Chúc Mừng Năm Mới

Văn Nghệ Quảng Trị kính chúc quý nhà thơ, nhà văn cọng tác viên và quý bạn đọc Năm mới 2017 Đinh Dậu VẠN SỰ AN LÀNH

Thursday, September 8, 2016

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ THƠ TÚ XƯƠNG - Tham luận của Ts. Nguyễn Đình Nguộc


        
                          Nhà thơ Tú Xương


           ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ THƠ TÚ XƯƠNG

Bài tham luận tại Hội thảo khoa học "Tú Xương với thơ Đường luật Việt Nam"

Một lần về quê Nam Định, đến thắp hương viếng mộ Nhà thơ Tú Xương trong công viên bên hồ Vị Xuyên, chúng tôi gặp mấy đoàn khách từ miền Nam và miền Trung đang dâng hương trên mộ Cụ. Thật xúc động! Tôi chợt nhận ra những bông hoa tươi và nhiều chân hương mới thắp trên phần mộ Thi nhân chắc hẳn là tấm lòng của những người hâm mộ thơ trào phúng Tú Xương. Từ đó thôi thúc tôi đi tìm hiểu vì sao thơ trào phúng Tú Xương lại có sức sống lâu bền đến vậy?
1.Thơ Đường luật trào phúng tạo nên danh tiếng thi sĩ Tú Xương.
Như chúng ta đều biết Nhà thơ Tú Xương (1870-1907) từ trần khi mới 37 tuổi nhưng những bài thơ Đường luật trào phúng của Cụ đã được hậu thế đánh giá rất cao. Nhà thơ Tản Đà tâm sự với thi sĩ Xuân Diệu: “Trong các thi sĩ tiền bối, phục nhất Tú Xương”. Nhà văn Nguyễn Công Hoan suy tôn Cụ là “Bậc thần thơ, thánh chữ”. Nhà thơ Xuân Diệu tặng Cụ câu thơ được nhiều người yêu thích:”Ông nghè, ông thám vô mây khói/ Đứng lại văn chương một Tú tài”... Thơ của Cụ đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Không ít các thế hệ người Việt Nam yêu thích thơ trào phúng của Cụ, nhiều người đã thuộc, đặc biệt là các bài thơ: “Thương vợ”, “Chúc Tết”, “Đêm buồn”, “Mùa nực mặc áo bông”, “Khoa thi”, “Chừa”... Người dân Nam Định tự hào về Thi sĩ Tú Xương và miền văn hóa Non Côi- Sông Vị! Thơ trào phúng Tú Xương  đã góp phần làm giàu thêm kho tàng văn học Việt Nam với dòng thơ trào phúng độc đáo mà sau này nhiều người nối tiếp, tiêu biểu là nhà thơ Tú Mỡ. Nhà thơ Xuân Diệu xếp Tú Xương thứ 5 sau bốn thi hào dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Đoàn Thị Điểm (Thơ Tú Xương- Vũ Hạnh Hiên tuyển chọn).
Đường phố tại Sài Gòn, Nam Định và nhiều thành phố khác ở nước ta đã được vinh danh mang tên Nhà thơ.
2.Thơ Đường luật trào phúng đã được Tú Xương sử dụng như một công cụ sắc bén phản ánh hiện thực phê phán xã hội đương thời.
Cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX khi thực dân Pháp chiếm xong các tỉnh phía Bắc nước ta, văn hóa phương Tây tràn vào, nền thi cử Khoa bảng ngàn năm đứng trước sự thoái trào không thể cưỡng nổi. Chữ quốc ngữ ra đời báo hiệu một nền văn hóa mới bắt đầu. Những phong tục, tập quán, đạo đức xã hội phong kiến bao đời tồn tại ở nước ta đã và đang bị thách thức... Là Khóa sinh, từ nhỏ được đào tạo theo con đường Khoa bảng, đã đỗ Tú tài Nho học, lại “văn hay chữ tốt” nên Tú Xương rất thạo thơ Đường luật.
Thơ Tú Xương chủ yếu viết theo thể Đường luật bao gồm thơ “thất ngôn bát cú” và thơ “tứ tuyệt”. Thơ Đường luật là thể thơ bác học, niêm luật chặt chẽ, ý tứ sâu xa các bậc trí thức đương thời thường dùng xướng họa về những lĩnh vực cao sang của giới thượng lưu quyền quí. Nhưng nhà thơ Tú Xương  đã sử dụng thơ Đường thật tài tình khi viết về đời thường với bao trăn trở, lo toan; những “thói đời” ngang trái, hợm hĩnh, bất công... qua những vần thơ trào phúng, trữ tình. “Trâu mừng ruộng nẻ cày không được/ Cá sợ ao khô vượt cả rồi” (Đại hạn); “Van nợ lắm khi tràn nước mắt/ Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” (Cái khó); “Một tuồng rách rưới, con như bố/ Ba chữ nghêu ngao, vợ chán chồng” (Mùa nực mặc áo bông); “Nhà kia lỗi phép con khinh bố/ Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng” (Đất Vị Hoàng); “Kẻ yêu người ghét, hay gì chữ/ Đứa trọng thằng khinh chỉ vì tiền” (Thói đời)... đọc lên ta cảm thông với nhà thơ và rộng ra là với người dân trong xã hội đương thời phải sống những tháng năm khó khăn, cơ cực dưới hai tầng áp bức của thực dân Pháp và vua quan nhà Nguyễn. Những câu thơ: “Xe kéo rợp trời quan Sứ đến/ Váy lê quyét đất mụ đầm ra” (Khoa thi); “Hà Nam danh giá nhất ông cò/ trông thấy ai ai chẳng dám ho” (Ông cò); “Tri huyện lâu nay giá rẻ mà/ Ví vào tay tớ quyết không tha” (Bỡn ông Phó bảng); “Chữ “thôi” chữ “cứu” không phê đến/ Ông chỉ quen phê một chữ “tiền” (Bỡn Tri phủ Xuân Trường); “Sơ khảo phen này bác cử Nhu/ Thực là vừa dốt lại vừa ngu” (Ông cử Nhu); “Nghe văn mà gớm cho văn nhỉ/ Cờ biển Vua ban cũng lạ đời!” (Tiến sĩ mới)... khi đọc nghe phảng phất tiếng cười mỉa mai, chua chát thân phận của người dân mất nước và phê phán những thói hư, tật xấu, nhiễu nhương... trong xã hội đương thời. Bằng nghệ thuật thơ Đường, những cặp câu thực, câu luận đối nhau chan chát càng tăng chiều sâu và hiệu quả của tứ thơ tạo nên tiếng cười riêng có của mỗi bài.
3.Những sáng tạo từ ngữ độc đáo của Tú Xương góp phần làm giàu ngôn ngữ tiếng Việt.
Nghiên cứu thơ Tú Xương điều đầu tiên chúng ta nhận thấy công lao sáng tạo của Nhà thơ đã đưa nội dung trào phúng vào thơ Đường luật thông qua những từ ngữ gần gũi với đời thường nên dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc, có sức lan tỏa trong nhân dân. Văn thơ của Cụ nổi tiếng khắp vùng nhưng Tú Xương không có duyên với thi cử, “ học tài thi phận”, tám lần đi thi chỉ một lần đỗ Tú tài. Phải chăng đây là duyên nợ để Tú Xương trải lòng, sáng tạo nên những bài Đường luật trào phúng “ để Đời”? Trộm nghĩ, nếu Cụ đỗ Đại khoa, chắc gì có được thi sĩ Tú Xương với những bài thơ trào phúng nổi tiếng để lại cho hậu thế?
Về ngôn ngữ, thơ Tú Xương có những từ ngữ sáng tạo độc đáo riêng có của Nhà thơ không lẫn vào đâu được, tạo nên thương hiệu Thơ Tú Xương. Trong bài thơ Đêm buồn có 2 câu thơ độc đáo, được nhiều người đọc các thế hệ tâm đắc:
“Đêm nảo, đêm nao tớ cũng buồn”
“Nhạt phèo quang cảnh bóng trăng suông”.
Câu mở đề bài thơ Đi thi: “Tấp tểnh người đi tớ cũng đi” hay câu: “Ông lão nhà quê tang tảng dậy” (Bài Mưa tháng bảy)... có những từ láy đầy dụng ý tạo nên điểm nhấn của câu thơ. Một số bài thơ Tú Xương sử dụng nghệ thuật tu từ tạo nên sự khác lạ làm tăng khả năng hấp dẫn của câu thơ: Bài thơ Cảm Tết có câu “Thôi thế thì thôi đành Tết khác”, hoặc câu kết bài Gái buôn “Chẳng biết rằng dơ dáng dạng hình”...
Đọc thơ Tú Xương tôi rất thích hai câu đề của bài Than cùng:
“Lúc túng toan lên bán cả Trời/ Trời cười:- Thằng bé nó hay chơi”.
Đây thực sự là câu thơ trào phúng đặc sắc riêng có của Tú Xương. Đọc câu thơ đầu ta liên tưởng đến các câu ngạn ngữ như: “Đói ăn vụng, túng làm liều”, “Bán Trời không văn tự” khi nói về người nào đó túng bấn, làm liều, nói năng khoa trương, không thể tin được. “Toan lên” tức là định lên, chưa lên. Khi đã túng bấn, thiếu tiền thì luôn tính toán, cái gì cũng bán miễn là có tiền, đi đâu cũng đi, kể cả “lên Trời” để thỏa cơn khát tiền? Câu sau vừa trữ tình, vừa trào phúng: “Trời cười:- Thằng bé nó hay chơi”. Đã là trẻ con thì ai thèm chấp? Chắc trước khi nói “Trời” vừa lắc đầu, vừa cười đầy thông cảm. Và người đọc không thể nhịn cười khi “nghe” câu hài hước của Trời.
Còn nhiều, rất nhiều những câu thơ hay, những từ ngữ lạ đầy sáng tạo, ngẫu hứng và trữ tình trong 170 bài thơ của Tú Xương mà tôi đã đọc. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên bậc Túc Nho danh tiếng như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sau khi đọc thơ cụ Tú Vị Xuyên đã thốt lên:“Trong các thi sĩ tiền bối, phục nhất Tú Xương” (Lời Xuân Diệu). Tôi tâm đắc ý kiến Nhà văn Nguyễn Khôi:“Về nghệ thuật thơ ca, Tú Xương đã đưa những ngôn ngữ đời thường (dân gian) vùng quê Nam Định - rộng ra là vùng đồng bằng sông Hồng...vào văn chương bác học (thơ Đường luật) tạo nên một giọng điệu thơ riêng,với  hình tượng thơ rất sống động thành "thương hiệu thơ Tú Xương "bất hủ cùng non sông Tổ Quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta”.
Ngày 29 tháng 01 năm 2017 kỷ niệm 110 năm Thi sĩ Tú Xương từ trần. Bài viết như một “nén hương tâm” tưởng niệm Nhà thơ Trần Tế Xương- Niềm tự hào của quê hương Nam Định với Non Côi- Sông Vị mến yêu!

                                                         Hà Nội, cuối Thu 2016
                                                        Ts. Nguyễn Đình Nguộc

No comments: