Chúc Mừng Năm Mới

Văn Nghệ Quảng Trị kính chúc quý nhà thơ, nhà văn cọng tác viên và quý bạn đọc Năm mới 2017 Đinh Dậu VẠN SỰ AN LÀNH

Friday, November 28, 2008

ĐÔNG HÀ

Đông Hà
Những lá thư tình


Những lá thư tình như những nhát dao

Chuôi dao đã tuột về quá khứ

nhiều khi trong cơn mê ngủ

tôi bàng hoàng



Những thư tình viết từ thuở hồng hoang

Có yêu thương cuồng điên thời trẻ tuổi

( Yêu như thể không yêu là chết mất

chẳng hiểu sao lại sống dậy trong lòng )



Những lá thư tình như những nhát dao

Chuôi dao đã quay về quá khứ

cầm sao không chảy máu bây giờ???


CHUYỆN ĐỜI XƯA

TRONG NHÀN ĐÀM HOÀNG PHỦ


ĐÔNG HÀ




Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút ký tiêu biểu của Huế và cả nước. Anh tung hoành trên nhiều dải đất khác nhau của đất nước nên những trang viết của anh ngồn ngộn chất sống cộng thêm với sự uyên bác vốn có khiến giọng văn của anh càng thêm sang trọng. Anh không chỉ tài hoa trong thể ký mà còn thành công trong lĩnh vực thi ca bởi đây là một người không hề dễ dãi với con chữ chút nào. Với thể loại thơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường là người làm thơ luôn bị ám ảnh bởi “cõi chết”. Thân phận và Con Người, Tình yêu và Cái chết luôn xuất hiện trong thơ anh như trực quan về cuộc sống của riêng mình. Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đẹp như nỗi buồn đọng lại. Ở đấy, người ta thấy thơ anh đã được sinh ra giữa sự sống và cái chết, niềm vui và nỗi buồn, giữa cái cô đơn ầm ào tuyệt vọng. Những câu thơ hay của anh thường buồn tha thiết “Mai kia rồi cũng xa người/ Tôi về ngủ dưới khung trời cỏ hoa/ Có nàng xoã tóc tiên nga/ Quỳ hôn cát bụi khóc oà như mưa”. Buồn đến dại khờ, đến đê mê đắm đuối. Nhưng khi đến với Nhàn đàm, dường như anh lại tỉnh táo bình tĩnh đến không ngờ. Vẫn giọng điệu tài hoa sang trọng nhưng bình tĩnh, khác hẳn cái chất giọng đa tình của thể thơ và hoài mang của thể ký.

Đến bây giờ có thể nói người viết nhàn đàm trong văn học Việt Nam chưa nhiều, đây vẫn là một lĩnh vực mới mẻ trong khi trên thế giới thể loại này đã khá phổ biến. Giả Bình Ao ở Trung Quốc đã rất thành công ở thể này. Ở Việt Nam, người viết Nhàn đàm có thể kể ra một vài người tiêu biểu như Thanh Thảo, Tiêu Kim Thuỷ… Và nổi trội, viết đều đặn, đầy tay hơn cả vẫn là nhà thơ, nhà văn Hoàng Phủ.

Nếu trong thơ, Hoàng Phủ làm thơ như thể “viết di chúc để mà chết” theo nhận xét của Nguyễn Trọng Tạo, viết tuỳ bút như để “trằm” cả gương mặt mình vào đất Thần kinh như lời của Tô Hoài thì trong Nhàn đàm anh lại bình tĩnh “lẩy” lên từng hạt cát của cuộc đời để chiêm nghiệm, trở trăn. Những bài Nhàn đàm nhỏ bé, xinh và giàu chất suy tư trăn trở với cuộc phù sinh. Đôi khi chỉ là một điều rất giản đơn nhưng Hoàng Phủ đã khiến người đọc phải giật mình ngẫm ngợi. Và hình như để đạt được cái “ vỗ vai” đầy thâm hậu ấy, thấp thoáng trong những trang viết của mình, nhà văn đã rút tỉa những chất liệu có từ khởi thuỷ xa xưa để nhắc nhớ con người ngày nay, đó là chất liệu đã hàng nghìn năm tích tụ từ kho văn học cổ Trung Quốc.

Điều dễ nhận thấy là trong rất nhiều bài Nhàn đàm của anh thường xuất hiện các tư tưởng triết học phương Đông, mà điển hình vẫn là tư tưởng triết học Nho- Phật – Lão của Trung Quốc. Vốn là một giáo sư triết học nên việc vận dụng những tư tưởng triết học trong những bài viết của mình là điều dễ hiểu. Ngay trong những sáng tác ở thể loại ký, cũng chính chất triết lý sâu xa ấy đã làm nên tầng vỉa lớp mạch cho tác phẩm của anh.

Với Nhàn đàm cũng vậy, cũng những câu chuyện triết học nhưng ngắn gọn vô cùng, đôi khi câu chuyện có thể chiêm nghiệm cả một đời lại nằm vỏn vẹn trong đôi câu nhẹ nhàng quá thể. Bàn về triết học Khổng Tử đôi khi với Hoàng Phủ chỉ là sự tình cờ “Ngẫu Hứng”: “Trải gần suốt đời người dâu bể, thú thật cho tới nay, tôi vẫn chưa đi hết cuộc chuyện trò ngẫu hứng của thầy trò họ Vương trong buổi chiều xa xôi ấy nơi sườn núi. Có ai giúp tôi hiểu tường tận cái Tâm là gì? Có lẽ cũng chỉ cách thô sơ ấy thôi, như lời thầy Nguyễn Đăng Thục, đêm khuya nằm thật yên, nghiêng tai trên gối và nghe tiếng đập trong lồng ngực”. Lời của triết nhân từ xa xưa vọng về, đi hết cuộc đời dâu bể vẫn chưa “ngộ” được đạo, mà giản đơn chỉ lắng nghe tiếng đập của trái tim mình, ấy là đạo. Thuyết Tâm học của Dương Vương Minh sao phải đi dài đến thế khi lại gần ta trong gang tấc đến thế, phải chăng nhà văn đã tìm ra con đường ngắn nhất giúp người đọc “ngộ đạo” khi bản thân mình đã đi suốt chặng đường dài nhân thế?

Hay trong một bài Nhàn đàm khác, nhan đề tưởng chừng vu vơ tính tình tang “Ai đem con sáo sang sông”, anh lai lấy tích xưa của thầy trò Tam Tạng về chuyến qua sông luỵ dò, luỵ đò xong lại quên ngay đấy. Phải chăng đó là một tâm tính xấu con người hay mắc phải? Người đời gọi đó là “qua cầu rút ván”. Còn Hoàng Phủ lại thấy cái ông “Ngô Thừa Ân là một nhà văn thâm Nho”. Quả thế thật, nhân tình thế thái, ở đâu mà chẳng giống nhau, thời nào mà chẳng mang tâm tính con người. Đã là tâm tính, khó có gì lay chuyển nổi. “Non sông dễ đổi, bản tính khó dời”. Nhưng câu chuyện Đường Tăng nợ con rùa trên chuyến sang sông kia vẫn còn đó, gieo cho người đời một nỗi hoài nghi về thế thái nhân tình. Mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, Hoàng Phủ đã gieo vào lòng người đọc một nỗi niềm bâng khuâng pha lẫn cái gì đó chát chua khó tả.

Cũng lại mượn tích xưa, câu chuyện Trang Tử mổ rồng, hoá ra Rồng có đâu mà mổ? Con người ta thường tự huyễn hoặc mình bằng những điều vu vơ kỳ quặc. Và tin như thể đó chính là cứu cánh của cuộc sống. Tự đánh lừa mình, hay cũng là đánh lừa nhân thế. Hoàng Phủ đành thú thật, một sự thật dễ làm “mệt tim” những người đa đoan trót đam mê nghiệp dĩ “Tưởng rằng đọc Trang Tử để tìm chút thư nhàn. Hoá ra vẫn thế, ngọn đèn khuya, trang sách cũ, và mái tóc hoa râm rối bời…” ( Sát Long chi bối). Hoá ra con người từ truyền kiếp, vẫn hay mơ tưởng chuyện xa xôi, khi giật mình tỉnh lại, vẫn là thực tại cũ, những niềm hụt hẫng cũ, những nỗi niềm chát chua xưa cũ… Vậy mà sao vẫn đi tìm, vẫn huyễn hoặc mình dù biết đó là điều không có thật? Hoàng Phủ là người biết điều ấy, khổ thay lại biết điều mà con người ta bao lâu nay không thể nào tránh khỏi, cả khi biết rồi cũng không thể nào tránh khỏi, nên chuyện cũ tích xưa vẫn còn nguyên, mới rợi.

Hay một câu nói của người xưa, “xích tử chi tâm”. Có lẽ, khi Mạnh Tử chiêm nghiệm điều này, hẳn Ngài cũng không ngờ hậu thế lại cứ mãi trở trăn muộn phiền đến thế đâu. Vậy nhưng với Hoàng Phủ, dường như trong con người này, lúc nào đụng đến chữ “Tâm”, lại như không hề yên ổn. “Thế giới mãi trầm luân trong lửa và máu, chính bởi con người đã đánh mất “ xích tử chi tâm”, để đổi lấy hận thù làm quyền sống” (Bài học vỡ lòng của tôi). Trái đất ngày một nóng lên, bởi môi trường, bởi bầu khí quyển, bởi vòng xoay ngày một vội vã, và cả bởi chiến tranh. Quyền lực, tiền bạc, tham vọng, mưu đồ…tất cả như trộn lẫn, nhào nặn lên làm thành một khối “hận thù” để đổi lấy hai chữ Hoà Bình. Cổ nhân đã từng thấy điều đó, đã “khuyến cáo” chúng ta điều đó, vậy tại sao lại quên khi lẽ ra không được có quyền quên? Hoàng Phủ đã chỉ ra cho chúng ta điều ấy, liệu mấy ai trên thế gian này một lần nữa lĩnh hội ra? Khi mà quyền lực, đồng tiền vẫn còn ở ngôi vì thống lĩnh?

Kinh Dịch vốn là kho tàng thi liệu, văn liệu tuyệt vời và bất tận cho các văn nhân đời sau khai thác. Cũng từ kho báu chữ nghĩa đó, Hoàng Phủ đã khai phá cho người đọc những cơ hội lĩnh hội diệu kỳ. “Quẻ Vị Tế” là một trong những điều kỳ diệu đó. Bàn về Kinh Dịch, không cao tay sẽ rơi vào sự sợ hãi về chữ nghĩa. Nhưng với Hoàng Phủ, người đọc “ngộ” ra những điều thật sâu sắc mà lại đơn giản vô cùng, Vị Tế là một thông điệp vĩnh hằng về phận người: “Hỡi người, người sinh ra không phải để yên nghỉ mà lên đường, lên đường bằng tất cả âu lo của kẻ vượt sông”. Tất cả những lời giải trình về thân phận con người dường như chỉ vỏn vẹn trong chuyến vượt sông đầy định mệnh ấy. Có người đã nói rất buồn rằng “Đời người là quán trọ/ Ung dung nào mấy ai”. Nói về thân phận cuộc đời, không hiểu sao thường ám ảnh về một dòng sông. Heraclit có câu nổi tiếng “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Sau này, những chuyến đi của con người cũng trên dòng sông. Mà có phải ai cũng biết bơi và bơi giỏi đâu. “Lỡ bước sang ngang” thôi mà. Nên hầu như đã là người, chuyến sang sông nào mà không thấm đẫm âu lo? Đến bây giờ, nhân loại vẫn từng phút giây chen chúc nhau sang sông, trên chuyến đò Bát Nhã. Và quẻ Vị Tế kia, như Hoàng Phủ đã chỉ ra, rằng đời người là một cuộc hành trình không ngơi nghỉ, còn ôm theo nỗi thắc thỏm của kẻ vượt sông…

Không hiểu sao, ở thể ký nhiều lúc giọng văn Hoàng Phủ còn có chỗ tươi, thì trong thơ lại buồn đến đứt ruột, và ở Nhàn đàm cũng vậy, những bài viết ngắn chút xíu, vậy mà vẫn lộ ra giọng buồn da diết. Cái “tạng” nó thế, hay bởi những câu chuyện anh viết thường buồn? Có lẽ tại cả hai. Như câu chuyện “ Cừu Dolly và câu chuyện kiếp sau”. Bàn về công nghệ sinh học hiện đại hẳn hoi, vậy mà trong anh vẫn mang mang câu chuyện cổ xa xưa từ … Trung Hoa cổ đại, rằng “nếu có một kẻ tình si nào đó bị buộc phải chia lìa trong cõi đời này (thí dụ như anh Trương Chi chẳng hạn), thì vào đêm trước khi chết, chàng xin được uống nước sông Hoàng Hà, để kiếp sau gặp lại, chàng sẽ nhớ và nhận ra người yêu dấu của mình trong tiền kiếp. Phút “nhận mặt người quen” đó thường xảy ra trong một cuộc gặp gỡ tình cờ, bằng một sức mạnh làm choáng váng, gọi là “tiếng sét ái tình” (Coup de foudre)”. Những cuộc tình đẹp trên thế gian thường là những cuộc tình buồn. Nhưng điều an ủi giúp những kẻ buồn tình ấy là khái niệm về “kiếp sau”. Có lẽ, ảo vọng về cái kiếp sau ấy giúp họ sống tốt hơn ở kiếp này khi đã trót có cuộc đời buồn đến thế chăng? Trịnh Công Sơn cũng đã từng quan niệm về cuộc đời chỉ là thân phận của con chim di, con phù du bay ngang cõi trần thế, chỉ là “ở trọ’ thôi mà. Bàn về cái mới nhưng lúc nào tâm trạng Hoàng Phủ cũng vấn vương những điều muôn năm cũ…

Trong “Một chuyến tàu” cũng vậy,“Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ” (Đừng buồn rằng con đường trước mặt không có ai là người tri kỷ). Những chuyến tàu xuôi ngược ngang qua, thật khủng khiếp nếu đó chỉ là chuyến đi đơn độc. “Những chuyến tàu từ Đông sang Tây, từ Tây sang Đông” quả thật khiến “Một ngày dài hơn thế kỷ”. Từ xưa, cổ nhân đã cần người tri kỷ, bây giờ con người vẫn cần điều ấy hơn hết, khi mà ngồi trong căn phòng tiện nghi, chỉ một cái nhấn nút có thể với tay ôm cả thế giới vào lòng, nhưng lại bơ vơ vô cùng khi muốn chia sẻ một điều gì đơn giản, khó đến đau lòng.

Mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, khó ai có thể tài tình khéo léo như Hoàng Phủ. Những triết luận về cuộc đời từ những câu chuyện cổ được anh giãi bày thật nhẹ nhàng mà mang sức nặng ngàn cân của con chữ. Vì vậy văn phong anh ngắn gọn mà cô đọng hàm chứa biết bao điều.Thiết tưởng không phải ai cũng có được một “nội công thâm hậu” ấy, nhất là khi đang ở trong cơn bạo bệnh tưởng chừng không thể nào gượng lên được. Vậy mà anh không chỉ “gượng” qua cơn bệnh, hơn thế nữa, với những gì anh làm từ con chữ, chúng tôi gọi đó là một sự “tái sinh”, như thể cuộc đời anh là hai kiếp người cộng lại, bây giờ anh đang sống tiếp kiếp thứ hai của mình. Nên văn chương anh vẫn mới mẻ, tràn đầy ngữ nghĩa trong mỗi câu chữ anh góp nhặt để lại cho đời, như con chim oanh vũ mỗi sáng tinh khôi vẫn tha về từng hạt gội, nhảy nhót tưng bừng trong “thành phố vườn” thơ mộng của anh.


ĐÔNG HÀ

READ MORE - ĐÔNG HÀ

CAO HẠNH


BÀI CA ĐIỆU LÝ

Truyện ngắn của CAO HẠNH


Tôi sinh ra ở làng quê, lớn lên cũng ở làng quê. Tôi là hạt máu đỏ rơi xuống bùn đất mọc lên một thằng người cùng với ngọn cỏ lá rau cây lúa và những sinh linh khác. Tôi cùng chịu đựng chia sẻ với chúng ngọn gió Lào cát trắng và những trận mưa dầm dề của xứ miền Trung khắc nghiệt.


Nhìn trên bản đồ Việt Nam tôi biết quê tôi chỉ là một cái chấm xanh rất nhỏ, không biết so với toàn cầu thì quê tôi còn nhỏ tới đâu nữa, vì quê tôi chỉ có ba trăm héc ta đất thôi. Nhưng dù nhỏ đến bao nhiêu, quê tôi vẫn là một cộng đồng có mặt trên địa cầu từ thuở hồng hoang với những nét văn hoá riêng góp vào cuộc sống nhân loại.

Đứng trên cầu Sa nhìn xuống thấy một vật xanh kéo dài từ chân núi Tá đến hồ Mây, đó chính là nới tôi đã cất tiếng khóc chào đời. Mẹ ru tôi bằng điệu lý. Ôi điệu ru suốt một đời khắc khoải giữa hồn tôi. Sau này lớn lên tôi được nghe lại điệu ru ấy từ núi Tá vọng về - Nơi bố con lão Sáu mù ngồi đàn hát giữa chín tầng mây. Người con gái ấy tên là Sen có nước da nõn trắng, đôi mắt như hai giọt nước, nhìn tôi với cái nhìn thanh khiết đến lạ thường. Cứ mỗi buổi chiều khi mặt trời sắp tắt, tôi thường lẻn ra ngồi dưới chân núi Tá để nghe tiếng đàn rơi buốt trong mây và giọng ca cô gái nhỏ chuốt giữa không trung, lúc vút lên đến vô cùng tưởng như đẩy cả trời xanh lên cao vời vợi, có lúc rơi hẫng đến tận cùng khiến nước hồ Mây lăn tăn gợn sóng.


Mẹ tôi nói: “Thằng này phải lòng con bé của lão Sáu mù rồi, phải đi ăn hỏi gấp không có dễ sinh chứng si tình”. Phải lòng hay không tôi chẳng biết, tôi chỉ thấy mình rất thích nghe đàn hát, ngắm cảnh sương khói hồ Mây núi Tá bốc lên hoà quyện vào nhau để luỹ tre làng đẹp như ảo ảnh. Các cụ xưa nói đó là nguyên khí của đất và nước. Nguyên khí mạnh thì làng quê vững “Đá trôi mà làng không trôi”. Sau này vào nghiệp văn chương, đọc sách cổ tôi mới biết được nguyên khí có giá trị như thế nào. Tôi biết ở Trung Quốc nhờ có đỉnh Kai-las (phía Ấn Độ) mang nguyên khí vào hồ Ras-ka-tal và được dòng sông Hoàng Hà và Dương Tử mang đi để tạo nên nền văn minh Trung Hoa. Chẳng biết cụ tổ làng tôi có thạo sách pháp địa không mà chọn nơi đây dựng xây cơ nghiệp. Các cụ nói quả không sai, quê tôi trải qua bao biến động thăng trầm của thiên nhiên và lịch sử, màu tre xanh ấy có lúc lụi tàn, tàn lụi rồi trở lại xanh rức, tạo thành một tấm màn xanh dựng ở chân trời. Tấm màn xanh ấy đã mở ra cho bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu số kiếp, người ở, người đi, sinh tồn cùng nhân lại. Và dù đi đâu, ở đâu sung sướng đến mấy, người quê tôi vẫn không mất đi cái chất trần ai khắc khoải của điệu Lý. Đất này là đất trăm họ. Mỗi dòng họ có gốc gác khác nhau, nhưng người quê tôi có chung dòng máu thượng võ pha chất phóng đãng của thi nhân. Hùm beo không sợ, giặc giã không kiềng chỉ sợ điều nhân nghĩa.


Thuở xưa quê tôi có nghề bắt cọp. Nguyên nhân sinh ra nghề này cũng đơn giản thôi. Chả là thời bấy giờ làng tôi năm trên cánh rừng từ chân núi Trường Sơn chạy dài về biển. Hổ, báo nương theo cây cối lau lách tìm về, lấy làng tôi làm nơi trú ngụ. Người buộc phải ở chung với hổ. Cuộc sống hằng ngày xảy ra biết bao cảnh chết chóc tang thương. Không chịu đựng nổi, người làng tôi phải tìm mọi cách để trừ khử chúng. Đó là luật sinh tồn. Họ đã vào rừng lấy vỏ cây làm mác! Quyết liều một phen với loài hung thú. Cuộc chiến đấu làm cho biết bao chàng trai phải chết, cuối cùng thì họ cũng bắt được hổ. Từ chỗ bắt được một con, đến hai con dần dần trở thành kinh nghiệm truyền kiếp. Tiếng tăm lẫy lừng khắp nơi lan đến tận cung đình, nhà vua bèn sai các quần thần về xem xét, thấy có thật, từ đó nhà vua có chiếu chỉ sai làng tôi đi bắt hổ nộp triều đình. Chuyện được vua sai đi bắt hổ, người làng tôi chẳng lấy gì làm vẻ vang, họ chỉ sung sướng một điều là đuổi được hổ ra khỏi làng.....


Thời chiến tranh, dù là chiến tranh chống Pháp hay chống Mỹ thì làng tôi vẫn là mục tiêu huỷ diệt của kẻ thù. Nhưng người làng tôi “một tấc không đi, một ly không rời!” họ quyết bám làng bám đất. Giặc đến là đánh! Giặc đi là tiếp tục sản xuất. Cuộc sống thời chiến bộn bề công việc làm người ta phải dồn hết sinh lực có khi quên ăn. Nhiều lúc đang làm đồng, máy bay đến ném bom, mọi người phải tạm gác cuốc cày vào vị trí chiến đấu. Cha vác đạn, mẹ tải thương, con bám chặt bệ pháo. Máu cha đẫm trên ngực con, máu con đầm trên tóc mẹ. Gian khổ đau thương là thế mà người ta vẫn sống lạc quan. Đêm đến, anh đàn chị hát, tiếng hát vượt lòng đất bay lên lung linh cả sao trời.

Điều lạ thay sau ngày giải phóng, cuộc sống quê tôi không còn được sôi động như trước nữa. Sau buổi hò reo mừng chiến thắng, nét mặt người ta dần dần trở nên ỉu xìu. Họ sống trong tâm trạng tính toán lo âu. Hằng ngày thấy họ thơ thẩn trên các mảnh vườn, hoặc rải trên các đồi hoang ngó ngàng tìm kiếm, cầu nhặt được một cái gì đó, một tí mảnh bom hay một cái ống liền đem về đổi gạo. Công việc nhà nông một năm sản xuất hai vụ lúa, chỉ thực hiện hết một phần hai quỹ thời gian còn lại họ chẳng biết làm thêm việc gì để tăng thu nhập, buộc phải lao vào những việc không tên, bận bịu suốt mà chẳng có hiệu quả kinh tế.

Ông Sáu mù là người suốt một đời cào cấu với đất đai, kết quả vẫn hai bàn tay trắng. Những ngày đó tính tình ông thay đổi hẳn.

Từ một người vui vẻ sảng khoái ông trở nên trầm buồn. Nghe nói đêm đang nằm ngủ, ông vùng dậy đốt đèn hút thuốc than thở một mình “Đất nước đã hoà bình rồi, người dân trở thành ông chủ - Nhưng ông chủ không biết làm gì để mà ăn....Tức thật!”. Ông đấm tay vào trán dằn vặt cho đến sáng. Hàng ngày người ta thấy ông lang thang trên các ngọn đồi, tối đến leo lên núi Tá ngồi khóc dưới trời. Mấy năm sau ông đổ bệnh mù cả hai mắt. Ông sai đứa con gái dắt ông lên núi Tá đàn hát giải sầu “Chiều ơi chiều......chiều ơi chiều....”. Mẹ tôi nói đó là tiếng gọi hồn. Cha con nhà ông Sáu đã điên không khéo làm cho nhiều kẻ điên theo. Mẹ chỉ tay ra ngọn đồi nơi có mấy người đang ngó ngàng tìm kiếm mẹ bảo: “Con thấy chưa, nó hút hồn người ta bắt người ta phải thất thuể bơ vơ, lẩn quẩn khắp đó đây, cả sương khói cũng cuốn tròn theo”. Từ đó mẹ sinh ra thù ghét bố con nhà ông Sáu, tuyệt đối không cho tôi gần gũi với cô Sen. Buồn chán tôi bỏ nhà ra đi.


*

Lũ chúng tôi gồm bốn thằng: tôi, Khánh, Kha, Công. Chúng tôi xuyên rừng vượt suối mà đi vào tận “Thâm sơn cùng cốc”. Những nơi mà chưa hề có ai đặt bàn chân đến.

Mọi sinh vật ở đây chưa hề được tiếp xúc với con người. Tôi nhìn thấy lũ bươm bướm đủ các loại đen tím vàng đậu kín bờ khe, nghe động bước chân người, chúng khua nhắng cả lên làm chúng tôi rối cả mắt. Bốn đứa chìm ngập trong đàn bươm bướm.

Ếch nhái và những loại côn trùng khác cũng kêu lên inh ỏi. Hình như chúng tôi đã vi phạm đến thế giới của chúng. Bỗng thằng Kha kêu lên: “Ối giời ơi!”. Nó chỉ tay vào một bờ đá. Một con rắn có mào đỏ như mào một chú ngan đực vỏng cao đầu, xỉa xỉa cái nọc độc về phía chúng tôi. Bên cạnh nó là một chú ốc sên bình yên vặn mình trên tảng đá một cách chậm rãi. Luật rừng rất dữ dội, nhưng chắc cũng có một độ mềm để cho những sinh linh nhỏ tồn tại. Chúng tôi vừa đi vừa giật lùi, đưa cao gậy thủ thế, hễ có rắn kia lao đến là quật liền. Nhưng chú rắn thấy chúng tôi rời xa, nó ngoắng ngoắng cái cổ mấy cái rồi rụt lại trong hang im ỉm. Thằng Kha lại cười lên sằng sặc khi nó nhìn lên thấy một chú khỉ mù ngồi múc nước bên khe. Chú khỉ này có thể do bệnh tật hoặc do chiến tranh, bị chất độc hoá học mà mù. Ở rừng té ra cungx có những số kiếp đáng thương như vậy. Một tiếng quát to làm chúng tôi giật mình. Một gã tóc quăn mình mẩy trần truồng mặt mày đen nhẻm như người thị tộc da đỏ, từ suối rượt lên, hai tay lăm lăm hai đá chực ném, mắt trợn dọc nhìn chúng tôi.

- Đứng lại! Ai cho chúng mày vào đây.

Thằng Công tái mặt ú ớ “Khu....vực....này cấm hở anh?” - “Cấm! Đây là địa bàn của chúng tao khai thác mày hiểu chưa?” Gã kia nói như hét. Mặt thằng Kha đỏ phừng. Tôi biết nó đang điên tiết, liếc vội mắt ra hiệu cho nó phải dừng. Ở rừng, chỉ cần chạm lòng nhau một tý là có thể xảy ra chuyện binh đao ngay, tốt nhất là chịu nhịn. Tôi ôn tồn bảo hắn: “Xin lỗi, bọn em bị lạc đường sa vào địa phận của các anh, bọn em sẽ đi ngay”. Gã kia ngoảng lại, lầm lũi xuống suối. Chúng tôi ghé mắt nhìn theo. Thấy gã ngồi xuống bên hai người đàn ông cũng trần truồng như gã. Hình như bọn chúng thịt một con gì. Nhìn kỹ té ra đó là một thây ma. Họ lấy dao xẻo từng miếng thịt vứt xuống suối, lấy xương bỏ vào bao tải. Tôi biết số phận của người đi trầm, không may bị chết thì đồng bọn không còn cách nào khác là phải phân thây xẻ thịt lấy xương đem về mai táng. Vì đường xa xôi, cây cối chằng chịt, làm sao mà khiêng xác về được. Trông thấy họ mà tay chân chúng tôi cứ bủn rủn, tâm thần hoảng loạn, gắng nhấc từng bước. Chúng tôi đi chệch về phía Tây, leo lên một ngọn núi cao. Trên đó chỉ thấy những cây to chết đứng. Dưới gốc của một cây già nua có một chồng dây mây khoanh tròn, tưởng như có một bàn tay ai buộc chặt. Ba thằng ngạc nhiên phán đoán. Thì ra, cây mây kia leo lên cây đa, lâu ngày nó không còn độ bám, hàng năm cứ rơi xuống một vòng và cứ như thế sắp thành một đống, như buộc chặt lấy cây kia. Chúng tôi leo dần. Đói. Mệt. Dưới chân chúng tôi đá tai mèo lởm chởm. Xương trắng rơi đầy. Xương nhỏ - xương to. Xương của động vật vừa mới chết. Xương đã cách đây hàng trăm năm bạc phếch màu vôi. Bước chân chúng tôi cứ ríu lại, không còn đi được nữa. Cả bốn đứa ngã kềnh xuống đá chẳng kể gì hôi hám bẩn thỉu. Vừa nằm được một lúc thằng Kha kêu nhức đầu, lát sau nghe nó rên hừ hừ. Trán nó nóng hầm hập, miệng mồm khô rát, chân tay cứ co rúm lại. Tôi nghĩ số phận thằng Kha không khéo cũng sẽ như thây ma nọ. Tôi bật dậy “Thôi về bọn bay!” Thằng Công hùa theo “Nửa tháng trời rồi, trầm trà chẳng có cóc xơ gì, lại ốm đau nữa....Thôi về!”.

Chúng tôi dìu thằng Kha xuống núi lúc chiều tà. Bỗng tôi nghe văng vẳng đâu đây bài ca điệu Lý. Không rõ bài ca từ đâu vọng đến hay từ hồn tôi vẳng ra mà nghe sao da diết buồn thương:

“Chiều ơi chiều.....chiều ơi chiều.....
Dắt ơ bạn....
Đèo qua đèo
Mà là đèo qua đèo....”

*

Chị Bảy tôi nói: Em ra Hà Nội với chị, chị sẽ nuôi em ăn học. Nghe chị nói tôi như mở cờ trong bụng. Tôi biết từ hôm chị về thăm nhà đến nay, đêm nào mẹ cũng trầm trồ: “Con phải bằng mọi cách đưa thằng Huỳnh ra Hà Nội để thoát khỏi cha con Sáu mù. Mẹ thấy từ dạo nó đi trầm về đến nay, chẳng chiều nào mà không ra đứng ở hồ Khe Mây để nghe cha con lão kia đàn hát, mặt mày cứ trông ngây ngô, ngơ ngơ ngác ngác, nó si tình thật rồi con ơi”.


Tôi chẳng nghe chị trả lời. Tôi biết hoàn cảnh chị đang rất khó, vừa mới theo chồng ra Hà Nội một năm, kinh tế gia đình chưa ổn định lấy đâu ra mà nuôi tôi. Bây giờ chị nói với tôi như vậy, có lẽ chị đã đắn đo, tính toán kỹ rồi. Tôi gật đầu với chị tỏ vẻ rất mừng. Mặc dù ra Hà Nội sẽ xa Sen, nhớ nhung vô vàn, nhưng tôi phải đi vì tương lai sự nghiệp.


Trước ngày ra đi, tôi tìm mọi cách để gặp Sen. Tôi đi lại thẩn thơ dưới chân núi Tá đến nửa tiếng đồng hồ mà chẳng thấy em đâu. Một lúc sau thấy có một bàn tay hồng đưa lên trong sương, tiếp theo là một tiếng gọi “anh Huỳnh”. Em từ trong sương chạy ra, mặt mũi tóc tai còn đầm đìa sương lạnh, nở một nụ cười trông thánh thiện ngây thơ:

- Nghe nói anh đi Hà Nội hả?
- Ừ
- Đi ở lại hay đi rồi về.
- Ở lại để học nghề.
- Học nghề xong anh ở luôn ngoài đó à?
- Chưa biết nữa.

Nghe tôi nói, nụ cười trên môi em vụt tắt. Đầu em cúi xuống, tay khẽ vày vò cái đuôi tóc đang xoã xuống trước ngực. Tiếng em khe khẽ:

- Thế ....chuyện của chúng mình thì sao?

Anh cũng chưa biết tính thế nào. Nhưng tóm lại tình cảm vẫn như cũ.

Em hất mái tóc ra sau lưng, cầm tay tôi:

- Anh phải ở lại đi. Ở lại với em....em đã lớn rồi, từ nay em không dắt cha đi hát nữa....Em sẽ đi làm việc.....và.....nếu như anh thương em thật lóng thì chúng mình sẽ cưới nhau, sẽ làm ruộng, sẽ đẻ con, xây dựng tổ ấm gia đình mình.
- Anh cũng mơ ước như thế. Nhưng Sen ạ, anh phải ra đi, đi....trước hết để giải thoát cho mình sau đó là cho em.
- Em không tin.
- Tin hay không thì tuỳ em, nhưng việc anh đã quyết.

Sen ngoảnh về phía núi. Khói sương từ trên cao oà xuống như hút lấy bóng em. Tôi chỉ thấy đôi gót chân hồng đặt lên phiến đá, nhấc từng bước, từng bước, nhoà dần và mất hút.

Em chẳng để lại một tiếng khóc, một lời chào. Mãi đến khi tôi lầm lũi bước ra về, nghe tiếng đàn ca từ trên núi vọng xuống - da diết một nỗi buồn. Tôi biết đó là lời giã biệt.

“Lòng ơi lòng....Lòng ơi lòng....
Trách ơ bạn.....Trách ơ bạn
Đành sao đành
Mà là đành sao đành”

*

- Cậu cố gắng mà học đi chứ. Cậu có biết không? Mẹ đang lo cho cậu lắm đấy....

Tính chị tôi là thế, hay cáu gắt, được cái thương em. Từ ngày tôi ra Hà Nội đến giờ, chị cứ bám sát một bên bày cho tôi học. Anh Nam chống chị đi làm đến tám chín giờ đêm mới về. Tôi hỏi chị “anh là nhà thơ sao chẳng mấy khi anh rảnh rỗi thảnh thơi?” Chị cười “Từ ngày có chị ra đến giờ, anh phải tranh thủ viết thêm nhiều bài để lấy tiền nhuận bút, ngoài ra còn phải quan hệ với các nhà xuất bản, để lấy bài về cho chị đánh máy”. Chị còn kể: lúc đầu chị mới ra, gia đình cũng chật vật lắm. Con gái nhà quê học hành chẳng biết làm gì, hàng ngày chỉ ngồi nhìn ra đường thấy người xe đi như nước chảy, để đêm về bứt rứt tâm gan. Thấy chị buồn anh mua cho chị cái máy chữ, bắt học đánh máy và nhận bài về cho chị nhập. Một tháng, các nhà xuất bản trả cho chị đến ba trăm ngàn đồng như vậy cũng bằng tiền lương cán bộ. Nếu quy ra thóc thì đã hơn một tạ so với nông dân thì sướng xa. Tôi có ao ước trở thành như chị. Trong lúc nhân loại đang tiến xa mà tôi chỉ muốn được như chị tôi thôi, thế mới biết tôi thấy mình nhỏ bé đến từng nào. Hàng ngày tôi lao vào công việc học tập, gõ lên bàn phím đau nhức mười đầu ngón tay, thế mà có lúc nghe chị quát tháo om sòm. Mặc kệ, tôi chẳng tự ái phải cố gắng như chị. Ôi! Một tạ thóc! Một tạ thóc chỉ cấy bằng phím máy, cấy bằng con chữ chứ đâu phải vất vả một nắng hai sương trên đồng....


Khi tôi thành thạo công việc, cũng là lúc một cái tin sét đánh đến với chị tôi, rằng anh rể tôi bị tông xe ngoài ngã ba đường phố. Chúng tôi chưa kịp chạy ra, thì có người đã dìu anh tôi về. Đó là hai người đàn ông dáng vẻ trần ai. Một người dìu anh tôi còn một người dắt chiếc xe Bảy tám của anh đã vỡ hết mang. Họ đặt anh xuống giường mặt mày anh xây xát, đầu tóc bù xù trông thiểu não. Chị tôi chạy vào buồng mở tủ lấy cồn xoa vào các vết xước cho anh, hỏi anh có làm sao không. Anh lắc đầu: “Chẳng việc gì”. Hai người đàn ông cho hay rằng: Anh là bạn xe thồ với họ, thấy anh mắc nạn giữa đường họ đem về. Chị tròn xoe mắt hỏi: “Làm sao lại có chuyện này”. Anh chẳng nói chẳng rằng, nằm ngửa xuống giường thở dài thườn thượt.


Sáng hôm sau anh mới nói chuyện anh đi thồ là có thật. Vì thấy chị không có việc làm buồn bã suốt ngày nên anh phải đi thồ để kiếm tiền mua máy chữ cho chị đánh giải khuây. Và số tiền ba trăm ngàn đồng hàng tháng là anh trả cho chị, chứ không phải nhà xuất bản nào trả cả. Nghe nói, chị bàng hoàng, vừa bực tức vừa thương người chồng tốt bụng. Chị dúi mặt vào vai anh khóc rưng rức. Chị khóc như mưa lũ. Còn tôi tròn xoe mắt nhìn hai người. Thế ra anh tôi thương chị tôi đến mức như vậy? Thế ra lâu nay tôi hoài công đi học với một người không có việc làm? Bao nhiêu nỗi chán chường bi quan, lo lắng ập vào lòng tôi. Đêm ấy, tôi không thể nào chợp được mắt. Sáng mai tôi quyết định ra về. Anh chị tôi phải níu kéo mãi, bắt ở lại. Nhưng tôi nhất quyết không nghe. Chị tôi dúi vào tay tôi một trăm ngàn đồng, vít đầu tôi xuống khóc nức nở. Tôi ra ga một mình. Bây giờ tôi cũng không biết đi về đâu. Nếu về quê thì thật hổ mặt mà đi nữa thì không khéo thành kẻ giang hồ. Tôi la cà ở sân ga suốt một buổi sáng. Trong lúc đang buồn, nhìn thấy mấy ông cửu vạn càng buồn thêm. Họ mặc áo lính bạc màu, đầu đội mũ cối, ngồi chờ chực trên sân ga, hễ ai gọi người làm tất cả bu đến. Phần lớn họ là người Thanh Hoá, cũng miền Trung quê tôi cả đấy. Nhìn họ, tôi chạnh lòng nhớ đến điệu ca:

“Chiều ơi chiều....chiều ơi chiều...”

*

Sài Gòn, đêm mùa đông lãng vãng hơi sương. Sương rất mỏng vừa đủ để người ta có cảm giác đến mùa đông. Ánh điện sáng rỡ làm cho mảnh trăng bạc phếch, đứng vô duyên giữa trời. Nhìn trăng, tôi nhớ quê. Chẳng hiểu sao, ông cụ tổ làng tôi thời đó không vào đây lập nghiệp. Ở đây không thấy một tí nguyên khí nào sao người ta tấp nập đến vậy? Phải chăng thời bấy giờ ông cụ không đủ điều kiện để vào đây, hoặc đã vào nhưng lại bỏ ra thì thật là điều quái gở. Ở đây địa hình cũng chẳng có gì bằng phẳng. Những con đường như gồng mình lên với hàng vạn người, xe. Cuộc sống xô bồ như một cuộc đuổi bắt. Tôi nhìn thấy bên góc sân ga có ba người cứ lò dò ngó ngàng khắp nơi. Thằng Khánh! Đúng là thắng Khánh rồi cả thằng Kha thằng Công nữa, cái dáng người làng tôi lẫn vào đâu được, đi trên thành phố mà dò dẫm theo lối bước ở đồi hoang....Tôi la lên: “Khánh, Kha, Công! Bọn chúng mày đó hả?” Chúng nó nhìn ra tôi mừng rơn. “Huỳnh!....” Chúng tôi ập vào nhau.

- Mày vào đây từ bao giờ?
- Đi một mình hả?
- Từ Hà Nội đi tuột vào đây chứ?

Chúng hỏi rối rít làm tôi không trả lời kịp, chỉ gật đầu. Tôi vỗ vai thằng Khánh:

- Các cậu làm nghề gì ở đây?
- Đủ thứ, bốc vác hàng thuê, xách giùm hành lý, kiêm cả cò mồi.

Chúng tôi cười rộ. Thằng Khánh nhảy tưng tưng hoan hô người làng - Người làng vạn tuế! Vạn vạn tuế! Cả bọn lại được một trận cười tức bụng. Chúng nó vào đây mới một năm mà nom thằng nào cũng ngáo. Thằng Khánh từ một đứa lém lỉnh chuyển sang xạo. Thằng Kha lúc ở nhà thật thà ít nói bây giờ tạo thành kẻ lầm lì. Còn thằng Công to khoẻ đẹp, bây giờ để râu tóc dài, ra tay võ biền. Chúng nó đều đóng vai hợp cả. Tôi vỗ vai thằng Công: “Chúng mày làm gì mà nom mặt mày thằng nào cũng ngổ ngáo?”. Thằng Khánh cười toe toét, chỉ tay vào từng đứa:

- Công là đại ca, Kha là đệ tử, còn mình là quân sư. Đố thằng nào dám động.

Thì ra chúng phải dị dạng như thế mới làm ăn được. Tôi nhớ những lúc đi rừng thằng Khánh bảo phải sống cho ra người thì hung thú nó mới sợ. Còn bây giờ chúng nó phải làm cho ra thú thì con người mới sợ. Cuộc sống bắt người ta xù lông cánh ra là thế.

- Thôi đi nhậu - Thằng Kha nói như ra lệnh.

Chúng tôi cầm tay nhau rảo bước trên đường. Đêm đã khuya, Sài Gòn vẫn nhộn nhịp. Hàng hoá trưng đầy. Tôi để ý đến những biển hiệu có ghi: “Hương đồng”, “Gió đồng”, “Đồng nội” vv....

Chao ôi! Đồng quê sao bị người ta lạm dụng đến thế, những hương sơ tinh tuý của đồng quê đều được đưa ra để khêu gợi lạc thú người đời. Thằng Khánh bảo: “Lâu ngày gặp nhau, hôm nay nhân có thằng Huỳnh vô, cả đời nó chưa nếm mùi thành phố, hôm nay chiêu đãi một bữa bia ôm cho nó đã”. Công và Kha gật đầu tán đồng. Chúng kéo tôi vào một quán trong hẻm, gọi là quán “Hương Sen”. Bên ngoài ánh điện sáng trưng, bên trong nhấp nháy ánh sáng màu tím hồng. Chúng tôi như lạc vào chốn bồng lai. Những cô gái từ trên cầu thang bước xuống như những nàng tiên đi trên cầu vồng bảy sắc mồm đon đả chào mời, mà đôi mắt trống hoang lạnh lẽo. Mùi phấn son thơm ngậy toả ra từ da thịt các cô. Chưa nói đến chuyện ăn uống gì ba cô gái đã sà vào lòng của ba chàng trai. Thấy tôi đang cô đơn thằng Khánh bảo: “Ông yên tâm lát nữa sẽ có một em đặc biệt phục vụ”. Có lẽ nó bấm chủ hàng rồi. Tôi hồi hộp chờ đợi. Lại trên cầu thang kia xuất hiện một cô gái có vóc người thon nhẹ. Khuôn mặt trái xoan của cô làm tôi hơi ngờ ngợ. Cô dừng lại trước mặt tôi cúi đầu chào. Cô ngước nhìn tôi, đôi mắt cô như hai giọt tối ngủ quên dưới đôi lông mày rậm bỗng sáng bừng lên, hút vào tôi hết thảy một linh hồn. Đúng là em rồi. Tôi chưa kịp thốt lên thì em đã quay đi, bước tất bật lên cầu thang. Tôi thảng thốt gọi theo:

- Sen! Sen!

Em luồn lủi vào bóng tối không quay lại. Tôi nói với bọn bạn: “Đúng là cái Sen làng ta - Các cậu có nhận ra không?

- Có. Đúng là nó.
- Chẳng biết nó vào đây từ bao giờ?

Mấy thằng đều ngỡ ngàng nhìn nhau. Tôi như kẻ mất hồn, người chìm sâu trong im lặng. Em đúng là người của tôi rồi. Người con gái có vóc người thanh thoát, và khuôn mặt trái xoan hiền lành. Thuở ấy tôi yêu em lúc em mười sáu tuổi. Em đẹp và hiền như một nõn sen. Chúng tôi nguyện thề sẽ lấy nhau, sẽ sinh con đẻ cái trên làng quê này. Đứa con đầu lòng của chúng tôi phải là đứa trẻ nõn nà, thơm như hương lúa. Thế mà bây giờ, giấc mơ ấy không còn nữa. Cuộc sống đã làm tôi mất em.

- Phải đưa người đẹp của làng mình về lại thôi.

Thằng Kha đập tay xuống bàn nói, làm tôi sực tỉnh. Ba cô gái kia bĩu môi:

- Có mà của trời. Ở đây người tứ xứ, biết ai người làng ai không?
- Biết chứ, nó là con ông Sáu mù người làng tao rõ ràng.
- Ở đây chỉ có làng chơi, chứ không có làng xóm đâu! Cho xin tiền.
- Bao nhiêu?
- Hai trăm ngàn đồng.
- Mấy chai?
- Hai mươi chai.
- Cứa khiếp thế!
- Còn miễn tiền bo đấy.
- Này cầm lấy. Thôi đi ăn thịt chó bọn mày. Uống bia ôm gặp người làng thật xui xẻo, đi ăn thịt chó vậy!

Chúng tôi kéo nhau vào quán thịt chó ở ngay bên cạnh.Thằng Công gọi hai đĩa và một xị. Thịt thơm ngậy, nhưng tôi không nuốt nổi. Thấy tôi buồn, thằng Khánh bảo: “Ăn đi mày. Không việc gì phải buồn phiền cả. Lúc nhỏ, thịt nó đang thơm tho mày không hôn được, bây giờ báu lắm đấy à? Mày có ưng ngửi mùi nước hoa tí nữa tao mua cho mày một lọ”. Cả bọn cười toé. Tự nhiên tôi thấy ghét thằng Khánh. Nó là thằng thực dụng, chẳng hề có chút tình gì.

Ăn nhậu cong chúng tôi tìm về chỗ sân ga trải ni lông nằm ngủ. Thằng Khánh gác chân lên tôi nằm thủ thỉ:

- Bọn tao sắp về rồi mày ạ.
- Về à? Tôi chột dạ hỏi.
- Ở đây cũng chẳng biết làm gì. Về quê còn có ruộng nương mà cày cấy.

Nghe nó nói, tôi thấy mình hẫng hụt chẳng khác nào một người từ trên không rơi xuống vực thẳm. Chúng nó mà đi thì tôi còn ở lại đây làm gì. Nhưng còn em, liệu em có về với tôi không?

Sáng hôm sau tôi quay lại nhà hàng. Tôi đợi suốt một buổi để được gặp em. Có lẽ thấy tôi đứng mãi ngoài hành lang đến tội nghiệp nên nàng phải ra.




Bây giờ nàng không còn được như xưa nữa. Ngày ấy nước da nàng nõn nà thơm như cánh sen, bây giờ son phấn không che lấp được sự vàng võ của da thịt nàng. Nét mặt nàng u buồn và đôi mắt khắc khoải một niềm đau. Nàng nói trầm buồn: “Cho em xin lỗi chuyện hôm qua”. Nàng vịn tay vào cửa mà khóc. Tôi bảo nàng: “Hãy về với anh đi”.

Nàng lắc đầu:

- Em không thể nào về được nữa rồi.....- Tiếng nàng tắc nghẹn rồi lại oà lên: - Em đã trở thành một con quỷ. Em không muốn anh trở thành một con quỷ nữa. Anh hãy về đi, về một mình ở nhà có con Quyên em gái em đang đợi. Em đã viết thư cho nó rồi.....

Đôi bờ vai nàng run lên lẩy bẩy. Tôi nghe lòng tê buốt như có ngàn kim châm. Tôi khẽ khàng nắm tay nàng kéo vào mình: “Không....về với anh đi. Dẫu thế nào anh vẫn thương em....”

Nàng buột tay tôi chạy ù vào phòng. Bóng đèn màu nhấp nháy, và tiếng nhạc xập xình nổi lên loạn xạ.


*

Chúng tôi lên tàu. Con tàu rúc lên một hồi còi dài rồi khẽ rùng mình chuyển bánh. Thôi tạm biệt nhé Sài Gòn - Mảnh đất phồn hoa, tạm biệt em - Người con gái tôi yêu, có thể mãi mãi không bao giờ gặp lại....



Con tàu vun vút lao đi trong nắng sớm, qua bao nhiêu cánh đồng, bao nhiêu làng mạc. Ở đâu chúng tôi cũng thấy hình bóng những người dân cặm cụi một nắng hai sương trên đồng. Chẳng biết nơi ấy có bài ca điệu Lý như ở quê tôi không?.....



Ba ngày sau chúng tôi về đến ga Rồng. Làng tôi kia vẫn luỹ tre xanh như tấm màn nhung buông xuống chân trời vẫn hồ Mây núi Tá mờ trong sương. Cái nguyên khí ngàn đời không thể nào mất được như các cụ xưa thường nói. Ngước nhìn lên núi, tôi thấy một người con gái đang dắt tay một ông già rẽ sương khói đi lên. Tôi biết đó là Quyên em gái nàng đang thay chị dắt cha lên núi đàn hát. Ngày mai, người con gái ấy có thể cùng tôi xây dựng tổ ấm hạnh phúc, sinh con đẻ cháu trên mảnh đất này. Dẫu đói no, vui buồn, sướng khổ, tôi vẫn có một làng quê để lúc chết được khóc thương. Nhưng còn em....em đã rời luỹ tre xanh, đã đi khỏi đời tôi....


“Chiều ơi chiều....Chiều ơi chiều...”. Lòng tôi như con cuốc kêu thương, quay quắt gọi hồn em. “Chiều ơi chiều....Chiều ơi chiều”. Bài ca ấy lại tiếp tục cất lên với điệu ngân ai oán muôn thuở. Trước mắt tôi mọi cảnh vật như đang chuyển động theo. Sương khói cuộn tròn, luỹ tre xanh nhẹ lướt, những con người trên vạt đất mới vỡ họ cũng cặm cụi bước theo điệu hát “Chiều ơi chiều....Chiều ơi chiều” có lẽ họ đang tỉa hạt. Thôi thì nắng hay mưa cũng chưa biết nữa nhưng dẫu sao cũng có một mùa hạt đã gieo. Tôi quỳ xuống cầu trời: xin hãy thương đến hạt giống của người nông dân.
READ MORE - CAO HẠNH

Saturday, November 22, 2008

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG



THƠ NGUYỄN ĐẶNG MỪNG



Chẳng bao giờ thoát khỏi nhau đâu !



Chẳng bao giờ thoát được nhau đâu

Đừng nhầm tiếng thời gian

Với một đời trăn trở

Đừng nhầm đôi mắt nhỏ

Với bầu trời hư vô

Đừng nhầm một câu thơ

Với tiếng lòng thổn thức

Và anh và em đừng nhầm nhau sự thực

Chẳng bao giờ thoát khỏi được nhau đâu

*

Hỡi em thân yêu đừng nhẹ dạ

Chúng ta đang xoay vòng hư vô

Gạt lừa nhau để tìm lẽ sóng

Để yêu thương

Để mong chờ

Mà thật tình rất đổi ngây ngô

Thế mà ta hy vọng

Thế mà ta yêu nhau

*

Hỡi em thân yêu

Trừng mắt nhìn vào cuộc sống

Có bữa đói bữa no

Có bài ca hy vọng

Có anh hùng

Có cá tính

Có cả bài ca dao

Không kẻ thù đối mặt

Có ngổn ngang trăm ngàn ý thức

Nhưng có chung một sự thực

Chẳng bao giờ thoát khỏi được nhau đâu


Sài Gòn1990
READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG

Tuesday, November 18, 2008

BIẾT SẼ RẤT BUỒN NÊN CẰN VÀO TAY - thơ Hồ Huy

Hồ Huy



Rồi cứ thế mê mãi trong cơn mưa
Đằng sau là những tin nhắn gọi với theo vội vã
ôi tất cả cũng sẽ là mất cả
sẽ rất bình thường nếu mưa càng lớn hơn


Mà có gì đâu, mà dỗi mà hờn
sao cứ để lòng tươm lên rực rỡ
sao để ngực cầu vồng bập bùng sưng nhớ
biết sẽ rất dài và sẽ rất sâu


Chỉ im lặng thôi, biết nói gì đâu
Khi tình yêu đã quá nhiều dối trá
Khi cuộc sống đã quá nhiều hối hả
Dối lòng tôi, đâu thể dối lòng mình


thôi thế nhé, anh về với lặng im
ôm chông chênh vào lòng làm gối
em cứ ghé qua rồi trôi đi rất vội
cho đêm lên ngồi hát ở nơi đây


Biết sẽ rất buồn nên anh cắn vào tay


28/10/08


Hồ Huy
(Đông Hà, Quảng Trị)
READ MORE - BIẾT SẼ RẤT BUỒN NÊN CẰN VÀO TAY - thơ Hồ Huy

Sunday, November 16, 2008

HOÀI QUANG PHƯƠNG




Hội VHNT Quảng Trị 46 Hùng Vương, thị Xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ĐTNR: 053 858 052ĐT DD:0979 741 752 Email: hoaiquangphuong@yahoo.com.vn hoặc phuong.hoaiquang@gmail.com Blog: http://vn.myblog.yahoo.com/hoaiquangphuong






THƠ HOÀI QUANG PHƯƠNG


TRẦM TÍCH THIÊNG LIÊNG

Sông Thạch Hãn ít nói về mình
trầm tư chảy
một dòng sông tìm lại tháng năm.

Từng vĩa cát nằm khuất đáy sông
hút lên thuyền đầy ắp
Còn vĩa hy sinh tìm hàng chục năm trời
chưa gặp…

Hoa đẫm nước mắt
Dòng sông đẫm hoa
Trôi vào đêm những ngọn đèn ứa lệ
Lời cầu khấn từ nhiều miền đất nước mang về
thả xuống dòng sông
Mong chờ người thân về báo mộng
Đêm chìm vào lặng im…

Những linh hồn dưới sông chưa lên tiếng
Hài cốt lạc ra ngoài tầm tay?
Không nói gì với người tìm kiếm
Lúc còn sống họ cũng kiệm lời
về chiến công của họ.

Chảy qua mấy mươi năm hòa bình
Thạch Hãn giữ gìn anh linh liệt sĩ
In bóng Tượng đài Thành Cổ
Soi gương thị xã hồng hào
Dòng sông ấp ủ trầm tích thiêng liêng…
02/2007


ĐỘC THOẠI

Biết là không có phép thần tiên
Để em bước ra từ bức ảnh
Sao anh rối bời một chiều mây tạnh
Ngóng em về…

Điều không mong lại đến, tái tê
Mưa rơi!
Cây đứng đợi đầm đìa chiếc lá.


Độc thoại gió
Không ai nhận nửa lời
Chỉ mình nghe, tất cả lấp vùi.

Gió còn lại đôi môi và chiếc cánh
Sau chiều mưa óng ánh
Tiếng em cười trong ảnh vọng ra…
4/2006


CHỒI KHOAI LANG BIỂN

Những củ khoai lang mùa đông
dạt trôi dọc bờ biển cát
níu buộc vào nhau.

Khoai ở vườn nào
Màu da trẻ con
đầy mình vết xước
như thời máu ứa, đạn bom.

Khoai lang vùng bãi ngang
Sóng cuốn
xa bờ
Năm đói dật dờ…

Mấy ai ngờ
khi bờ biển sang xuân
chồi khoai lên
xanh từng hạt cát.

Không chỉ là cây
đích xác những linh hồn!...


BAY VÀO HOÀNG HÔN

Cánh dơi bay vào hoàng hôn
nơi bắt đầu ngày của nó

Dơi đớp từng mảnh đêm sâu
Sống bằng bóng tối muỗi
Có loài dơi hút máu tươi
trong vệt đen tắt nắng

Lũ dơi kia bay vào chạng vạng
nơi dẫn đến xoáy lốc đường đêm
Hơi tiền đầy căng lồng ngực
Loài hút máu người róc kiệt ngày lên.


ĐỜI CON CHỮ

Con chữ từng được nâng niu
nhạt nhòa trong chợ trời ngôn ngữ

Con chữ tầm thường mọc nấm
huyền hoặc cánh rừng
lá khô phạc phờ khúc hát

Con chữ nương bóng thế gian
ham điều lóa mắt
quên gốc gác mình

Con chữ chiến tranh
nằm im trong lăng mộ sách
đêm trắng bạch khói hương
gốc xương mọc lên chồi sống

Ngọn bút cày vào vô thức
cơn đau lột xác
Con chữ ra đời!
3/2008


READ MORE - HOÀI QUANG PHƯƠNG

Thursday, November 13, 2008

CÁT MIÊN - CHÙM THƠ

Cát Miên, ảnh của Hồ Tĩnh Tâm

THƠ CÁT MIÊN


MÙA



Tháng năm
Mùa đổ xuống đồng
Mẹ khom lưng
Gặt
Mênh mông chín vàng.
Quờ tay đưa lưỡi liềm sang
Gặt bông lúa trĩu
Gặt ngang bóng mình.



MÀU EM


Em khoác lên mình màu xanh
Nghe mầm non bật từ lòng đất
Mạch nguồn tràn lên tán cây
Phố xanh- em xanh.

Em khoác lên mình màu nâu
Lũ chim sẻ cất tiếng hót
Chiếc áo ai bỏ quên ngày xưa?
Bạc sờn vai mẹ.

Em khoác lên mình màu tím
Đánh thức nỗi buồn bâng quơ
bằng lăng bung nơi cuối phố
Nghe lòng mênh mang

Em khoác lên mình màu đỏ
Con tim rực nỗi khát khao
Phố cũng dường như chật lại
Nụ hôn em trao.

Em- sắc màu giữa phố
Đánh thức nỗi buồn không tên
Chợt cơn mưa chiều sót lại
Cầu vòng khoác màu em.



BẬC THANG YÊU

Người miền núi
Cuộc đời bậc thang
Lên xuống nhà sàn
Một bậc,
Hai bậc...
Người miền núi
Leo bậc thang lên núi
Làm ruộng bậc thang
Bậc trồng lúa
Bậc tỉa ngô
Bậc trên cao chứa nước
Bậc lưng chừng đựng mây.
Con trai con gái núi
Đôi chân chắc như đá Đồng Văn
Đôi mắt xanh dòng Nho Quế
Nụ cười sóng sánh rượu ngô
Chưa rót
Đã say lòng người.
Muốn làm dâu miền núi
Muốn làm rể vùng cao
Phải vượt qua chín bậc
Một bậc,
hai,
ba bậc...
Gặp gió
gặp mây
gặp đá...
Bậc thứ chín
Gặp mặt trời
Chạm bậc tình yêu.


CÁT MIÊN
READ MORE - CÁT MIÊN - CHÙM THƠ

Wednesday, November 12, 2008

Lê Cung Bắc - HÀNH HƯƠNG VỀ ĐẤT PHẬT

Đoàn làm phim Sena tại Bồ Đề Đạo Tràng

Đạo diễn Lê Cung Bắc ở Nepal


NSƯT Lê Cung Bắc

Hành hương về đất Phật



Rằm tháng giêng Mậu Tý, bộ phim Duyên trần thoát tục sẽ công chiếu tại các rạp trên toàn quốc. Đạo diễn Lê Cung Bắc đã đến đất Phật ở Nepal, để quay ngoại cảnh cho bộ phim


Buổi sáng mùng 2 Tết, tại Tĩnh Tâm cốc ở nhà Lê Cung Bắc, bên tách trà thoảng hương sen, anh trầm ngâm kể công việc thực hiện bộ phim đã ảnh hưởng đến đời anh.


Khởi đầu từ nhân duyên
Từ nhỏ, Lê Cung Bắc được quy y với pháp danh Tâm Thí. Lớn lên, anh nghiên cứu nhiều kinh Phật và thầm ước ao có dịp hành hương về đất Phật. Đầu năm 2007, nhà biên kịch Phạm Thùy Nhân đưa anh kịch bản Duyên trần thoát tục. Nội dung nói về cô gái Lệ Quyên trong chuyến hành hương đến đất Phật, một nhà sư già đã tặng cô một cuốn kinh viết bằng chữ Phạn. Dù không biết chữ Phạn nhưng khi mở cuốn kinh ra, Lệ Quyên đã thấy được những tiền kiếp của cô... Từ cái “nhân” là kịch bản phim đó, tháng 3-2007, Lê Cung Bắc cùng diễn viên Việt Trinh (vai Lệ Quyên) và đoàn làm phim Sena lên đường sang Nepal.


Nửa tháng ở đất Phật, đoàn làm phim đã quay ngoại cảnh ở Lâm Tỳ Ni – nơi Phật sanh; Bồ đề đạo tràng – nơi Phật đắc đạo; vườn Lộc Uyển – nơi Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên; núi Linh Thứu – nơi Phật thuyết pháp; Câu Thi Na – nơi Phật nhập niết bàn. Ngoài những cảnh quay sử dụng cho phim Duyên trần thoát tục, đoàn đã quay thêm rất nhiều cảnh để làm bộ phim tài liệu Hành hương về đất Phật sẽ phát hành vào dịp lễ Phật đản năm nay.


Theo đạo diễn Lê Cung Bắc, có một cảnh quay mà anh nghĩ do “duyên” mới có được. “Đó là buổi chiều sau khi quay xong cảnh ở Bồ đề đạo tràng, chúng tôi chuẩn bị trở về khách sạn để nghỉ thì thấy rất đông người kéo đến. Người hướng dẫn gốc Ấn Độ đi hỏi một vị sư rồi cho chúng tôi biết đêm nay có lễ lớn. Phật tử khắp nơi trên thế giới về đây làm lễ. Chúng tôi đã ở lại. Đêm đến, mấy chục ngàn người thắp nến sáng rực rỡ, tụng kinh thành kính, lễ ngũ thể đầu địa (lạy nằm dài, đầu chạm đất). Chúng tôi đã có dịp phỏng vấn một số nhà sư đến từ Thái Lan, Lào, Sri Lanka... Cảnh ấy dù có tiền cũng khó mà thực hiện được”.
*
Đến luật nhân quả
Cuối của bộ phim Duyên trần thoát tục là cảnh cô Lệ Quyên ngồi trên thuyền trôi trên sông Hằng và nghiệm ra rằng: Tất cả mọi việc trong đời đều do nhân quả, đúng như lời Phật dạy: “Muốn biết nhân kiếp trước hãy nhìn cái quả của kiếp này. Muốn biết cái quả của kiếp sau, hãy nhìn cái nhân của kiếp này”.


Tôi hỏi Lê Cung Bắc về vai diễn của Việt Trinh. Anh cho biết: “Việt Trinh đóng rất đạt vì đó là tâm nguyện của cô. Cô đã ngộ ra nhiều điều. Nhìn lại mình, nhìn lại quá khứ để hướng tới cái tốt đẹp hơn. Như một câu kinh Phật: Biển khổ mênh mông, quay đầu lại thấy bờ.”


Còn đối với Lê Cung Bắc, sau chuyến hành hương về đất Phật, anh đã thay đổi cái nhìn về mình và về người. “Về mình, tôi sẽ sống bớt tham sân si (chấp ngã). Vì còn chấp ngã là còn tạo nghiệp, còn sinh tử luân hồi. Về người, tôi sẽ sống hỉ xả hơn. Trước giận mười phần giờ chỉ còn một, hai vì nghĩ nguyên nhân đó do mình tạo ra nên người ta mới làm việc đó”. Bộ phim Duyên trần thoát tục mang thông điệp: Nếu sống bằng tình thương (từ bi hỉ xả), con người sẽ có hạnh phúc. Và 2/3 tiền thu được của bộ phim sẽ dành để giúp đỡ trẻ mồ côi ở Việt Nam, Ấn Độ, Nepal.



Khi chia tay, đạo diễn Lê Cung Bắc tặng tôi một chiếc lá bồ đề anh hái từ cội bồ đề nơi đức Phật ngồi đạt đạo. Anh mỉm cười không nói gì. Anh muốn chiếc lá sẽ giúp tôi hiểu về đời đức Phật, về tâm nguyện của anh hay về nhân duyên?


Thạch Biền

09-02-2008

http://www.nld.com.vn/tintuc/van-hoa/nguoi-cua-cong-chung/214792.asp
READ MORE - Lê Cung Bắc - HÀNH HƯƠNG VỀ ĐẤT PHẬT

NGỤY NGỮ

NGỤY NGỮ



Giữa bao la

Gõ súng ta ca lời Nịch Trích

Ba năm em trắng với cây rừng

Lòng vui buồn cũ cơ hồ bạc

Thêm chút men nồng cho hư không.



Cỏ biếc cũng như trời thuở đó

Lang thang đi giữa lá hoa rừng

Thiên thu là một mầm sương lạnh

Tụng giữa nghêu ngao tình Huệ Trung.



Em có thương xiêm về mặc lại

Đêm xưa ta rớt chén bên đời

Đêm xua áo lệch lời quên nói

Bởi suốt nghìn sau còn mây bay.



Ôi nhịp ca xang hồ mất trí

Ơi, hỡi tiếng hát tạ niềm xưa

Thổi chút men cay vào chuyện kể

Ba năm ta sống gởi ăn nhờ.


http://www.thanhtung.com/modules.php?name=Pages&go=page&pid=604
READ MORE - NGỤY NGỮ

HỒ SĨ VỊNH

Hồ Sĩ Vịnh, Nhà lý luận phê bình
(Bút danh khác: Hiếu Giang)

* Tên khai sinh: Hồ Sĩ Vịnh, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1933 tại thị xã Đông Hà, Quảng Trị. Hiện ở tại xóm Ao Sen, phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đã học trên đại học. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1990).
* Hồ Sĩ Vịnh tham gia cách mạng từ năm 1947, là nhân viên quân báo trong quân đội 1956 - 1963, học Đại học Tổng hợp Hà Nội và thực tập sinh tại Đại học Lômônôxốp, Maxcơva. Từ 1963 nghiên cứu văn học và làm báo tại Viện Nghệ thuật thuộc Bộ Văn hóa Thông tin.

*Tác phẩm đã xuất bản: A.X Puxkin (chân dung văn học, 1983); M. Gorki với văn nghệ dân gian (1985); Lênin và người nghệ sĩ mới (1985); Tìm về bản sắc dân tộc trong văn hóa (1983); Văn hóa vì con người (1983); Văn hóa Việt Nam - một chặng đường (1993).


TRIẾT HỌC VĂN HÓA – MỘT TIỀM NĂNG

NGHIÊN CỨU VĂN HÓA CON NGƯỜI

Hồ Sĩ Vịnh



Vào những năm 80 (thế kỷ XX) những vấn đề triết học văn hóa được các nhà khoa học Xô Viết ứng dụng và phát biểu theo quan điểm macxít. Người ta thường thảo luận, lật trở hai vấn đề cơ bản: Cái gì kiến tạo nên văn hóa với tư cách là một chỉnh thể, cấu trúc của nó là gì? Mục đích, sứ mệnh, ý nghĩa của văn hóa, của từng hình thái và hiện tượng văn hóa nằm ở đâu?


1. Bản chất của văn hóa là hòa giải

Hòa giải là triết lý của phát triển được hiện diện qua nhiều thời đại, ở nhiều nền văn hóa. Trong thời đại chúng ta, khi mà thế giới chịu sự tác động của tính toàn cầu tạo nên một bức tranh nhiều mảng màu đối nghịch: Một cực là các công ty độc quyền xuyên quốc gia và nhóm nhỏ nước giàu áp đặt, cưỡng đoạt các nước nghèo trong nhiều thập kỷ qua không đem lại thịnh vượng như đã hứa; còn cực kia là một nửa dân số sống trong nghèo khổ. Một tỷ người thất nghiệp hay thiếu việc làm tại hầu hết các nước. Từ đó những ý niệm và phát triển trái ngược nhau: sự tập trung kinh tế, thương mại, mậu dịch, bảo vệ môi trường, chống khủng bố... nhưng lại phân ly về chính trị, văn hóa, tôn giáo. Có ba nhân tố để bênh vực cho sự hiện diện và sự can thiệp của tác nhân hòa giải đối với phát triển: Khoảng cách về các giá trị cơ bản giữa văn hóa phương Đông văn hóa phương Tây; sự khác biệt về văn hóa, về tôn giáo sinh ra sự khác biệt về chính sách thương mại, kinh doanh, bảo vệ môi trường; sự tiến bộ của xã hội không thể chỉ đo bằng trình độ công nghệ, mức sống mà còn bằng những chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, sự ổn định chính trị, sự tự do tôn giáo.

Lịch sử Việt Nam chỉ ra rằng, văn hóa hòa giải là một giá trị, có truyền thống lâu đời của cộng đồng đa dân tộc. ý thức tự cường, lòng tự hào dân tộc không chỉ là động lực của con người mà còn là vũ khí tự vệ, một nét dáng của văn hiến giữ nước. Dẫu vậy thì “Gươm núi Sóc, cọc Bạch Đằng” là chuyện bất đắc dĩ. ở thế kỷ XV, Lê Lợi, Nguyễn Trãi trước, sau vẫn dùng chính sách “tâm công” để đối xử với các nước lớn:

Sửa hòa hiếu cho hai nước,

Tắt muôn đời chiến tranh...

Chỉ cần vẹn đất, cốt sao an ninh

(Phú Núi Chí Linh)

Âm hưởng đó ta đọc được trong Bình Ngô đại cáo: Rút cục, lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, Lấy chí nhân mà thay cường bạo hoặc: Ta mưu đánh vào lòng, không chiến mà cũng thắng (1).

Truyền thống đó còn tìm thấy ở thời đại Quang Trung, nơi hội tụ nhiều hiện tượng văn hóa rực rỡ. Chính sách hòa hiếu không chỉ là sách lược, mà còn là bản chất của chế độ chính trị. Chiếu dụ các quan văn và cựu triều, Chiếu cầu hiền là những thông điệp ngoại giao, mềm dẻo, thu phục lòng người. Chính sách hòa hiếu cùng với đường lối dân vi bản, tư tưởng nhân nghĩa là hợp với ý trời, thuận lòng người làm cho nhân dân đời đời thái bình, là phương lược nhìn xa trông rộng, để ở bên cạnh nước lớn mà vẫn yên ổn.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, nhân dân ta, mà trước tiên là các nhà hoạch định chiến lược vĩ mô, đã có ý thức tiếp thu có sáng tạo truyền thống hòa giải của cha ông. Nhiều nhà tư tưởng phương Tây cho rằng, Việt Nam thắng được hai đế quốc to là nhờ biết dựa vào chiều dày truyền thống văn hóa, điều mà kẻ thù xâm lược không hình dung nổi. Điều đó đúng. Chúng ta biết phát động chiến tranh tự vệ, biết đánh thắng và biết kết thúc chiến tranh. Chúng ta còn biết tạo ra những điều kiện để hòa giải, nếu cần. ở đây, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc hòa giải là hết sức minh bạch: Chấp nhận đối thoại giữa các chính kiến; Khoan hồng đại độ đối với kẻ thù đã thua trận; Rộng lượng, khoan hòa đối với mọi tầng lớp nhân dân; Chính sách đại đoàn kết với các dân tộc anh em; Tôn trọng sự tự do tôn giáo và tín ngưỡng; Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Bản chất hòa giải còn hiện diện ở nhiều hiện tượng văn hóa. Sau đây là hai ví dụ:

Ví dụ 1: Đạo đức Hồ Chí Minh và việc tiếp nhận Nho, Phật, Đạo. Có lần Hồ Chủ tịch viết: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng, song những điều hay trong đó thì ta nên học”(2). Đối với Phật và Đạo giáo, Người cũng có những kiến giải tương tự. Theo tôi, đạo lý dân tộc chính là cơ sở để Hồ Chí Minh tiếp nhận những mặt tích cực của tam giáo. Nho giáo là triết học nhập thế, chủ trương mọi người ai cũng phải lấy tu nhân làm gốc, đề cao học vấn, lễ giáo, truyền thống trọng học, trọng tài. Phật giáo tuyên ngôn: từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, coi trọng nếp sống đạo đức, trong sạch, làm điều thiện, tránh điều ác, đề cao lao động. Đạo giáo khuyên con người sống cao thượng, không màng lợi ích vật chất, vì một chủ nghĩa nhân văn tiến bộ. Sống giữa thiên nhiên, hòa quyện vào thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm cảm hứng sáng tạo.v.v..., đó là đạo đức Hồ Chí Minh nhờ ảnh hưởng đạo giáo.

Ví dụ 2: Lễ hội là một hiện tượng văn hóa hòa giải. Lễ và hội vốn là hai phạm trù khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Lễ là tôn giáo, là tín ngưỡng. Hội là vui chơi, ứng diễn nghệ thuật. Tôn giáo là niềm tin, nhưng thường nhuốm màu huyền bí. Còn vui chơi, ca hát là chuyện thế tục. Vậy mà ở hai hình thái văn hóa này: thiêng và tục; đạo và đời; duy lý và duy cảm; trí tuệ và tâm linh lại hòa quyện vào nhau dễ dàng để hướng tới Cái cao cả, Cái thiện, Cái mỹ. Chính nhân tố hòa giải đã làm cho hai dòng nghịch lưu hòa nhập làm một, làm cho dòng chảy văn hóa lễ hội mang ý nghĩa triết lý, ý nghĩa xã hội đối với đời sống đương đại.


2. Cấu trúc động của nền văn hóa tiên tiến

Nói đến bản chất của nền văn hóa, các nhà văn hóa sử thường tìm đến đặc trưng, đặc biệt là những đặc trưng bền vững. Còn cấu trúc, thì phải đi tìm những nhân tố mở, động, uyển chuyển. Chúng khác nào những lớp phù sa bồi đắp dòng chảy văn hóa dân tộc, từ đời này sang đời khác tạo nên bản sắc, bản lĩnh, cốt cách của nền văn hóa đó. Phải mất nhiều năm, qua kiểm nghiệm thực tiễn trong nước và trên thế giới, chúng ta mới chọn được mô hình động của nền văn hóa tiên tiến, mà cấu trúc có thể gồm bốn đặc trưng sau:

2.1. Nền tảng tư tưởng triết học phù hợp với xu thế thời đại. Nền văn hóa Việt Nam từ sau Đề cương văn hóa 1943 được xây dựng trên cơ sở triết học - mỹ học Mác - Lênin với ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng; về sau là ba nội dung: dân tộc, hiện đại, nhân văn đã tạo nên một cấu trúc động hướng về phía trước. Có người nói: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc về nền văn hóa đương đại. ở đây có sự gặp gỡ kỳ diệu giữa chủ nghĩa xã hội và độc lập dân tộc mà biểu tượng số một là Hồ Chí Minh.

2.2. Nền văn hóa bao chứa những giá trị bền vững của truyền thống dân tộc được phát huy theo hướng Chân, Thiện, Mỹ. Một trong nhiều giá trị cốt lõi của truyền thống văn hóa Việt Nam là truyền thống tôn trọng con người, tôn vinh những người có đức độ, tài năng. Không phải ngẫu nhiên mà người xưa gọi các văn nhân, kẻ sĩ, danh nho là hiền tài, hiền triết, hiền nhân, quân tử. Phẩm chất nổi bật của người hiền tài là ở chữ Nhân, “nhân tâm thế đạo”. Nếu như văn chương là sự nghiệp của nghìn đời (Văn chương thiên cổ sử như câu thơ của Đỗ Phủ) thì mỗi kẻ sĩ phải tôn trọng bốn cái gốc để lập thân: đức hạnh, chính sự, ngôn ngữ, văn chương. Văn hóa chính là sự chưng cất những phẩm chất, đạo đức, trí tuệ của con người. Triết lý “phi trí bất hưng” chính là ở đó.

2.3. Nền văn hóa có số đông dân đạt trình độ học vấn khá; trình độ dân trí cao; kỹ năng công nghệ đủ sức phát triển kinh tế - xã hội. ở hai bình diện sau, hiện nay có nhiều hiện tượng đáng lo ngại: Tâm lý vọng ngoại vô cớ của một bộ phận thanh thiếu niên; kiến thức về luật pháp nói chung và về luật lệ giao thông nói riêng còn kém; văn hóa ứng xử nơi công cộng, thị hiếu nghệ thuật lành mạnh, các giá trị truyền thống.v.v... chưa được nhiều người dân coi trọng. Nhiều con em các dân tộc thiểu số không biết tiếng dân tộc mình, thờ ơ hát múa làn điệu dân tộc, ngại ngùng mặc y phục dân tộc trong dịp lễ hội. Thực trạng này đang đòi hỏi hàng loạt biện pháp nâng cao việc đào tạo nguồn nhân lực.

2.4. Nền văn hóa được hiện đại hóa. Có thể có ba nội dung. - Mục tiêu của văn hóa là xây dựng con người Việt Nam có tư tưởng tiến bộ, đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh. Đó là con người văn hóa, là động lực và mục tiêu của phát triển. Mọi hoạt động sáng tạo văn hóa phải làm dày lên lớp văn hóa nhân bản, làm mỏng dần lớp văn hóa hưởng thụ, phi nhân tính. - Coi trọng đúng mức những giá trị tinh thần, giá trị văn hiến dân tộc. Hiện đại hóa văn hóa chỉ có thể đi vào cuộc sống suôn sẻ, khi triệu triệu con người lao động biết tìm hiểu, khám phá, đi sâu vào biển kiến thức của nhân loại. Nhiều dự báo cho biết, ở thế kỷ XXI, trí thông minh, sức tưởng tượng và trực giác của con người vẫn tiếp tục quan trọng hơn máy móc. - Trong văn hóa, để hiện đại hóa được thực hiện cần đổi mới công nghệ in, công nghiệp giấy, thiết bị điện ảnh, thông tin đại chúng, xây dựng các thiết chế tầm quốc gia, quốc tế. Hàng đầu của quá trình hiện đại hóa còn là môi sinh văn hóa.

Nhiều năm gần đây người ta nói nhiều đến xung đột giữa các nền văn hóa. Có hai dạng xung đột dưới góc nhìn văn hóa: Sự tràn ngập hận thù giữa các sắc tộc, sự mất ổn định ở một số khu vực, sự lên ngôi của một vài tôn giáo lớn làm biến dạng nền văn hóa. Xung đột thứ hai diễn ra giữa con người và thiên nhiên do quá trình đô thị hóa. Ngoài ra, chính sách văn hóa và sự quản lý văn hóa cũng cần được coi trọng. Bởi vì trung tâm của chính sách văn hóa và quản lý văn hóa là con người, là đội ngũ trí thức; bởi vì văn hóa nói cho cùng là quang phổ hoạt động của con người, mà người đại diện cho văn hóa dân tộc là giới trí thức.


3. Triết học văn hóa trong mối quan hệ giữa văn học và lịch sử

Lịch sử văn học là phân hệ của lịch sử văn hóa. Văn học của một chế độ nhất định được quy định về mặt lịch sử các hiện tượng văn học, các tác phẩm, các giai đoạn và mọi giá trị văn học diễn ra trong thời kỳ đó. Trên thế giới chưa ai lấy một niên biểu văn học làm cột mốc để phân kỳ lịch sử văn hóa. Văn hóa trong trường kỳ lịch sử là dòng thác sáng tạo và thích nghi chảy suốt, có bên lở, bên bồi. Người ta nói văn học triết luận hơn lịch sử được thể hiện ở những tuyên ngôn của tác giả, ở phát ngôn tổng kết của nhân vật, ở hình tượng cảm nghĩ trong thơ trữ tình... Nhà viết sử ghi lại trung thực những hiện tượng xảy ra trong quá khứ dưới dạng từng phần, có lúc, có nơi đầy ắp sự kiện, nhân vật, số liệu, không có gì toàn vẹn và gắn bó với nhau cả; phải tinh lắm mới thấy được mối liên hệ giữa chúng. Còn nhà văn viện dẫn lịch sử qua sự chọn lọc, khái quát hóa, sắp xếp những cái vốn rời rạc, thúc đẩy mối quan hệ xuất hiện giữa các nhân vật với mục tiêu sau cùng là tìm được triết học văn hóa của các hiện tượng xã hội - lịch sử. Trong Truyện Kiều, sư Tam Hợp thuyết minh số phận của nàng Kiều thực chất là triết luận của Nguyễn Du về đạo trời và lòng người:

Sư rằng, phúc họa đạo trời

Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra.

Có trời mà cũng tại ta

Tu là cõi phúc, tình là dây oan



Những triết luận trong Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc đều bắt nguồn từ nhu cầu xã hội. Lịch sử văn hóa giữ nước và dựng nước của dân tộc ta cho hay rằng, nếu như từ thế kỷ XVIII trở về trước, vấn đề tồn tại hay không tồn tại đặt ra gay gắt, thì từ đó và về sau vấn đề tồn tại như thế nào mới được đặt ra trong nhiều tác phẩm lớn. Trong Chinh phụ ngâm chủ nghĩa nhân văn mới của nhà văn được thể hiện ở nhu cầu tự do cá nhân, khát khao hạnh phúc, sánh nhau cùng dan díu chữ duyên. Tiếng nói phản kháng chiến tranh phi nghĩa đối lập với lý tưởng công danh của người chinh phu (Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong). Quan niệm quả - phúc của Phật giáo cũng được lý giải thiết thực hơn: Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau.v.v...

Nói văn học dựa vào lịch sử, nhưng văn học trường tồn bất chấp sự thay đổi chế độ chính trị là nhờ hình tượng tính cách và những vấn đề triết học văn hóa hiện diện trong tác phẩm. Nói văn học triết luận hơn lịch sử không có nghĩa là đề cao cái này, hạ thấp cái kia, mà trái lại, muốn nêu được đặc trưng nổi trội của mỗi loại hình khoa học xã hội và nhân văn đã đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc, làm nổi bật bản sắc văn hóa dân tộc, tính cách con người Việt Nam.

Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật

_______________

1. Nguyễn Trãi, Thơ và đời, Nxb Văn học, Hà Nội, 1997, tr.242, 248, 249.

2. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.46
READ MORE - HỒ SĨ VỊNH

Saturday, November 8, 2008

TỪ DẠ THẢO

Bài đã đăng:
Người Quảng Trị ăn...ớt


Từ Dạ Thảo ( Ký họa của Phan Ngọc Minh)








Từ Dạ Thảo tên thật là Phạm Xuân Hùng, sinh năm 1969. Hiện là đạo diễn phim tài liệu, sống và làm việc tại Thành phố Đà Nẵng. Làm thơ (bút danh Từ Dạ Thảo) và viết truyện ngắn (bút danh Phạm Xuân Hùng).

Tác phẩm: Máu từ những cuống hoa (tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2005) và nhiều bài thơ đăng ở các tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, Sông Hương, Cửa Việt.




gió từ lòng bàn tay thổi ra

nén chặt giữa bốn bức tường trong cơn đau đàn kiến bò quanh theo một trật tự định sẵn.

quẫy đạp trong mớ bòng bong những tê liệt ý thức găm đầy mạng nhện lên mỗi gương mặt.

không nhìn thấy đường chân trời sau ô cửa hẹp đành chấp nhận sự tan rã của ánh sáng.

khó khăn lắm mới sinh thành được ngọn gió từ lòng bàn tay thổi ra.

ôi bài ca được cất lên từ bóng tối, sự đa cảm lừa dối ngọn lửa hàng triệu nghìn năm trước, bài ca xao xuyến về đức tin không còn chỗ trú ngụ và những giấc mơ lang thang đi tìm chủ nhân.

đập vỡ bức tường vô minh lại gặp những bức tường khác như là sự sống kéo dài như là sự chết kéo dài đừng hỏi tại sao không dừng lại khi ô cửa hẹp dù căng mắt vẫn chẳng hiện ra đường chân trời.

khó khăn lắm mới sinh thành được ngọn gió từ lòng bàn tay thổi ra.


chính ngọ cộng hai phút bù giờ

những đường phố chảy tràn cơn nóng bốn mươi độ xê người và xe đi như thác chảy một ngọn thác được làm chậm theo cách truyền hình trực tiếp bóng đá làm chậm các pha bóng ác ý.

không có cầu thủ ngôi sao tất cả vô danh đi đứng vô danh nói cười vô danh inh ỏi tiếng còi xe vô danh tất cả hợp thành một ngọn thác hay một đội bóng vô danh.

không phía nào có cầu môn hay một cái gì đại loại như thế tất cả đông đặc và nghẹt thở đông đặc và nghẹt thở nhưng không hiểu vì sao đông đặc và nghẹt thở hay đơn giản chỉ là mỗi cá nhân tự tưởng tượng ra sự đông đặc và nghẹt thở.

không có trọng tài (trọng tài thường chỉ xuất hiện khi ống kính bắt được) tất cả tịnh tiến chầm chậm tịnh tiến theo cách của một ngọn thác được làm chậm như các pha bóng ác ý được làm chậm trong các buổi truyền hình trực tiếp bóng đá.

chỉ có một mặt trời bỏng rát ném vào da người ném vào mắt người ném vào hơi thở mỗi người cơn giận dữ của đường phố lên cơn động kinh bốn mươi độ xê.

một nghìn chiếc thẻ vàng (hoặc có thể nhiều hơn không ai dám chắc) được rút ra đúng vào khoảnh khắc chính ngọ khoảnh khắc của những cầu thủ vô danh trong đội bóng vô danh đi đứng vô danh nói cười vô danh inh ỏi tiếng còi xe vô danh chầm chậm đồng diễn một pha bóng ác ý.

lẫn trong đội hình vô danh, cùng chiều với ngọn thác chỉ duy nhất một chiếc thẻ đỏ dành cho anh vào thời khắc chính ngọ cộng hai phút bù giờ...
Euro ‘08



giữa khuya

giữa khuya anh thèm nghe một tiếng trẻ con khóc trong thành phố gần một triệu dân như thèm một cột đèn đường hắt bóng xuống những viên gạch lề đường nứt nẻ một tiếng trẻ con khóc rồi sau đó là giọng ru ngái ngủ của người đàn bà ngái ngủ người đàn bà có đôi vú phồn thực thường xuyên khắc khoải thường xuyên đợi chờ thường xuyên nói mớ với gã đàn ông nhiều gã đàn ông mang gương mặt lâm tặc những gương mặt tê dại về ý thức nhưng tràn trề thứ sinh lực của những thân gỗ sau khi đốn ngã còn để lại dòng nhựa trắng hay đỏ ướt đẫm châu thân vương vãi trên cành trên lá cuộc hành quyết hay tự huỷ theo cách của những loài thảo mộc.

giữa khuya anh thèm nghe những tiếng rao ai mỳ nóng không ai vịt lộn không ai hủ tiếu không những tiếng rao đêm dài mỏi mệt dài như một hơi thở dài như một kiếp người những tiếng rao quanh vào ngõ xa dần mất hút trong bóng tối nơi ngọn đèn đường không với tới nơi đó ở một khúc quanh có gương mặt cô gái ăn sương nhàu nhĩ phấn son chờ đợi những gã đàn ông say rượu ở phố về khuya với hy vọng kiếm được vài chục nghìn sống qua ngày mai sống qua ngày kia sống như một sự tồn tại dù đó là cuộc sống đắng cay buồn tủi dù biết ngày mai khi mặt trời lên lớp phấn son nhàu nhĩ không giấu nổi những vết nhăn chảy ra từ khoé môi càng không giấu được sự rã rời buốt đau của một phần thân thể bị vùi dập một phần thân thể dường như đã nằm lại đâu đó trong bóng tối nơi ánh sáng ngọn đèn đường đêm qua không với tới.

giữa khuya anh thèm một khát một thứ bóng tối khác với bóng tối đang vây quanh anh một thứ bóng tối không pha tạp nguyên chất thơm mùi cà phê thơm mùi đường thoảng trong mùi thuốc lá anh đốt để được trôi trong ý nghĩ về mặt trời chưa lên.

mặt trời của anh mang gương mặt trẻ thơ khóc trong đêm tối dài theo tiếng ru của người đàn bà mang đôi vú phồn thực theo bước chân những tiếng rao đêm khuất vào ngõ xa đậu trên khoé môi cô gái ăn sương mặt trời của anh không tròn xoe lành lặn không hồng rực như tranh vẽ mặt trời của anh tràn ngập màu cỏ úa dọc ven con đường anh đi qua vào năm mười tám tuổi.

tại sao năm mười tám tuổi bây giờ anh mới biết tại sao bây giờ đi qua hơn gấp đôi chặng đường đó anh mới biết tại sao anh giấu biệt một mặt trời của riêng anh vào giữa khuya tại sao anh chọn cho mình một mặt trời màu cỏ úa, tại sao?

anh xòe đôi tay giữa khuya bay lên như loài chim bay lên để nhận thấy từ trong bóng tối một mặt trời màu cỏ úa lặn vào đất đai lặn vào nơi còn lại duy nhất thứ bóng tối không pha tạp thứ bóng tối nguyên chất mang theo ý niệm vĩnh hằng về nơi khởi đầu cho sự sống anh hiểu ở đó mai kia sẽ mọc lên một con đường ngập tràn màu cỏ úa.

câu trả lời duy nhất của anh là câu hỏi anh mang theo vào bóng tối.



Đối thoại với cổ điển

Những ca dao đầy ắp cánh cò và phận người lam lũ
Sao không về cùng tôi hương khói một lần
Khóc giữa bờ tre còn nguyên hai hàng địa chỉ
Mẹ đi đồng cạn mẹ về đồng xanh.

Tôi từ miền ngược nắng ra đi
Chân giày dép cũ
Đầu đội nón tơi tay cầm chữ
Ngả nghiêng mùa cổ điển thi ca.

Tôi lại bắt đầu bằng chữ a
Này đây úm ba la
Này đây hồn Trương Ba
Đường đi tới biển
Phải qua Ngân Hà

Những bông hoa một lần hay nhiều lần
Những con chữ một mùa hay nhiều mùa
Tôi sống một đời hay nhiều đời
Để nói một lời hay nhiều lời.

Đừng rủ rê tôi những hạt giống cũ
Tôi thương vì chữ có nghĩa
Tôi không thương vì chữ có tình
hay lúc lặng im

Hãy tượng trưng tôi bằng máu đỏ
Mà xanh tới cỏ

Dù mai kia những bông hoa tàn rũ
Thề không đem theo ngày cổ điển huy hoàng...


Nhìn tôi trong mắt tôi

Từ đâu nhìn thấy một tôi 
Đường xanh hoa nắng rối bời tóc tai
Tôi đi muôn dặm đường dài 
Cầm tay một giấc mơ ngoài cõi riêng.

Đi từ sâu lắng thiên nhiên 
Cỏ cây chào đón liên miên giữa đường
Nghĩ tình hoa lá yêu thương 
Mang hồn diệp lục vấn vương tơ lòng
Tôi cầm một đóa sắc không 
Đi về phía những cánh đồng chân mây
Biển xanh ngóng phía hao gầy 
Trăng kia còn chút rằm này làm tin

Từ đâu nhìn thấy lặng im 
Mình tôi trong gió đi tìm hồ nghi
Xênh xang đàn sáo làm chi 
Mai kia dưới cỏ biết gì trăng sao

Tôi nhìn tôi dưới trời cao 
Vòm xanh cúi một lời chào tri âm
Mây bay từ độ ngàn năm 
Tôi bay từ thuở mây nằm trong nôi

Từ đâu nhìn thấy một tôi 
Xác thân vay mượn đất trời thiên thu
Tôi là tôi của phù du 
Phù du là của tuyệt mù nhân gian

Nhìn tôi đổ nát hoang tàn 
Lạnh từ huyệt mộ lạnh sang thân gầy
Mưa nguồn chớp biển nào hay 
Tôi từ phía ấy nơi này chốn nao?



Cho em vào hạ

Hình như bên kia là mùa thu
Ngàn lá rụng mang theo lời tiễn biệt
Nơi ký ức hóa vầng trăng đẫm ướt
Con dế buồn rũ cỏ hát tình ca

Bên kia là năm tháng đi qua
Còn gặp lại cũng vô tình ánh mắt
Bông hồng ấy cuối chân trời tít tắp
Dẫu muộn phiện từng cánh mỏng manh rơi

Bên kia là còn lại mình tôi
Mùa hạ và em xa vời ảo ảnh
Hoa cúc cháy trong nỗi niềm đa cảm
Thuở yêu em trong trắng vô ngần

Bên kia là còn lại dòng sông
Cánh buồn anh nửa đời đi không hết
Em xa quá, mùa thu thì chẳng biết
Có người úp mặt khóc hoàng hôn

Lẽ nào em không nhớ, lẽ nào quên
Giọt nước mắt đã tan thành hoài niệm
Thành muối mặn thành vô tư sóng biển
Để vơi đầy cùng năm tháng vì nhau

Bên kia là còn lại nỗi đau
Khao khát ấy của một trời hoa phượng
Lẽ nào em, lẽ nào tôi hoang tưởng
Lá vàng thu tiếc nối giữa tay người

Bên kia là day dứt khôn nguôi
Đồng vọng mãi lời chia tay thầm lặng
Phải mùa hạ dâng hết mình cho nắng
Nên mùa thu chớm lạnh đã se long

Thì đừng buồn bốn phía mưa giăng
Bong bóng vỡ theo về nguồn cội
Ngắt cánh phù dung ngồi đếm tuổi
Thấy trong hư vô khuôn mặt của mình
.
Thì ta quay về tìm lại dòng sông
Tìm lại xác thân phiêu bồng một thuở
Để thấp thoáng em hiện về đâu đó
Mùa hạ ấy xa như có thật trong đời.



Thơ chiêu hồn H.

1.

Về đi
những linh hồn trong gương mặt sạm nắng
bàn chân nứt nẻ ngấu bùn
bàn tay máu bật ra từ móng
lang thang làm chi trên cánh đồng chiều
Hồn lẫn vào đâu trong rơm rạ


2.

Về đi
đừng ngược xuôi tất tả
chợ Hôm vãn rồi, lều tranh nắng quái
măng giá, rau dưa cũng là thơm thảo
đừng khóc một mình, đừng gọi người quay lại
phía xa kia có hoàng hôn đứng đợi


3.

Về đi
những chuyến xe đã dừng từ lâu
hàng ghế trống sao Hồn còn ngồi
xoè bàn tay vàng mã


4.

Về đi
đừng hát lời bi ai
những nhà thơ danh tiếng
những thi nhân xiêm áo rỡ ràng
đã xanh phận mình dưới cỏ
hỏi rằng hồn cỏ ở đâu?


5.

Về đi
tiếng gọi ai như tiếng gọi đò
sao còn ngửa tai đón gió
chuyến này sang sông là chuyến cuối cùng
sông chảy hay là không chảy
chim trời cá biển người dưng.


6.

Về đi
tiếng đàn réo rắt
mang lời bát âm
chén cơm vun đầy chân nhang
quả trứng khóc đời phận mỏng
không về thì đi đâu


7.

Về đi
nước chảy qua cầu
trăng quầng thì hạn trăng tán thì mưa
đêm ba mươi có ai nhìn thấy trăng
sao lang thang một khối như rằm


8.

Về đi
nào ai nhớ mình là ai
dùng dằng làm chi, nhân gian rộng lắm
không mình thì thêm, có mình thì bớt
đi là đi mãi chưa về
về là về mãi chưa đi


9.

Về đi
cầu xin cõi người ta lần nữa chẳng sao
nhớ hay quên đều là số mệnh
tóc bạc tóc xanh đều như chiêm bao
im lặng gửi vào đất sâu giá lạnh


10.

Về thôi, chiêng trống nổi lên
Trầm hương nghi ngút
Ai gạt nước mắt, ai người tiễn đưa
Có nghe hồn nói
Một lời như thưa…
TỪ DẠ THẢO




MÁU VẪN CHẢY TỪ NHỮNG CUỐNG HOA

Nguyễn Xuân Hoàng

Đọc tập thơ “Máu từ những cuống hoa” của Từ Dạ Thảo


( NetCodo)
www.hue.vnn.vn/vanhocthica/

Tập thơ “Máu từ những cuống hoa” của Từ Dạ Thảo-một cựu sinh viên Huế vừa mới xuất bản đã được dư luận chú ý. Dưới đây là bài viết giới thiệu của Nguyễn Xuân Hoàng.

“Chúng ta nhìn trái đất những kẻ phiêu lưu nào đó đã từng sống ở nơi đây như hoa cỏ yếu ớt bám vào những tảng đá với niềm tin nhẹ dạ rằng gió sẽ không bao giờ nhổ bật chúng ta”. Tựa cho tập thơ “Máu từ những cuống hoa” của mình, Từ Dạ Thảo đã mượn nguyên lời của Wislawa Szymborska - thi sĩ từng được giải Nobel văn chương. Từ Dạ Thảo làm thơ từ những ngày còn là sinh viên văn khoa Đại học Tổng hợp Huế. Cái bút danh thơ mộng và có vẻ con gái nhưng Thảo là một đấng mày râu. Tên thật của Thảo là Phạm Xuân Hùng. Thơ Thảo đăng ở tạp chí Kiến thức ngày nay, Sông Hương, Cửa Việt và một số tờ báo sinh viên... Nhiều bài thơ của Thảo được sinh viên chép tay lại (ngày ấy chưa có máy photocopy như bây giờ) và chuyền cho nhau thuộc nằm lòng. Cũng từ ngày ấy, tôi đã thấy ở Thảo ẩn tàng một bản năng của thi ca. Con đường mà Thảo lựa chọn rồi sẽ nhiều cam go và nước mắt, nhưng tôi tin Thảo sẽ hái được từ cánh đồng thi ca những đóa hoa dại nhiều màu. Tập thơ làm tôi xúc động, không phải vì đó là thơ của bạn bè mà là từ bấy đến nay, cái hơi thơ dịu vợi, như lời tâm sự âm hao bên ngọn đèn dầu, vẫn cứ nguyên màu và nhất quán trong tâm hồn Thảo đêm tối cuối cùng của thế kỷ

Em cho phép tôi nói lời chối từ
Những miền mộng mơ ràng buộc danh phận
Để tự do ca hát trong lồng ngực
(Trong đêm cuối cùng của thế kỷ)

Thực ra thì không có những định nghĩa về thơ mà thơ chính là một định nghĩa, cái định nghĩa lớn của cuộc đời. “Máu từ những cuống hoa” giống như một lời tự sự miên man, chảy như một dòng vô thức vô định. Ở đó, có một khách bộ hành “thường độc hành, thường độc bộ” đi và lang thang:

Không có gương mặt nào nhìn rõ
Tối quá mờ quá hoặc xa quá
Lại phải bắt đầu từ đầu
Những đường mòn quạnh hiu mọc lên phố xá.

Vô thức Trong cuộc sống xô bồ nhiều khi ta đánh mất mình một cách không hay biết. Ta làm gì ? Ta đi đâu ? Đâu là nơi trở về ? Trong một phút giây tiệm ngộ dừng lại bất chợt, Thảo nhìn xuống chân mình bàng bạc những sát na khi vui quá mà khóc cười:

Nhiều khi buồn quá mà ca hát
Nhiều khi rỗng không nhìn một ngôi sao
vừa tắt
rơi xuống quanh mình.
(Vô thức)


Tự dang tay mở cửa tâm hồn mình và đẩy nỗi buồn đến tận cùng chiêm nghiệm, thơ của Thảo bỗng dưng buồn một nỗi buồn khôn tả. Nghe xao xác trong từng đêm lạnh một nỗi cô độc quá chừng ! Mà làm sao khác được nếu biên độ thơ không mở rộng cho nỗi buồn ; và thậm chí cho niềm tuyệt vọng. Và lúc này thơ là cứu cánh xoa dịu vết thương lòng Nước mắt Người rơi xuống ở đâu. Tôi không hứng được


Nụ cười Người ban phát ở đâu.
Tôi không cầm nổi trên tay
Những chiếc rễ cây mệt nhoài nuôi hy vọng
Lấy mặt trời đêm thắp sáng giấc mơ ngày
(Giấc mơ)


Những mê tự mà Thảo đưa bạn đọc vào là mê tự của nước mắt. Dẫu có lúc Thảo lên dây cót tâm hồn mình, an ủi mình với một lời tự khuyên : đừng dằn vặt đừng tiếc nuối đừng khóc (Trong đêm cuối cùng của thế kỷ) Nhưng rồi như một cơn mê, trái tim đã không chịu nổi nỗi buồn cô quạnh và Nàng Thơ ôm khuôn mặt diễm kiều nức nở khúc tình ca dở dang Khóc những quả chuông không thành tiếng Anh xé lưỡi mình trước khi gọi em (Giấc chiều) Thơ Thảo đầy những hình ảnh ẩn dụ đẹp, thân quen mà rất lạ. Chính những hình ảnh gần với những biểu tượng đã tạo ra một sức gợi lớn.

Đây là con ốc sên hay là một nhà tiên tri : “Mang theo giọt sương chưa kịp vỡ. Tôi chậm chạp bò theo ánh trăng ở phía cuối rừng” và đây là nhà tiên tri hay là con ốc sên họa sĩ :

Trong không gian hạn hẹp và có phần
Anh vẽ cho mình một đôi cánh
Dù không đến được đâu thì cũng cố mà vùng vẫy.
(Đôi cánh)

Đọc thật chậm, rồi nhẩn nha dừng lại và gạt hết những tiêu đề của từng bài thơ, tôi thấy dường như “ Máu từ những cuống hoa” không phải là một tập thơ mà là một trường ca, với một giọng điệu chân phương khoan thai và sâu thẳm từ đầu đến cuối. Kết cấu tập thơ như là 4 chương của một trường ca với tiêu đề phụ :

Từ đất cứng, đá chai có lời kinh sáng thế.
Có chậm chạp chắp nối và đứt gãy.
Không có gương mặt nào nhìn rõ, tối quá, mờ quá hoặc xa quá.
Hãy tượng trưng máu đỏ.


Và một lời kết “Em biết không trong giấc mơ tôi đêm ấy đầy ắp những bông hoa từ chối mọc cánh”.


Vậy là cuối cùng tập thơ đầu tay của Thảo đã ra đời. Ngày nào trên trái đất này còn con người thì ngày ấy thơ ca vẫn hãy còn, và máu từ những cuống hoa sẽ vẫn còn chảy mãi. Cái giả định bi tráng về cuộc đời ngập tràn nước mắt đó cũng là vẻ đẹp vô lời của thơ Từ Dạ Thảo. Dẫu bị thương đến kiệt máu và đầy nước mắt, nhưng những bông hoa vẫn ở lại đó trong từng giấc mơ, chấp nhận chịu khổ nạn với cuộc đời và khước từ một sự mọc cánh.


Nguyễn Xuân Hoàng


Đọc thêm:

Sáng tác của Từ Dạ Thảo trên vanchuongviet.org
READ MORE - TỪ DẠ THẢO

Wednesday, November 5, 2008

Hoàng Phủ Ngọc Tường



Hoàng Phủ Ngọc Tường


Sinh nhật



Mai kia tôi về ngủ trên đồi
Nắng rải hoa vàng quanh chỗ tôi
Con chim sơn ca ngày thơ bé
Nó bay về khóc mãi không thôi







Thiền định

Ngày ấy tôi thường hay đến đây
Đăm đăm soi mặt nước hồ này
Khói sương nhả tự trên trời xuống
Chỉ một mình tôi với bóng cây

Tôi thích về ngồi giữa lặng im
Rừng thông thoảng nhẹ khí thu chìm
Không ai cười nói không ai khóc
Chỉ một mình tôi với bóng chim

Tôi vẫn ngồi trong gió heo may
Một phiến hồ thu nước lại đầy
Ngày không thiên sứ chiều không nắng
Chỉ một mình tôi với bóng mây

Em kể tôi nghe chuyện núi đồi
Chỉ là ảo tưởng đấy mà thôi
Tôi nhìn trong khoảng mông lung ấy
Chỉ có tôi ngồi với bóng tôi

Em gọi tên tôi khắp mọi nơi
Gọi tôi vang động cả vòm trời
Tôi ngồi im vắng như lau sậy
Mờ mịt như màu sương khói thôi

TP HCM 20-11-2001
READ MORE - Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tuesday, November 4, 2008

HÀN NGUYỆT



TRINH NGUYÊN

Truyện ngắn của
Hàn Nguyệt


Chị xắn quần. Chị xắn quần khéo như người cuốn bánh. Chân chị vẫn còn trắng lắm, trắng đến xót xa. Chị đặt chân phải xuống ruộng, lớp bùn nâu thẫm phún lên kẽ chân. Cảm giác lành lạnh chạy dọc theo chân phải. Chị rùng mình. Cái cuốc con lưỡi chỉ to hơn môi múc canh rơi chỏm xuống ruộng. ấy chết, gãy mất hai nhánh lúa. Chị vội nhặt cuốc lên. Tay phải thấm nước, lạnh rờn rợn lên vùng ngực. Chị ôm lấy ngực theo phản xạ tự nhiên. Ngực chị đầy chặt tay. Chị mỉm cười cúi xuống. Vớ vẩn. Ruộng vẫn nguyên cỏ, làm kẻo trưa.

Nắng bắt đầu lên. Tháng giêng nắng nhạt, lẫn bụi sương, rủ rê trên da thịt. Cái cuốc con đẩy lui thoăn thoắt trong tay chị. Một mình có ba sào lúa với hai sào khoai, chăn nuôi gà, đàn lợn nái cũng mướt mồ hồi. ¡n một mình đau tức, làm một mình cực thân. Số chị đã vậy, đành chịu.

Chị thấy nhồn nhột đằng sau gáy. Có ai đó đang nhìn mình. Nắng chếch đổ một chiếc bóng dài xuống ruộng, những gợn sóng làm cho chiếc bóng ngùng ngoằng. Chị dừng tay. Ðúng ông ta. Người cao lớn vòm ngực nở, mắt hơi xếch, ông ta như một kẻ sơn tràng. Cục mịch mà mạnh mẽ. Chính cái đôi mắt xếch với tia nhìn dữ dội ấy làm chị khó chịu đằng sau gáy. Chị cố tình không quay mình. Cái cuốc con tiếp tục động đậy.
- Thím Thư, tôi có chuyện.
- ủa anh Hải. Chuyện chi mà trái đường trái gió rứa.
- Là... cũng chuyện quan trọng. - Ông Hải nhè nhẹ đặt cày xuống đất, xắm rắm lựa thế ngồi - Thím nghỉ tay lên bờ tôi nói rõ.
- Ai thấy thì chết. Chị ngượng nghịu dúi dúi cây cuốc.
- Thôi trưa về nhà hãy nói. Ruộng còn ngồn ngộn cả cỏ. Anh thông cảm.
- Không, thím Thư, là tôi muốn nói cái chuyện mộ chú Ngộ ấy mà. Tiện đây gặp thím, tôi cũng không có ý tìm.
- Rứa thì được. Thanh thiên bạch nhật. Mình cứ thói xấu hổ đa nghi, trách gì già rồi như kẻ nít.
- Dạ để tôi rửa tay.

Ông Hải bảo hồi này Nhà nước quan tâm đến chính sách thương binh liệt sĩ. Mộ chồng chị đừng nên để mãi trong vườn nhà. Nghĩa trang liệt sĩ ta đẹp, vừa rồi mới được tôn tạo, nên để xã đưa chú ấy vào nghĩa trang, ở vườn nhà chị chăm sóc chu đáo đấy nhưng chú ấy không có đồng đội, cô đơn.
- Rứa là anh muốn để tôi cô đơn? - Chị rơm rớm nước mắt.
- Ờ... mà... ý tôi là như các anh trên xã. Còn thím thì... để mấy sào khoai tôi cày luôn thể, thím tự làm cực quá.

Chị quẹt nước mắt, bùn ở tay áo dính một chút vào đuôi mày. Ông Hải định gạt vệt bùn cho chị nhưng ông đã rụt tay lại. Gương mặt nồng nàn nhưng trầm uất của chị khiến ông không nỡ đụng vào. Ông Hải bứt vài ngọn cỏ, bập bập vào hàm răng chắc rịt:
- Việc cày bừa của nhà tôi chỉ một mình tôi lo thừa sức. Chỉ tội cho hai đứa con gái, phần lo học hành, phần lo vườn tược. Thím thì chẳng chịu làm bạn với tôi. Ông Hải dặng hắng - Thím có mang nước theo không?
Chị giật mình:
- Dạ. Dạ, có.

Nước lá nấu sôi kỹ, cho vào bi đông ủ trong bọc vải, quá nửa buổi nước vẫn còn ấm. Chị thận trọng rót nước ra nắp bi đông mời ông Hải. Mỗi nắp bi đông vừa vặn một ngụm. Nước lá chị nấu uống thơm tận tóc.
Ông Hải chép miệng:
- Ngon. Thiệt tình thím nấu nước lá ngon nhất xóm.

Quê chị lắm đồi trọc, lúp xúp cây, đa phần là sim mua, thảo mộc. Trưa đúng ngọ lên đồi bẻ lá, lá vối, lá vằng, lá hón, lá bướm bạc, lá ngấy, bông trang rừng... phơi khô, nấu kỹ, đi biệt chân trời vẫn còn lẩn quẩn mùi nước lá trên môi.
"Bọn mất gốc mới uống nước trà. Trà móc câu, trà Thái, trà nhài, trà sen, trà gì cũng đậm lưỡi nhưng chẳng có thức uống gì vừa bổ dưỡng vừa đậm đà hương vị bản xứ như nước lá". ấy là chị nghe lỏm chuyện của ông giáo Phùng với tay kỹ sư nông nghiệp buổi tối chị gánh nước qua.

Chị đặt bi đông nước xuống cỏ:
- Anh Hải à. Ơn anh tôi còn mang nặng lắm. Anh khuyên gì, bảo gì tôi cũng cúi dạ, riêng chuyện mộ anh Ngọ, anh cứ nói thẳng với mấy ông trên xã đừng đụng đậy làm chi. Sinh có nguồn, thác có cội, anh Ngọ ở trong đất đai cha mẹ tổ tiên là tốt lắm rồi.
- Thím Thư, hai mươi mấy năm rồi thím đày đọa thân. Tôi thiệt bụng thương thím. Nếu thím gật đầu thì trầu cau vẫn chưa muộn. Tôi có ý...
- Thôi anh Hải. ủa nắng lên lửng ngọn cây vối. Anh về kẻo thiên hạ nhòm ngó. Ruộng vẫn còn ngộn cả cỏ, anh thông cảm.

Chị lật đật xuống ruộng. Chị xắn quần vội như người cuốn bánh bị khách giục. Ông Hải lắc đầu, uể oải nhấc cày lên vai. Ông cười thảm hại.

Ông Hải vác cày đi chông chênh trên bờ ruộng. Chị cảm thấy rõ lúc này chiếc cày quá nặng với sức lực vốn rất cường tráng của ông. Mái tóc ông còn đen dày hơn tuổi năm mươi ba. Ông Hải đẹp hơn chồng chị nhiều. Chồng chị ngày xưa lỏng khỏng, ai nói gì cũng rụt cổ cười. Nhưng chồng chị có tài ép hoa thị thơm lâu đến mê muội cả đám con gái mấy làng thung. Mớ hỗn độn ký ức lẫn với những cảm xúc hiện tại làm chị nhói đau. Chị ôm ngực ho húng hắng rồi lệt xệt dần vào bờ. Chị ngồi phệt xuống mép ruộng, thõng chân xuống nước. Thế là quá buổi sáng. Thế là quá nửa đời người. Chị khép đôi mi rợp cho hai giọt nước mắt lăn khẽ qua.

Ngày chị lấy chồng, chỉ có mẹ vui. Ngày ấy chị có hai mươi tuổi lẻ. Cha mẹ chị chỉ có mỗi mình chị. Cấy lúa ruộng trũng, trồng khoai đất đồi, dăm bảy cây mít cây dứa đủ để nuôi chị lớn. Da hồng rựng, tóc dày mượt, đôi mi rợp buồn. "Ngữ ấy hồng nhan bạc phận" - mấy mệ bà chằng tụm đầu dè bỉu chị. Chị đẹp ngời ngợi ở tuổi mười chín, đôi mươi, điều đó khiến thằng cha thợ rèn khó tính nhất làng cũng phải thừa nhận. Trời còn cho chị một cái đẹp hiếm có: gót chân son. Cha chị gót chân chai sần, đi rừng không cần dép. Chân mẹ chị nứt nẻ, ra đồng mùa nắng khó phân biệt đường nứt ruộng với đường nứt chân. Gót chân chị đỏ hồng, mịn bóng hơn cả da mặt. Chân đất lội bùn, đạp đồi đào củ, hái rau, từ bé cho đến tuổi lấy chồng gót chân chị không hề có vết rạn nhỏ. Chị yêu gót chân chị lắm. Mỗi tối sau khi rau heo cháo chó chu tròn, chị ngồi lên giường nắn nắn gót chân. "Mình nghèo chẳng có gì cũng được đôi gót chân son" - Chị cười an ủi.

Tưởng chẳng ai chú ý đến đôi gót chân ngà ngọc của chị, nào ngờ anh chàng Ngọ làng bên phát hiện ra. Ngọ là con út ông bà Liên, hai vợ chồng bác sĩ duy nhất của cả ba làng.

Những năm ấy trai gái rậm rực vào dân quân du kích. Ngày cày ruộng cuốc rẫy, đêm tập trận bày bố kế hoạch đánh đấm không khí bùng bục như rượu nén. Chị vào du kích làng Thung Thượng, Ngọ du kích làng Thung Hạ. Một đêm vào cuối năm 1971, tiểu đội du kích của chị và tiểu đội của Ngọ được phân công đi dò đường lên cứ điểm địch ở Ðầu Mầu. Ði từ tám giờ tối, lần theo núi, đồi, khe, suối, khi trở về thì trời đã rạng. Chị thấm mệt, bấu vào vai Ngọ để vượt suối La La. Ðôi mắt tinh anh của Ngọ đã phát hiện ra đôi gót chân hồng ửng như táo chín. Ngọ mê gót chân chị. Bà Liên giục chồng hỏi vợ cho con.

Cha chị chưa muốn gả con. Nó còn dại quá, tội nghiệp. Nhưng mẹ chị mừng lắm, lấy được con trai gia đình thầy thuốc duy nhất trong vùng, trái gió trở trời cũng đỡ lo, lại gia đình cách mạng, tốt quá, phúc quá.

Những tháng sau Tết 1972, ngòi cháy của cuộc chiến tranh sắp đến độ bùng nổ. Hình như ai cũng linh cảm được điều đó. Ðám cưới chị buồn tẻ, vội vã, đầy những âu lo. Chỉ có mẹ chị vui như tất cả các mẹ nông thôn Việt Nam gả được con gái không còn lo ế ẩm.

Ðêm tân hôn. Chị khổ sở ngượng ngập vì đúng ngày kiêng trong tháng. Ngọ rụt cổ cười, hai đứa bẽn lẽn như trẻ chơi đồ hàng bị hỏng. Chị hôn Ngọ rất lâu, để bù lại những cái hôn vội vàng đêm trăng tập trận, bù lại sự rủi ro của chu kỳ con gái rơi đúng vào đêm ngọc ngậm hoa cười.

Cưới nhau được hai ngày. Cuộc tổng tấn công bùng lên. Cả vùng bờ nam sông Bến Hải ầm ầm trong bão đạn. Ngọ nhận lệnh theo tốp giao liên dẫn bộ đội chủ lực đánh chiếm cứ điểm Ðầu Mầu. Ðó là ngày mùng hai tháng tư năm bảy mươi hai. Chị nghe tin báo nhận xác chồng. Ông bà Liên đau đớn mất con nhưng lẫn cả niềm tự hào, nó đã hoàn thành nhiệm vụ. Hôm đó. Gio Linh, Cam Lộ chấp chới cờ đỏ sao vàng, chị đeo tang chồng, ôm gót chân khóc không thành tiếng.

Chị ở với cha mẹ chồng ba năm nữa thì anh Thìn, anh trai cả của Ngọ về. Anh Thìn là đại tá, chị vợ thượng úy. Anh chị cất được ngôi nhà khang trang ở phố huyện, mời cha mẹ cùng ở. Chị một mình với ngôi mộ chồng côi cút cho đến tận bây giờ.

Chị cũng không ngờ mình nguyên vẹn cho đến lúc này. Chị đã yêu chồng biết bao nhiêu. Ngọ cao mảnh, da trắng, miệng nói có duyên. Khi Ngọ nói, chị muốn uống từng tiếng. Ngọ yêu chị lắm. Ngọ ép rất nhiều hoa tặng chị. Nhiều khi tập trận, Ngọ giấu theo một gói hoa thị ép khô. Mãn buổi tập, hai đứa lại lên đồi sim, Ngọ rải hoa thị lên tóc chị, lên môi chị, bỏ vào ngực áo chị. Thơm. Thơm ngất cả đồi trăng. Thế mà bao giờ Ngọ hôn chị cũng vội vàng: "Về nhé, bảo đảm sức khỏe mai đi tập. Khi nào hai đứa cưới nhau..." Chao ôi. Vậy mà cả ngay một lần làm vợ chị cũng không có được. Nhiều đêm nghĩ miên man, chị bóp gót chân đến buốt mà không biết.

Hồi mới giải phóng, chị suýt ngã lòng. Ấy là vì cái anh chàng hạ sỹ Mận ở tiểu đoàn 17 đóng quân gần làng chị. Mận quê ở Bắc Ninh, hát quan họ ngọt mướt, miệng hát duyên hết rớt lưỡi hái. Mỗi lần chị đi gặt, Mận đòi làm "dân vận", gặt lúa giúp. Lúc đầu chị đuổi khéo, dần dà mê hát, ngồi bệt xuống cỏ quên cả bó lúa, cười đắm đuối. Tình hình đến tai ông bà Liên, bà Liên mắng chị tơi bời. Nào bẽ mặt cha mẹ chồng. Chồng hy sinh chưa hết khó đã lúng liếng. Liệu mà ở cho thơm mặt nhà chồng, thơm mặt vợ liệt sĩ. Chị khóc. Chị tự rủa mình. Chị lặng lẽ ôm gót chân và tự hứa chẳng bao giờ mềm lòng nữa.

Chị tưởng chị sẽ bị cha mẹ chồng cột chặt vào ngôi nhà rường ba gian với ngôi mộ chồng quanh năm hoa cỏ. Ai dè bà Liên có lần đến ở lại thủ thỉ với chị hẳn một đêm. Ðại khái làm thân đàn bà con gái phận mỏng, con còn trẻ tuổi, mẹ tùy con lựa bề tái giá. Bà Liên còn gợi ý có thằng Phi đẹp người tốt nết ở làng Yên Thịnh, dạm ý bà gả con dâu.

Chị sực nhớ. Phi có chiếc xe đạp Thống Nhất, mỗi lần chị đi chợ thường dắt theo. Hỏi: "Sao không đạp xe?", đáp: "Xe hỏng". Phi rất đẹp trai. Mái tóc bồng hay gãi rối lên mỗi khi nhìn chị.
Mấy buổi chiều sau hôm bà Liên thủ thỉ. Chị bồn chồn không yên. Chị nhận ra mình mong Phi, đợi Phi, rồi giả tảng mắng mình vô duyên.

Phi đến thật. Phi mang đến mấy bông hoa giấu trong vạt áo. Phi ít nói, chỉ cười, nụ cười úp mở lời yêu. Chị rót nước, rơi vỡ hết bốn cái cốc. Phi nhặt từng mảnh sứ, vô tình nhặt phải ngón tay chị. Phải đến bảy tám hôm sau chị mới quên được cái vô tình hôm ấy.
Thỉnh thoảng Phi đến, vẫn dắt xe.
- Sao anh không đạp mà dắt cho mỏi?
- Xe hỏng. Thử giúp xem nó hỏng chỗ nào.
- úi dà. Súng các loại hỏng đâu em còn biết cách chữa chứ xe pháo thì em xin hàng.
- Nói đùa. Pháo thì tôi là tay thiện xạ. Hồi lính, xe tăng xe pháo đối với tôi như trò chơi. Hay thật. Xe tăng trườn đồi. Xe tăng lội nước mới khoái, đạn sẵn tha hồ vãi. ấy chết... - Phi bịt miệng không kịp. Anh ta quên mất anh là lính thiết giáp ngụy đang nói chuyện với vợ liệt sĩ.

Chị ôm gót chân tự rủa mình đúng mười lăm hôm. Trời ơi, biết đâu quả đạn của Phi đã cướp đi Ngọ của chị... Phải rồi, hồi giải phóng Phi đi cải tạo, vợ chưa cưới bỏ Phi. Trời ạ, mà sao mẹ chồng ta cũng loạng quạng. Chị oán mình, oán đời rồi khóc, bóp đau nhừ cả gót chân.
Ðêm vùng trung du u u tiếng côn trùng. Thi thoảng lắm vào mùa mưa mới có tiếng ếch nhái, ễnh ương. Ðêm chị thường tắt đèn đi ngủ sớm, nửa khuya lùng bùng dậy dỏng tai nghe tiếng cú, tiếng vạc, tiếng chuột sục sạo. Ðôi khi các cháu nội ông giáo Phùng khóc đêm, nghe hủ hủ rồi nhòa hẳn vào tiếng đêm. Ngôi nhà cha mẹ chồng nhường cho chị ba gian lợp ngói. Ðêm cả ba gian nhà là vương quốc của chuột, gián, thạch sùng, có cả rết và bò cạp. Chị chẳng nỡ đuổi chúng. Ðêm quạnh quẽ, quan sát chúng đỡ cô đơn.

Khổ sở nhất là những đêm trăng sáng. Trăng trung du độc địa, sáng vặc như soi tận nơi sâu kín của người ta. Vại nước đầy trăng. Chị vục nước tắm, trăng vỡ ra xõa lên mình chị. Trăng trung du trần truồng rất khó chịu. Tàu lá chuối gợi tình, phẩy phẩy, lấp lóa sáng. Gốc mít lâu năm đen đủi như gã đàn ông rình rập, dòm ngó chị. Chị cười khẩy, chẳng có ai cả, ai mà rỗi hơi.

Chị cẩn thận kỳ cọ, dù biết chẳng có gì để kỳ cọ. Từ cái cổ tròn, chị lần xuống ngực. Tay chị làm lụng nhiều da tay ram ráp, xoa lên cặp vú căng muốt cứ ngỡ ai đặt tay lên. Vai chị cũng mềm. Ngày xưa Ngọ chỉ mới hôn lên đó. Ngọ chưa hôn vào chỗ nào ngoài môi và vai. Mấy mệ bà chẳng bảo đàn bà sướng nhất là mông, mông nục nạc đàn ông đụng vào như nam châm gặp sắt. Chị chẳng dám sờ tay vào nơi khốn khổ nhất của mình. Nếu phải kỳ cọ, chị dội nước thật nhanh như ma đuổi. Chị ngắm mình rồi ngửa cổ hình dung những điều quái gở. Nếu có ai đó yêu chị, hẳn người ta sẽ xiết lấy chị mà thốt lên, chị là nữ thần, như tượng nữ thần cụt tay chị thấy ở nhà ông giáo. ừ, nếu có ai đó để yêu, chị sẽ làm thế nào nhỉ, ít nhất là xem cặp mông tròn mẩy của chị có phải là nam châm không.

Mùa trăng trung du dài. Chị hao mòn đi chút ít và đôi mi rợp thấp hơn.
Một đêm vào cuối mùa trăng, trời se lạnh, chị tắm táp vội vã. Chưa kịp mặc áo, chị bắn người vì hai bàn tay sắt quắp lấy chị. Một thân thể nóng rực như lò than áp vào. Chị chỉ kịp hét lên: "Bác Phùng ơi, cứu cháu", thì bị đè vật xuống. Gã sờ soạng, gã tìm miệng chị để bịt lại. Một tay gã tìm nơi khốn khổ nhất đời chị, gã thở như lợn bị trói. Nhưng trời cho chị sức lực đạp đổ cả cây vối chặt nửa. Gã đàn ông đen nhẻm lòng khòng, tay chân cứng như nạng sắt bị chị xô bật, văng ra đám nhầy chỗ vại nước. Chùm bầu khô rơi loảng xoảng.

Gã đàn ông biến vào vạt chuối.
Ông giáo Phùng vác gậy lạt xạt băng qua vườn.
- Trộm hử?
- Dạ. Dạ không. - Chị khép vạt áo - Thằng Thỉ thợ rèn bác ạ.
- Không sao chứ? Khổ quá! Thằng này phải nhờ ông Hải giã cho một trận mới được.
- Dạ thôi bác, không có sao đâu mà, bác đừng nói gì xấu mặt cháu.
Ông Phùng không nói gì thật. Ông chỉ bảo con Hồng cháu ngoại học lớp bốn sang ngủ đêm với chị. Con Hồng tính rụt rè nhưng chăm đọc sách. Có lần đọc sách xong nó bảo:
- Dì Thư sao không lấy bác Hải? Bác Hải coi bộ thương dì lắm.
- úi dà. Hồng muốn dì Thư thành mụ dì ghẻ trong chuyện Tấm Cám đó hử?
- Eo! Vậy thì thôi. Làm dì ghẻ chán chết, dì ha.

Con Hồng ngủ, mặt nó phảng phất cười, chị nắn nắn gót chân không ngủ được.
Cây vối đơn độc đầu bờ ruộng hồi bom đạn sạt tận gốc. Hai mươi mấy năm chồi khẳng khiu cao dần. Lá của nó đủ chị hái uống suốt đời. Mùi vị nước lá uống không tả được, chỉ thấy ngan ngát nhẹ bẫng cả mặt, cả đầu. Nước lá chị nấu, có một người biết là nó ngon đến mềm môi. Ông Hải. Ông Hải là trung đội trưởng du kích hồi ấy, ông Hải xót Ngọ lắm. Ông Hải cũng thương chị. Ban đầu ông thương như một người anh cả thương đứa em út bạc mệnh. Rồi ông cũng không cắt nghĩa được sự quyến luyến của ông. Hình như. Mà phải. Ông yêu chị. Vợ ông hiền thục, sinh hạ được hai cô con gái rồi chết trong lần sinh thứ ba. Vợ ông to khỏe, có thai chín tháng vẫn đi chặt củi, đốt than. Sinh con to quá, trạm xá xã dốt nát, uể oải chẳng ai giúp chị kéo được đứa con trong bụng ra. Vợ ông chết, đứa con thứ ba chưa sống được một giờ cũng chết. Ông thành người bất hạnh.
Ông Hải là người hay mộng mị. Suốt nhiều năm rồi ông ít mơ thấy vợ, chẳng mơ thấy gã thợ rèn khó tính thường cãi nhau với ông vì rèn rựa chóng cùn, ông chỉ mơ thấy chị. Chị đẹp quá, nồng nàn quá. Ngọn đèn leo lét nhà chị bao giờ cũng tắt khi bầy lợn không còn kêu in ỉn nữa. Chị một mình nuôi lợn nái, gà bầy, một mình cuốc đất, bó lúa, sảy rơm. Chao ôi. Những việc nặng nề kia, ví như việc sửa lại gian bếp lâu năm mối mọt, lẽ ra lực trai như ông làm mới phải. Ông muốn nói với chị ông yêu cả những nếp nhăn mủi lòng bắt đầu gợn lên đuôi mắt chị. Vậy mà ầm ờ mãi ông chẳng nói được gì.

Cả vụ lúa đông xuân, ông theo dõi năm thửa ruộng cộng bằng ba sào của chị. Vụ này không sâu bệnh, mưa thuận gió hòa.
- Ðược mùa rồi đó anh Hải. Mấy năm ni mưa lũ nhiều, huyện đồng bằng nghe nói có nước cuốn trôi cả trăm ngàn tấn. Mình đây lúa má ít ỏi, dăm bảy tạ được mùa cũng đã mừng húm.
- Thím Thư à. Ruộng thím ruộng tôi chập lại bằng một sức người làm. Thím cứ để chuyện gặt hái cho tôi, ở nhà nấu nước lá cho ngon là được.
- Anh Hải hay đùa. Quá nửa đời tôi có chết cũng đã vừa, huống chi đôi ba sào lúa đâu có nặng nhọc mà anh làm lớn chuyện.

Chị tủm tỉm. Tay chị bó lúa chắc và khéo như tay đàn ông. Chân trái bấm xuống ruộng, chân phải đạp hờ lên bó lúa, dây lạt tre mềm mại "kít" một tiếng khe khẽ. Bó lúa gọn thon như lưng chị. Chị xóc lúa cũng khéo. Tay phải nhấc đòn xóc, xoay một vòng, chị đặt mũi xóc đúng vào giữa tâm bó lúa, nhún một cái, mũi xóc găm qua chạm mặt ruộng. Chị hất bó lúa ngược lên, đặt mũi xóc kia vào bó lúa thứ hai, nhún nhẹ. Gánh lúa vụt bẫng lên vai, không rơi một hạt.

Ông Hải chỉ còn biết lắc đầu. Hai bó lúa vàng rộm nhún nhẩy theo bước chân.
Từ xa vẫn thấy đôi gót chân đỏ hồng của chị đạp lên thảm gai trinh nữ, có cả mùi nước lá theo về dưới chân đồi.


Tháng tư 1997
READ MORE - HÀN NGUYỆT