĐ-79

Tự bạch
Ta viết cho đời thơ tuyệt cú
Bù vào đất chật những trường thiên
Quế hòe phóng ngọn trên đồng cỏ
Đọng sóng tầng cao những nét riêng
Tháng 7-1967
Áo gấm
Lỡ đường xe khách ghé Lăng Cô
Bà cụ lần khân đến bán sò
Khăn vấn cắt ra từ áo lễ
Gấm nhà thế tộc cũ kinh đô
Áo cưới
Vuốt xong sợi nhớ mắc vào go
Cô gái bên khung bỗng sững sờ
Cho đẹp vu qui tà áo cưới
Bao nhiêu hồn bướm cuộn vào tơ
Anh mất em
Có bữa ta ngồi lấp bóng em
Trộm mình tơ tưởng mối tình riêng
Bổng nhiên ta thét lời ai oán
Ta mất em rồi ta mất em !
06/5/1998
Áo cũ
Áo cũ chật căng con đã lớn
Giặt khô mùi sữa hãy còn tanh
Nâng tay nhẹ xếp vào ngăn tủ
Làm chiếc khăn lau mẹ chẳng đành
08/7/1989
Ấp úng

Bâng khuâng lòng cuộn rối hương say
Vừa cạn chung trà lặn gió tây
Muốn đáp bằng thơ quà mới nhận
Lời suông ấp úng nói sao đây
Ẩn nấp
Rào rạt vườn xuân vạn bướm bay
Li ti hàng phấn rải hương vây
Có ai giấu được em trong ấy
Đã lộ cho anh một nét ngài
07/3/1998
Bệnh trăng
Quê ngoại bên kia bãi cát vàng
Mẹ tôi về lỡ chuyến đò ngang
Cơn đau, trở dạ không giường chiếu
Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng
(trích Bệnh trăng 1938-1939)
Biệt ly
Tình ta còn phải ăn vay
Lấy chi bù sớt đỡ gầy vóc thu
Biệt ly giờ sắp đến mùa
Ích chi, chiếc lá già nua níu cành
1944
Binh lửa
Vốn ghét thời binh lửa
Càng khổ cảnh ly quê
Cắp giáo lên đồn thú
Nếm mùi rêu suối khe
1944
Bạn văn chương
Khêu đèn bạn với văn chương
Sầu trong Trang Tử đọng buồn giữa thơ
Mài nghiêng-núi mộng ơ hờ
Bút chưa thành khúc, mà mơ đã tàn
1944
Bên đường
Khung cửa nhà ai mở hướng tây
Đồi xuân nhíu một nét chân mày
Giữa trưa tỉnh giấc đường công tác
Mùi Tết lên dần thúng nếp xây
Bên mồ
Ước có đôi chân bảy dặm đồ
Giải mình đưa đến cõi lăm-bô
Còn hơn lay lất trên giường bệnh
Quá thể dần xương đợi xuống mồ
08/6/1997
Bên hoa quỳnh nở
Nửa đêm đủ vẹn kiếp hoa quỳnh
Dâng tạ ơn người nét tuyết trinh
Để tội con ong ngày tháng đợi
Tìm hoa đang rũ xác lưng cành
11/1995
Băn khoăn
Cái băn khoăn nơi ngã ba đường
Thường chợt đến với người khách lạ
Anh là kẻ thuộc đường, thuộc sá
Giữa ngã ba lòng sao vẫn thấy băn khoăn
Bình Định
Trời Bình Định nằm thương em, nhớ chị
Ôm phố phường quấn quýt sắc trời xanh
Quyết không hở dù một dòng nước rỉ
Một dăm dừa cho lũ giặc hôi tanh
1969
Bên dấu vết thành Bình Định xưa
Lan can đổ theo vọng lâu ba cửa
Trăng đầu hôm im tựa trụ cờ cao
Vườn gòn rộng như căn phòng góa bụa
Dơi lạc đường về - thành lũy đi đâu?
Bến sông quê ngoại

Tiếng chim vít vịt vẳng kêu chiều
Cỏ ngập sông bồi, xóm quạnh hiu
Khói tỏa quanh năm, mùi cúng giỗ
Thuyền ai về đậu khúc song eo
Cuối chạp 1989
Bồn dừa tơ
Bốn mươi năm khuất bóng dải thành xưa
Nơi tỏa bóng mẹ già mọc lên nhà huyện ủy
Những viên đá tuổi bằng thế kỷ
Lại ghép bồn nâng rặng liễu buông tơ
01-1987
Bên xác máy bay Mỹ
Biển tôm, rừng quế, đến đồi cà
Đạp khắp trời Thanh rộng mãi ra
Bên chiếc - 300 tàu Mỹ rụng
Nhìn mình, xe gãy mấy nan hoa
Băng đồi
Chợt tin xuân báo: tiết ươm chồi
Việc nước đang nhiều chẳng phút ngơi
Nghĩ đến xói mòn đau dạ đất
Bảy mươi tám tuổi Bác băng đồi
01.1974
Bên hầm Đờ Cát

Bom Mỹ vừa tung phía cuối đèo
Quanh hầm Đờ Cát dế ngưng kêu
Đạp lên gỉ sắt, con trâu đứng
Sừng nghểnh về thung tiếng nổ bèo
Bên chợ
Chật chội, nhà thêm một nỗi phiền
Đời chen kín cửa mãi ngày phiên
Thơ không xuất bản, lòng không bán
Nhắn chị đầu cơ chớ dự tiền
12.1977
Bức thư của biển
Nhặt bức thư tay cuối bến thuyền
Gửi ai, ai gửi, chẳng đề tên
Đón từng thủy thủ toan trao lại
Lòng bỗng cù lao giữa đất liền
Bản quế
Theo bạn về chơi đầm Hà Động
Lội con suối lũ, đá gành trơn
Gió mùa đông bắc se lồng ngực
Rừng quế choàng theo một bản hương
9.1982
Báo giờ
Điện Phật bao đời ám khói hương
Hằng đêm sư cụ thỉnh hồi chuông
Động giờ thức dậy anh đồ tể
Kê thớt mài dao đón lợn chuồng
Bặt tin nhạn
Nhạn đã thưa về trên nhánh trâm
Xa nhau tính lại đã tròn năm
Biết em giờ ở phương nào nhỉ?
Thư viết cần chi rõ tháng năm
Bến Đục
Thuyền khách hành hương chen cõi Phật
Gửi lại sau lưng niềm thế tục
Nghìn năm suối nước uốn trong xanh
Đành chịu mang tên là bến Đục
10.1974
Cảm tác
Một cơn nhớ đất, nhớ người
Thành trăng cổ điển, thành trời cẩm chương
Dòng thương nối tới dòng thương
Sông quê lại hóa nguồn hương tâm tình.
(Khai bút giáp tý
Mồng một, nguyên đán 1984)
Chợ chiều
Chiều nghe chuông chở rét qua sông
Chiều mong lời vui ở cánh đồng
Tre nhại thi nhân trong xóm lạnh
Chợ tàn tiễn khách với lều không
4.5.1939
Chiếc quả son
Quả son ngày cưới lại đem lau
Sắc đã tàn phai theo tiệc tiễn dâu
Ký ức còn nguyên sau nắp đậy
Bao nhiêu năm nén chặt hồn đau
Chiêm bao
Năm tháng dồn một tối
Bồng bềnh giấc chiêm bao
Thức dậy tê tay gối
Rỗng rênh một trời sao
15.10.1994
Chăn tơ
Còn nửa sai dâu đúng lứa ngài
Để phần cho mẹ chẳng nhường ai
Năm nay bà cháu cùng chung ấm
Làm chiếc chăn tơ rộng phủ hoài
20.7.1998
Chiều Vĩ  Dạ

(Nhớ Hàn Mặc Tử)
Lạc ngang chiều Huế một làn mây
Lá trúc sương in trắng nét mày
Chữ lạnh thơ treo trăng lã chã
Ai về Vĩ dạ, nhớ ai đây
Cánh hoa khô
Nghe chim hót bói trái đầu mùa
Nhớ lại hôm nào mới nụ tơ
Thiếu nữ dừng tay khong nỡ hái
Ép vào trang sách hẳn đang khô.
Cái nhân
Đu đủ chứa căng đầy bụng hạt
Nứt mầm đực cái vẫn chưa phân
Nhãn xoài đợi bén hơi mùn đất
Hoa quả nằm trong một cái nhân.
Cái còn lại
Đá sứt thành xưa sót mấy hòn
Cổng quan nhà ngục gạch vùi chôn
Lạ lùng phố mới người xa tới
Còn chỉ vành trăng tự khuyết tròn.
Chơi Ngũ Hành Sơn
(Tặng Bích Khê)
Chơi Ngũ Hành Sơn, hỏi cúc tùng
Gió chiều man mác Động Huyền Không
Tìm thơ, ai đã vừa đi ráo
Sót lại rêu xanh đã mấy chồng.
Cám cảnh (1)
Rằng khi thuộc Pháp, gà ăn bạc
Thuộc Mỹ, gà nay nuốt cả vàng
Ơi lúc dọn chuồng khoan hí hửng
Trên đầu phân vãi mộng giàu sang
Cám cảnh  (2)
Trăng thu nán ngọn khóm cây già
Tiếng mẹ ru hời, trẻ khóc oa
Vú mọng sữa tuôn con chẳng nín
Biết đâu con lạc cánh tay bà.
Cảm tác (2)
Tặng Triệu Minh
Ngồi nghe đọc lướt qua thư chị
Khao khát tình người ý vấn vương
Tiếc mình già yếu run tay bút
Khó chuốt thơ tròn chữ mến thương
6.5.1993
Cảm tác (3)
Một cơn nhớ đất, nhớ người
Thành trăng cổ điển, thành trời cẩm chương
Dòng thương nối tới dòng thương
Sông quê lại hóa nguồn hương tâm tình.
Cây cau trong chuyện Tấm Cám
Cây cau đổ với kẻ trồng cau
Lên thẳng ngờ đâu những nhát dao
Người hóa chim oanh lên tiếng hát
Xót cay trầu một gốc bên ao
Chiếc áo của Từ Thức
Duyên tiên nào phải chuyện tình cờ
Cởi áo đền hoa khéo vẫn vơ
Cái thế công đường sao chẳng cậy
Đào nguyên hẳn đã tỏ đường vô
Chia buồn
Thu buồn, Chức Nữ cũng buồn lây
Lệ thấm sông Ngân mấp mé đầy
Muốn kiễng chân lên khều một giọt
Sợ chàng Ngưu sớt đổ tràn tay
Cái nỏ An Dương Vương
Thanh bình nước mới vững ngôi vua
Sao cậy vào riêng cái mống rùa
Chớ trách Mỵ Châu gây họa lớn
Tình yêu nào chẳng có nơi rò.
Cây cong
Em có như chim bị mấy lần tên
Đừng thấy anh cầm nhành cong mà sợ
Đó là cây trúc tiên mắt nhặt, lóng bền
Anh dời đến bên nhà cho em dời tổ.
Chờ thư con từ xứ Lạng
Nằm ốm trong màn xuyên nắng ấm
Nhẩm xem báo cũ cửa phên cài
Chắc thư con gửi chiều nay đến
Phảng phất ngoài song vị quế hồi.
Cảm tác về một bức tranh treo ở nhà
Treo lâu sơn thủy cảnh thu suông
Bụi bặm thời gian đã phủ dồn
Để đó vào ra không kẻ ngắm
Cất đi còn ngại mặt tường trơn.
3.1975
Cơn sấm sét
Sấm sét gầm vang đánh tốc cây
Trận đầu trời đất xé tan mây
Thiên nhiên vần vũ bao đau đớn
Không ướt chùm lông cổ vịt gầy
22/8/1998
Cành xanh
Ai đã vin trăng sầu cách điệu
Soi dòng tư tưởng nám dung nhan
Đẩy hết mùa đau bay lá héo
Cành xanh bỗng tạnh dưới mưa tàn
1949
Cầu đổ
Một lề đá mỏng bắc qua mương
Thuận lợi đi mau kịp trống đường
Chẳng hiểu vì sao nghiêng trụt xuống
Ai đành dứt nghĩa nẻo quê hương.
2.3.1998
Cũng chút tình
Chẳng nghĩa thì ân cũng chút tình
Hỏi hoài em vịn cửa làm thinh
Bao lâu trắc trở từ phương bắc
Mong được cầm tay cái nín thinh
18/3/1998
Cô lái già
Qua sông ngoảnh lại thấy sông dài
Cậy bác chèo đưa cậy những ai
Những khúc ân tình trao đổi cũ
Đã trôi ra biển lướt tay chèo
15/3/1998
Chuyện ở Chí Hòa
Đang giờ con được bú
Hai bầu sữa căn đau
Trẻ gào ra tiếng nổ
Mắt mẹ xuyên tường lao.
Chiêm bao gặp người xưa
Trăng biết hồn hoa, hoa rụng núi
Chiêm bao mở lối ngóng người qua
Bắc cầu tâm sự-e lời nói
Đọng chốn nghìn thu-bóng lại xa.
Cà phê
Em về Đắc Lắc dựng nông trang
Chắc bột tinh nâu tự hạt vàng
Nửa buổi dừng tay thay động tác
Mồ hôi ướm động giọt kim cương
02/3/1998
Cầm chân em, cầm chân hoa
Em đến xin hồng, hồng mới nụ
Hôm nay hồng nở, bóng em xa
Cầm em bữa trước, em không ở
Giờ biết làm sao cầm được hoa?
Cháu kể Lãn Ông như kể mộng
(Tặng cháu Phú)
Cháu công kênh bác đến nhà thương
Kể chuyện Lãn Ông suốt dọc đường
Bác góp thêm thơ Đường Tống cũ
Cho rành Tây học với Đông phương
22/6/1997
Cỏ héo
Ghé lên cầu bẻ liễu
Chiếc cô bồng bóng chênh
Ngựa Hồ nghẹn cỏ héo
Lòng  hóa đành thảo nguyên
Cửa mở
Tờ tranh trên vách bỗng lao xao
Cụm trúc tâm tư với nhánh đào
Trăng cựa đầu hiên khua thức giấc
Mới hay cửa mở tự khi nào
12/1995
Cổ độ
Em đi bờ bãi cũng theo đi
Sóng lặng trường giang trải phẳng lỳ
Từ ấy lòng anh làm cổ độ
Câu thơ chờ đợi hóa chòm si.
(trích "Ngõ Trúc vàng")
1946
Cô độc
Giơ tay sờ mái tóc
Mộng Tàn chương cổ thi
Thương mình giữa cô độc
Xuân chần chừ chưa đi
1944
Còn ấm
Vượt sao qua khỏi vũng đau thương
Thung lũng sầu lo cản hết đường
Ai sẳn tình thâm mang đến đổi
Tim còn chưa lạnh khối kim cương
24/5/1997
Chị đi lấy chồng
Khế chua chị nấu lá mùng tơi
Em ước cùng ăn đến trọn đời
Tang mẹ mãn rồi, bà mối giục
Chị đi, bát đũa cũng mồ côi
Cây Hà Nội
Hồ Gươm, dáng liễu tạc nên từ
Phê đỏ hàng bia phượng giám hồ
Tre trúc nhị khê từng xướng họa
Trong cây Hà Nội có vần thơ
Cúng giỗ
Lúa tám thơm dài hạt dẻo cơm
Vừa ai khua bát nhón tay đơm
Em còn hao ít dành hôm giỗ
Chất ngọt tình quê thắm tận hồn
22/5/1997
Chùm thơ tứ tuyệt
Đất mới trồng vườn bỏ trúc tre
Vồng trang cỏ xén tiện đi về
Thu vầy nhạn bách xuân oanh liễu
Con cuốc hờn chi chẳng gọi hè
12/1990
Cổng hoa
Vào xuân mưa bụi suốt đêm dài
Tuyết động phù du lớp lớp bay
Chớ trách đèn trong chong sách mở
Bởi tay cài lỏng cổng hoa ngoài
10/5/1982
Cây me mẹ tựa
Từ buổi ra đi chị ẵm bồng
Nay về, trẻ xóm gọi bằng ông
Bạn xưa còn có cây me cụt
Mưa xói mòn nơi mẹ tựa trông.
Ca khúc vườn trưa
Đài nhạc nhà bên dứt tiếng gào
Màu trưa khói gợn sắc chiêm bao
Tiếng ru trẻ xóm từ lâu bặt
Thương cái oanh già cất giọng khao
7/1989
Chờ
Đò ngang gối bải bóng trăng lồng
Chợ khuất sương chiều mắt trẻ trông
Ba ước như em còn có mẹ
Dẫu cùng đăm đắm một ven sông
01/1/1974
Cuối tuần trăng
Hoa vông nở đỏ gọi vông vang
Sắc của hoa thành một tiếng ngân
Em hái tiễn anh lên tuyến Bắc
Đêm mai cuối tháng hết tuần trăng
05/5/1993
Chiều qua tháp Cánh Tiên
Nghi ngút mô hình ngọn khói lên
Mờ trong gờn gợn nếp sương in
Khá thương mảnh đất trần gian mỏi
Còn nán trên đời phẩm tiết tiên
12/1989
Chờ đợi
Vun cây ghép nhánh đợi anh về
Tiết tiểu hàng qua, đại tuyết kề
Ngày tháng trôi mau trời có ý
Người sao hờ hững với đào lê
12/1989
Cách cảm
Trăng thu nán ngọn khóm cây già
Tiếng mẹ ru hời, trẻ khóc oa
Vú mọng sữa, tuôn con chẳng nín
Biết đâu con lạc cánh tay bà
26/11990
Cái kẹt cửa
Muốn bay theo mộng, làm thơ anh bay
Muốn nói cùng em, không đủ lời để thốt
Thung lũng mênh mông gió thổi mãi cũng đầy
Sao cái kẹt cửa lòng em tơ mành không lọt
04/5/1992
Chói chang
Chặt hết hoa phượng vỹ
Đừng để nở chói chang
Nhằm vào em soi mói
Ra sự tình nghi oan
01/9/1998
Cội già
Nắng nứt thêm trên cội bạch đàn
Gió về lộng khẽ tiếng ve ran
Vô tình chỉ bấy con oanh trẻ
Đậu sát cành đơn uốn giọng vàng.
12.1988
Cành thiên hương 

Nâng niu từ lúc mới ươm chồi
Nắng sớm, sương chiều đặt phải nơi
Nhắn bạn hữu tình đừng chểnh mảng
Cành thiên hương đấy dễ bay hơi
4/1993
Cam chịu
Lầm lũi em đi chẳng nói năng
Vắng em, anh cũng thắt buồng gan
Giận nhau hay phải xa nhau mãi
Mặt biển tình ta dãi thẳng băng
1.1991
Chiêm bao
Vụt đến rồi đi, nghẹn hỏi chào
Chuyện trò thư cũ, chán rồi sao
Cầm tay, chạm phải màu sương khói
Lãng đãng bên tường bóng nguyệt hao.
10.10.1989
Chia cắt
Đồng dưới mưa dầm, trên ráo khô
Lùm tre nửa óng, nửa giăng mù
Đôi ta rẻ cách hai bờ lạch
Sợ lệch tình chung hai vụ mùa.

Chùm thơ nghệ thuật:  xuân hè 1980

Chèo
Vò rối tơ, rồi gỡ rối tơ
Gỡ không ra mối lại đem vò
Nàng Vân giả dại, nàng Vân dại
Vân dại nên đời cũng ngẩn ngơ
Tuồng

Lửa xuông tiết nghĩa, mẹo gian hùng
Đâu dễ nhìn ra lớp “Sóng tùng”
Binh lửa vừa lui, đèo núi dựng
“Gian nan là nợ khách anh hùng”
Quan họ
Rạo rực bờ ao, lá trúc tre
Ôi “người ơi, người ở đừng về”
Một câu quan họ mành như chỉ
Xuyên suốt tâm hồn mọi nẻo quê.
Em lý, hay em cưỡi ngựa ô
Bờm tung, vó dựng, lạc đồng khua
Hồn anh như cuốn theo sau gót
Xốc dậy thanh âm lớp bụi mờ. 
Dấu cũ
Mùi xưa hương phấn ngát đêm trăng
Phong tỏa quanh vườn nhụy ngọc lan
Chốn cũ tình cờ chân khựng lại
Mảng rêu vừa cọm dấu giai nhân.
Dặn vợ
Bà bảy mươi rồi, tôi bảy ba
Trời còn tặng thọ để xa hoa
Bấy lâu ky cốp giờ chung giữ
Giữ chút lương tri để dưỡng già
Dạ kim sa
Nhà kín dơi về ở
Tiết ra dạ kim sa
Chó nằm canh ngỏ nhỏ
Sủa rơi chòm sao xa
05/3/1998
Dở dang
Thiếu nữ dừng tay sửa mái đầu
Vừa khi quyên gọi sáng vườn rau
Ngọn đèn rạo rực ngang song cửa
Thơ viết trắng đêm được mấy câu
03/6/1998


Dẫn bướm
Nhà năm sáu mái lẫn trong mây
Vách núi âm vang một nhịp chày
Đàn bướm ra ràng chưa thuộc lối
Theo anh địa chất dẫn đường bay
20/9/1994
Dệt thổ cẩm
Xa nhau trăng khuyết bữa nay tròn
Thổ cẩm em chưa đầy một vuông
Thư ở công trường em gửi đến
Đường dây thủy điện đã lên non
Dưới giàn thiên lý
Trăng đong đầy tâm sự của ai qua
Đang nhuộm biếc cả một giàn thiên lý
Anh sẽ nói với em, những gì chưa nghĩ
Cho khu vườn này nắng hạn trổ ra hoa
05/8/1997
Dưới giàn trầu
Ngọn gió nam non lật khóm trầu
Chập chờn như mở thếp ca dao
Lá sầu, lá thảm còn vang vọng
Tiếng mẹ hò trăng từ thuở nào
10.1972
Dáng mẹ
Tưởng tượng không ra hình dáng mẹ
Đêm dài con thức vẻ chân dung
Thôi đành mượn nét xưa cha kể
Trên mũi kim còng một sống lưng
Dự dám cưới thời mới
Người ta mạ chi cô dâu bằng áo cưới cho thuê
Như có nơi mạ bóng thành tích bằng tiệc tùng
và quà cáp
Nhà thơ ơi, xin chớ mạ văn chương anh
bằng ngôn từ rỗng tuếch
Của giả mới cần vật bóng lộn phủ che
Do dự
Chợ cách đò ngang, xóm cách đèo
Phải đây nhà bạn đứng cheo leo ?
Muốn vào, sợ đúng nơi tìm đến
Vườn cỏ um tùm, sách mốc meo
Dậy trưa
Cửa kín không hay trời tạnh mưa
Phố phường tấp nập gánh gồng đưa
Đêm qua ai biết chồi mai lạnh
Mới hiểu người già ngủ dậy trưa
12.1977
Đời
Chúng tôi nhỏ, mà đời xa rộng quá
Hạt cát reo, bãi rộng thấm gì chăng
Đời có thấy trong tim đời rộn rã
Một giọt huyết cầu, ngày tháng tôi lăn.
Đơn điệu
Thư bạn từ nay cứ vắng dần
Ngày già thêm trắng những vành tang
Bên vui sáng nhạt ngày vô vị
Sớm tối chuông chùa một điệu ngân.
3.1993
Đêm xuân trông sao
Vẹt ngang cành trúc ngước trông trời
Mặt trái xoan tìm dõi bóng ai
Thấm lạnh tình người sao lảo đảo
Chập chờn lây cả khóm hoa mai.
15.10.1995
Đùa với thú
Quấn quýt bên tay chó ẳng ăng
Đùa qua vài phút đã quen dần
Phải đâu miếng thịt liền tay nhứ
Mà chính vòng dây kiệt phải răng
14/2/1998
Đọc thơ Goethe trên bờ Bantich
Tượng như hắc hải mực tàu pha
Chạnh nhớ văn chương cử nghiệp nhà
Bó gối, mài nghiêng, lăn ngọn bút
Làm sao nói được cái bao la
Rostock, đông chạy 1975
Đường quê bạn
Đường về quê bạn nước tràn lan
Ngựa lạc mương qua bước quáng quàng
Tiếc một ván cờ chưa kịp thắng
Hẹn chừng nước rút đón em sang.
20.8.1998
Điều bất hạnh

Chim non lót tổ lót ghếch cành tơ
Chờ đón người yêu hót thẫn thờ
Đâu biết đêm qua luồn gió lốc
Đẩy vào đông lạnh bước bơ vơ.
18.4.1998
Đi dạo sau cơn ốm
Tháng vợi tuần trăng khuyết
Người vừa dứt cơn đau
Cỏ xanh đầy ngõ kiệt
Chú cuồng hát nghêu ngao.
6.1992
Đãi cơm nhà sư
Xôi vò sạch vỏ vắt tròn tay
Mến khách thường xuyên xới đĩa đầy
Sợ bữa anh về không gặp chợ
Cả làng khó kiếm bữa cơm chay
28/8/1998
Điện Biên
Núi trập trùng lan bóng núi xanh
Bản Dao, bản Thái bám triều quanh
Cỏ che mất dấu dân công trẩy
Còn vọng câu hò giọng Bắc Ninh
Đa và dừa
Hàng dừa tơ tốt mã mới trồng sau
Vút tàu lá làm gươm khua với gió
Cội đa cũ vươn tầm lên đại thọ
Góp nhựa đời buông rễ tự trên cao
12/1987
Đêm chèo vùng chiêm
Chèo diễn sân đình hoa đại nở
Quạt xòe cánh bướm dãi là bay
Hàng cây kiểng gót bên bờ thửa
Chợt nhớ ra ai giữa buổi cày
7/1969
Đêm suối Bung
Máy nổ tắt rồi đèn cũng tắt
Phên thưa, nhà trống tắc kè kêu
Đám mây ngoài núi sà lưng đỉnh
Trong núi tình tang nước suối reo
10/1993
Đồng hành
Ông dìu bước cháu hoa xuân nở
Cháu ngóng lời ông chuyện cổ tuôn
Ông cháu - cháu ông trời đất rộng
Thần tiên rồng phụng hiện theo hương
08/4/1992
Đón bình minh trên đất Phương Mai
Rủ em ra đảo đón bình minh
Ngắm nắng Phương Mai khéo tạo hình
Trước cửa biển đông vừa hé mở
Tình ta theo đó cũng lung linh
12/1993
Đi tìm
Một bóng ra vào ngõ hẽm đêm đêm
Người trên gác luôn xì xào chỉ trỏ
Nào biết ai kia từ đại lộ đi tìm
Niềm hạnh phúc chưa đặt thành tên phố
Đêm tịnh
Người sốt giường bên chợt nói mê
Trẻ sau phòng sản khóc oe oe
Chập chờn giấc ngủ đêm bệnh viện
Sợ đốt thêm cành, lụy tiếng rơi
Đưa con trong mùa cấy
Tiễn con ra khỏi rặng sầu đông
Ngoảnh lại bà con đã xuống đồng
Sợ đứng nhìn theo con trễ bước
Cúi đầu mẹ cắm chệch hàng song
Đi đến
Đi khó quên nhau lại đến cùng
Đến rồi tẻ lạnh, đến như không
Đến vì đi vậy, đi vì đến
Không đến không đi trống cõi lòng
7/1981
Đường qua xứ cọ
Cũng sóng đồi nâng, tàu lá đưa
Đường qua xứ cọ tưởng quê dừa
Ước nghe ai đó rầy con nghịch
Bật tiếng chào ra tiếng trẻ thưa
Đu đủ
Ứa nhựa hàn vết đau
Tỉnh yên cành gió quật
Quả đu đủ góc ao
Lặng dâng đời quả ngọt
2/1972
Đom đóm
Mỗi khi bắc đẩu trở canh tàn
Lại nhớ giờ xưa động bước thang
Gác xép không đèn đêm cuối tháng
Thương tình con đóm trước lan can.

Đọc Trang Tử
Trưa đọc Nam Hoa Kinh
Tối nằm không hóa bướm
Mừng mình chủ được mình
Dậy thổi nồi khoai sớm.

Đêm Bầu sáo 
Gò rộng bờ nghiêng gió thổi vào
Lửa than lò đút kết vành đai
Chuông dồn hướng gió sao lờ lạt
Thức giấc canh ba thắp lửa chài
10/3/1998

Đêm Bái Thượng 

Rừng lim bến Mục ngấn trăng in
Lò bể thôn xa tắt lửa đèn
Cô gái xe thồ ngưng giọng hát
Con phà đã cập bến sang đêm.
Đường thôn
Đường trở lại nông thôn
Nghe nam nồm chuyển khúc
Tre sậy có tâm hồn
Cũng bật lên tiếng trúc
10/2/1998
Đầy vườn
Cúc bồn chồn xuân chậm
Chủ nhân vuốt từng bông
Mỹ nhân lẫn vào sách
Đầy vườn trạng nguyên hồng
11/2/1998
Đõ mật
Trẻ lánh, già xa, tàu giặc bay
Đầy vườn hoa nở chẳng ai hay
Bầy ong chẳng phụ công trồng xới
Trên áng thư vun đõ mật đầy
Đi qua nhà 24 Cột cờ
Nhớ Xuân Diệu
Sấu rụng cây già đứng ngẩn ngơ
Cửa xanh lá sách khép phòng thơ
Người đi còn cả kho tình tứ
Vương tới đời sau những mối tơ
12.1990
Đường ngõ thôn
Chậu nước trong ngần bên chõng nhỏ
Đĩa xôi thơm, thiếp gỗ mâm tròn
Áo nâu, cô gái vươn đầu ngõ
Chân khách bâng khuâng xỏ dép mòn.
Đàn sếu bay xa
Một đàn sếu trắng hướng về tây
Đỉnh ngậm tà dương dẫy núi bày
Anh lính phục viên nâng chiếc mũ
Bâng khuâng lòng kẻ lạc xa bầy.
Đêm khuya đọc sách
Sách mở đêm khuya lọt gió đồng
Phù du bay đáp ngọn đèn chong
Câu thơ khắc khoải niềm vui sống
Giấy hóa tha ma những xác trùng.
12.1988
Đoan ngọ (1)
Hẹn con về ăn tết Đoan dương
Kiếm rễ tìm cây lá dọc đường
Sâu bọ đang mùa nhanh phát triển
Diệt trừ há phải đợi linh đơn,
( Đoan ngọ, 1987)
Đoan ngọ (2)
Thôn vắng, gà im tiếng gáy trưa
Cau vo tròn bóng thoảng hương đưa
Thiu thiu mắt chợp bên trang sách
Ý đẹp chụm quanh ghế xich đu
Đầu năm ngoạn cảnh
Tưởng đi tìm nghĩa hư vô
Hóa vui tục lụy hai bờ sông trôi
Né hoa khe khẽ chân dời
Sợ lay rụng mất nụ cười thơm dâng.
Mồng 2 Tết Nhâm Tuất, 1982
Đổi cảnh
Nhà dọn vào thung, nền trống không
Phòng văn đã hóa chỗ ươm trồng
Bạn về chịu khó đi quành vậy
Chớ hỏi “nhà thơ”, hỏi “lão nông”
Để lạc trăng
Sương cuối tuần đông, gió giữa đêm
Tuổi xanh phòng ấm lại gần em
Đêm qua chợt nhớ thời xuân ấy
Vành nguyệt than đơn lại trước thềm.
Đợi gió
Mây nhàn không xứ đến
Tụ trắng hai triền sông
Thuyền thơ nằm đợi gió
Buồm triễu nặng nhớ nhung
Đêm hoa quỳnh nở nhớ Chế Lan Viên
Hương tạ trời khuya đọng sắc quỳnh
Nửa nghiêng tiền kiếp, nữa lai sinh
Lẫn vào hương khói ba canh mộng
Một cánh phù du lộ bóng hình
                             YẾN LAN
                               1994

No comments: